Soạn bài Viết bài làm văn số 6. Nghị luận văn học lớp 12 chi tiết nhất

Soạn bài: Viết bài làm văn số 6. Nghị luận văn học (chi tiết)

Đề số 1 (trang 68 sgk Văn 12 Tập 2):

1. Mở bài: Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận

2. Thân bài: Chứng minh dòng sông truyền thống liên tục chảy trong gia đình Việt:

– Khúc thượng nguồn hiện lên hình ảnh của má, của chú Năm và thấp thoáng hình bóng người cha.

Mẹ là người phụ nữ nông dân kiên cường bất khuất, dám cầm rổ đi đòi lại đầu chồng bị giặc chém. Đó là một hình ảnh đầy ấn tượng, gây xúc động mạnh đến độc giả. Chứng kiến hình ảnh truyền lửa ấy của mẹ, Việt và Chiến cũng sớm được bồi đắp tình yêu nước và khát vọng trả thù giặc.

Chú Năm không trực tiếp cầm súng ra trận để bảo vệ gia đình, bảo vệ quê hương đất nước. Nhưng chú có một cách thức đặc biệt để lưu giữ những truyền thống, những gì tốt đẹp nhất của gia đình cũng như những nối đau mà gia đình phải chịu đựng: đó chính là cuốn sổ gia đình. Thông qua cuốn số ấy, chú ghi lại những nỗi đau gia đình phải chịu, những thành tích của các thành viên trong gia đình. Để Việt và Chiến soi vào đó, sống sao cho xứng đáng.

– Khúc sông sau chính là hình ảnh của Việt và Chiến, tuổi trẻ miền Nam trong những năm chống giặc cứu nước.

Việt và Chiến được bồi đắp tình yêu nước, thương nhà từ mẹ và chú Năm nên đã sớm xin cầm súng ra trận tiêu diệt giặc. Tính cách của hai nhân vật Việt và Chiến vừa có những điểm tương đồng, lại vừa có những điểm khác biệt. Cụ thể như sau:

Những điểm giống nhau:

+ Cả hai đều được bồi đắp, nuôi dưỡng bằng một tình cảm gia đình hết sức sâu nặng.

+ Cả hai chị em đều chung mối thù giết cha, giết mẹ đối với bọn giặc.

+ Tuy đều sớm trưởng thành, nhưng cũng có những lúc rất hồn nhiên, ngây thơ, sống đúng với lứa tuổi.

+ Hai chị em gan dạ, dũng cảm, lập được nhiều thành tích trong việc tiêu giệt kẻ thù.

Những điểm khác biệt:

+ Chiến là nữ nên cũng có những lúc rất dịu dàng, làm dáng. Là chị nên cô cũng tỏ ra đảm đang, tháo vát và trưởng thành sớm hơn em. Dù chỉ hơn Việt có một tuổi nhưng cô người lớn hơn hẳn anh.

+ Nhân vật Việt thì rất hồn nhiên, đúng với lứa tuổi 18 đôi mươi. Khi ra trận thì kiên cường, dũng cảm, không sợ chết nhưng lúc ở nhà thì lại còn tị nhau với chị, và đặc biệt là rất sợ ma.

3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề.

Đề số 2 (trang 68 sgk Văn 12 Tập 2):

1. Mở bài: Dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận.

2. Thân bài:

a. Sông Đà hiện lên với 2 vẻ đẹp hung bạo hùng vĩ và thơ mộng trữ tình:

– Vẻ đẹp hung bạo:

+ So sánh lòng sông Đà như một cái yết hầu, thắt chặt lại ở giữa như không muốn cho bất kì con thuyền nào đi qua.

+ Gió cuồn cuồn quanh năm suốt tháng như đòi nợ một cách vô lí bất kì người lái đò nào vô tình đi qua đó.

+ Nước thì sặc lên như một cái cống cái vậy.

+ Phép điệp từ: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”, mọi thứ như dính chặt lấy nhau cuồn cuộn gầm gào đầy hung bạo, lớp sau nối tiếp lớp trước, đá tiếp sóng, sóng tiếp gió tạo thành những thử thách vô cùng vất vả cho ông lái đò.

+ Biến thác nước như trở thành một con người biết than khóc, trách móc, lúc lại như van xin, như gầm siết,…rất nhiều những cung bậc phức tạp khác nhau của cảm xúc.

+ Phép liên tưởng, tưởng tượng ra một anh quay phim táo bạo, chìm hẳn mình mà máy quay xuống dòng nước dữ để bắt cho kì được những khoảnh khắc kì vĩ nhất của dòng nước sông Đà.

– Vẻ đẹp trữ tình:

+ Nhà văn đưa ra nhiều điểm nhìn để bao quát trọn vẹn cái trữ tình nên thơ của dòng Đà giang:

+ Lúc thì nhìn từ trên cao thấy dòng sông “tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc mây trữ tình”, mềm mại đầy quyến rũ. Nhà văn thấy dòng nước sông Đà biến đổi theo từng mùa, nhưng lúc nào cũng đẹp, cũng nên thơ chứ không nhờ nhờ một thứ màu xanh canh hến.

+ Lúc thì Nguyễn Tuân lại dạo chơi hai bên bờ sông, thấy như lạc về một thời tiền sử xa xôi lắm, thấy lòng mình an yên, thanh tĩnh lạ thường, như gặp được một khoảnh khắc hiếm hoi trong thơ Đường cổ, như được nối tiếp giấc chiêm bao đang dở dang của mình vậy.

+ Nhà văn đi trên thuyền mà thấy cảnh vật lặng yên như tờ vậy, như là một bức tranh thiên nhiên tràn dầy sức sống.

b. Vẻ đẹp của sông Hương:

– Sông Hương vùng thượng lưu hiện lên dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường đầy dữ dội và mãnh liệt.

+ Sông Hương giống như một bản trường ca dữ dội của núi rừng Trường Sơn, với những tiết tấu vô cùng hùng tráng. Trước khi về đến thành phố Huế, sông Hương đã trải qua biết bao ghềnh thác, cuộn xoáy.

+ Giống như một cô gái Digan phóng khoáng đầy man dại. Rừng già đã tôi luyện cho sông Hương có một bản lĩnh đầy vững vàng và một tâm hồn trong sáng, đầy tự do.

+ Nhưng cũng chính núi rừng Trường Sơn đã chế ngự hết những sức mạnh của sông Hương, để khi ra khỏi rừng, nó trở thành một người con gái đầy dịu dàng, là một người mẹ trở theo dòng phù sa đầy dinh dưỡng nuôi sống vùng đồng bằng màu mỡ.

– Sông Hương hiện lên theo một cách mới đầy khác lạ khi chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố.

+ Sông Hương đã trở nên đầy dịu dàng, trở thành một người mẹ mang theo nguồn phù sa màu mỡ để nuôi sống cư dân hai bên bờ sông.

+ Sông Hương liên tục thay đổi dòng chảy, lúc thì uốn cong về phía này, lúc lại đột ngột bẻ ngoặt sang phía khác, như những dải lụa thật mềm mại, như những chiếc uốn cung rất nhẹ nhàng. Điều này càng khiến cho dòng sông trở nên dịu dàng, đầy thu hút.

+ Sông Hương như một người con gái đỏm dáng, điệu đà, liên tục khoác lên mình những bộ đồ khác nhau, tùy theo thời tiết mây trời. Lúc thì mặt nước trở nên xanh thắm, lúc lại phản quang những màu sắc rực rỡ khác nhau của nền trời ngoại ô thành phố. Sáng thì xanh, trưa chuyển sang vàng, tối lại một màu tím thẫm mơ mộng. Nhà văn đã có cái nhìn đầy tinh tế mới có thể khám phá ra được bước chuyển màu đầy thú vị của dòng sông ấy.

– Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế lại mang một màu sắc đặc trưng mới:

+ Vẫn là những cử chỉ hết mực nhẹ nhàng, và đồng thời tươi vui hẳn lên khi được gặp lại thành phố thơ mộng, như được gặp lại một người tình thủy chung của mình.

+ Tác giả còn so sánh với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới để thấy rằng, ở mỗi vùng đất địa linh, đều gắn bó với một con sông. Con sông chảy qua lòng thành phố, đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng vào sự phát triển chung của thành phố ấy. Và con sông Hương cũng vậy.

3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề

Đề số 3 (trang 68 sgk Văn 12 Tập 2):

Viết về truyện ngắn Làng của Kim Lân.

Mở bài

Văn học là một người thư kí trung thành ghi lại chân thực bộ mặt đời sống xã hội. Tuy nhiên một tác phẩm văn học muốn được lưu giữ mãi trong lòng bạn đọc thì nó không chỉ phản ánh hiện thực mà nó còn là sự khám phá, tìm tòi, những am hiểu, cách nhìn mới của tác giả với đời với con người, qua đó nhằm hướng con người tới các giá trị tốt đẹp. Khi đọc truyện ngắn Làng ta cũng sẽ cảm nhận được những điều mới mẻ, những lời nhắn nhủ mà Kim Lân muốn đem góp vào đời sống.

Thân bài

a) Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã thể hiện được những điều hoàn toàn mới mẻ với những lời nhắn nhủ riêng của nhà văn trên cơ sở những vật liệu mượn được ở thực tại:

– Giới thiệu tác giả: Kim Lân là nhà văn xuất sắc của văn học hiện đại với sở trường về truyện ngắn. Đề tài chủ yếu của ông là viết về những người nông dân và những sinh hoạt làng quê. Những nhà văn cùng thời rất nhiều người đã hướng bút vào mảng đề tài này nhưng Kim Lân lại chọn cách viết riêng. Ông chuyên viết về những phong tục văn hóa cổ truyền, những điều dung dị mộc mạc chân chất của người dân quê. Tác phẩm của ông mang đậm hơi thở của đồng nội.

– Tác phẩm Làng : được sáng tác năm 1948, trong thời kì đầu gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp. Làng là một tác phẩm có cốt chuyện tâm lí bởi chuyện chỉ xoay quanh diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai – 1 người nông dân rất đỗi yêu làng tự hào về làng nhưng lại được tin làng theo giặc làm Việt gian. Đặt nhân vật vào tình huống căng thẳng, có tính chất thử thách đó nhà văn đã làm nổi bật những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời chống Pháp. Như vậy, với truyện ngắn này, Kim Lân đã mượn nhiều những vật liệu ở thực tại, và vật liệu đó chính là hiện thực của cuộc kháng chiến chống Pháp và đời sống tình cảm của những người nông dân trong kháng chiến.

– Không chỉ vậy, nhà văn còn phát hiện ra những điều mới mẻ trong tâm hồn của người nông dân sau cách mạng tháng 8. Tình yêu làng quê hòa quyện với tình yêu đất nước và tinh thần kháng chiến. Tình cảm ấy được nhà văn gửi gắm qua hình tượng ông Hai.

* Tình yêu làng của ông Hai ở nơi tản cư

  +) Điều đầu tiên ta cảm nhận được ở ông Hai là tình yêu làng xóm yêu quê hương tha thiết, nó gắn bó như máu thịt, như một phần cuộc sống của ông. Tác giả đã để ông hai bộc lộ tình cảm đó một cách nồng nhiệt, rất riêng mà cũng rất giống với những người dân lao đọng Việt Nam vốn sống với làng xóm, quê hương từ thuở tấm bé. Xong tình yêu làng của ông Hai không cổ hủ mà đã có những chuyển biến mới theo dòng chảy của thời đại. Sự đổi mới cũng rất hợp lí, đúng như sự rung động trong trái tim ông.

  +) Nếu như trước CMT8 ông thường khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc làng thì đến khi có ánh sáng Cm soi rọi ông lại thấy căm thù cái sinh phần đó. Ông khoe về sự giàu có của làng mình với những chòi phát thanh cao, với những con đường lát toàn đá xanh mà trời mưa bùn không dính đến gót chân. tình yêu làng đã khắc sâu trong trái tim ông trở thành một mối tình nóng bỏng, vì thế ông không muốn rời khỏi làng, nhưng vì nghe theo lời Cm, lời BH mà ông đã phải đi tản cư.

  +) Ở nơi tản cư, ông không nguôi nhớ về làng của mình. Ngày nào ông không nghe về làng là ông ăn không ngon ngủ không yên. Một khi kể chuyện về làng ông lại vui vẻ hoạt bát hẳn lên. Ông hồi tưởng về những ngày cùng anh em đào đường đắp ụ, ông băn khoăn về những công việc còn đang dở dang ở làng. Có lẽ tình yêu làng của ông Hai đã hòa cùng tình yêu kháng chiến, tinh thần kháng chiến. Tình cảm ấy đã gắn sâu vào tâm hồn, máu thịt của ông. Ở nơi tản cư ông cùng gia đình vẫn chăm chỉ làm ăn, nhưng ông còn một thú vui khác là thường xuyên đến phòng thông tin để nghe ngóng nắm bắt tình hình, tin tức của quân ta.

=> Đây chính là sự mới mẻ trong những chuyển biến tình cảm của người nông dân, trong sự phát hiện tìm tòi của nhà văn Kim Lân.

* Khi nghe tin làng theo giặc

   +) Cuộc sống của Ông Hai sẽ cứ thế yên ả trôi đi nếu như ông không nghe được tin dữ: Làng mình theo giặc, đó là vào một buổi trưa như mọi ngày, sau khi ở phòng thông tin bước ra, ông rất phấn khởi vui mừng: ” Ruột gan ông lão cứ múa cả lên” vì những tin chiến thắng từ khắp mọi miền của Tổ Quốc. Bỗng nhiên ông nhận được tin làng mình theo giặc.

   +) Bao đau đớn tủi nhục ê chề làm cho cổ ông nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Chỉ bằng 1 chi tiết nhỏ Kim Lân đã diễn tả thành công nỗi đau sững sờ, choáng váng trong tâm hồn ông Hai. Nếu lúc “quay phắt lại” Để hơn những người tản cư ông hy vọng bao nhiêu thì khi biết tin đó là 9 giờ ông lại hụt hẫng bấy nhiêu. Trước cái tin sét đánh đó ông đã nghẹ ngào không nói nên lời. Ông xấu hổ tủi nhục đến mức không giám cho người tản cư biết mình là người làng Chợ dầu và ông đã bỏ làng đi nơi khác. Bên tai ông vẫn nghe rõ “Cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú”: “Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó đói khổ ăn cắp, ăn chộm người ta còn thương, cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”. Chi tiết này đã thể hiện tài năng miêu tả tâm lý nhân vật bậc thầy của Kim Lân từng gắn bó cuộc sống nông thôn, am hiểu sâu sắc về người nông dân cho nên hơn ai hết Kim Lân đã thấu hiểu rõ những tâm tư, suy nghĩ của họ để rồi thể hiện thành công ở nhân vật Ông Hai. Từ chỗ yêu con đường làng , yêu những mái nhà ngói, tình cảm của ông Hai đã tiến dần lên thành tình yêu kháng chiến yêu đất nước. Vì yêu nước nên khi nghe tin làng theo giặc ông đã đau đớn tủi nhục đén mức cúi gằm mặt xuống đất mà đi, không dám ngẩng đầu lên nhìn ai.

   +) Rồi về đến nhà ông nằm vật ra giường, nhìn con nước mắt ông lão cứ trào ra, ông thương con thương thân mình vì đều là người làng chợ Dầu. Dù rất thương con nhưng ông đành bất lực. Ông rít lên chửi cái bọn ở làng nhưng vẫn ngờ rằng lời mình không được đúng lắm, rằng mình không nên tin vào cái lời đồn kia. Nhưng cứ nghĩ đến người đàn bà đi tản cư ông lại thấy tủi nhục ê chề, bao tâm trạng đan xen giằng xé đang bốc lên ngùn ngụt. Suốt ngày hôm đó, ông sống trong không khí ẩm đạm nặng nề và lo sợ.

    +) Luôn mấy ngày sau đó ông không ra khỏi nhà, lúc nào cũng lo lắng khổ đau, chỉ sợ mụ chủ nhà biết chuyện sẽ đuổi gia đình ông đi. Thoáng nghe: tây, việt gian hay những tiếng cười nói từ xa vọng lại ông lại lủi ra một góc nhà nín thít và thầm nghĩ: “thôi lại chuyện ấy rồi”. Kim Lân đã miêu tả rất tinh tế nỗi ám ảnh thường trực đè nặng trong tâm hồn ông Hai, điều đó đủ cho thấy tình yêu làng của ông Hai hòa quyện trong tình yêu nước yêu kháng chiến đến mức độ nào.

    +) Khi mụ chủ nhà lên tiếng đuổi khéo, tâm trạng của ông Hai càng u ám, năng nề, rơi vào bế tắc tuyệt vọng. Trong ông diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt: Không về làng thì biết đi đâu, nhưng nếu về làng nghĩa là bỏ kháng chiến bỏ cụ Hồ, cam chịu kiếp nô lệ. giữa lúc bế tắc ông chỉ còn biết trò chuyện giải tỏa cùng đứa con út. Nói với con cũng chính là ông tự giãi bày, tự minh oan cho chính mình. Đó là lời khẳng định sự thủy chung gắn bó của ông Hai với cụ Hồ với cách mạng. Tuy đau khổ đén tột cùng, tuyệt vọng hết mức tưởng như rơi vào bế tắc nhưng ông hai vẫn hướng về Cm tin vào kháng chiến, tin vào Bác Hồ. Tấm lòng của ông chính là tấm lòng của người nông dân VN thời chống Pháp. Tình yêu nước đã bao trùm lên tình yêu làng quê. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng và cảm phục.

* Khi nghe tin làng cải chính

  Nếu truyện ngắn Làng thắt lại bằng tình huống khi nghe tin làng theo giặc thì lại mở ra bằng chi tiết ông nhận được tin cải chính. Hóa ra cái tin làng chợ Dầu của ông theo giặc chỉ là tin đồn. Nhận được tin này cái mặt buồn thiu mọi ngày lại trở nên tươi vui rạng rỡ hẳn lên. Ông không quên mua quà cho các con rồi lại hối hả, lật đật chạy đi khoe khắp nơi. Ông Hai yêu nước đến xúc động, nhà bị đốt vẫn sung sướng vẫn múa tay lên khoe vì ông hiểu rằng như vậy là ông đã cống hiến cho quê hương, cho đất nước. Nếu lúc trước ông sụp đổ tinh thần ghê gớm thì bây giờ ông lại có niềm tin và hi vọng.

 => Như vậy ông Hai là một hình ảnh mới, đại diện cho người nông dân Việt Nam sau cách mạng tháng Tám. Dù rơi vào tột cùng đau khổ nhưng ông vẫn có niềm tin để sống, đó là niềm tin vào làng, vào cách mạng, và lòng tin kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi; lúc đó ông sẽ là người tự do, được sống trong một xã hội bình đẳng, bác ái. Đây thực sự là một sự thay đổi rất lớn so với những người nông dân trước cách mạng, mà một ví du cụ thể là hình ảnh lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao. Lão sống một cuộc đời đau khổ, bất hạnh, chỉ có cái chết đầy đau đớn dữ dội bằng bả chó mới là sự giải thoát duy nhất cho lão. Chết là hết, là không còn chịu sự kìm kẹp, bóc lột của xã hội phong kiến nửa thuộc địa. Đó là cuộc đời chung của người nông dân khi chưa có ánh sáng cách mạng soi đường.

b) Điều mới mẻ của nhà văn Kim Lân còn được thể hiện trong những giá trị về mặt nghệ thuật mà tác phẩm đem lại. Làng có một cốt truyện đơn giản nhưng vẫn đủ sức hấp dẫn người đọc bởi nhà văn đã rất thành công trong việc xây dựng tình huống độc đáo kết hợp nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế. Tâm trạng nhân vật ông Hai được miêu tả tỉ mỉ có diễn biến, quá trình biểu hiện qua suy nghĩ cử chỉ thái độ lời nói khi trầm xuống lắng động với suy tư dằn vặt, day dứt, khổ đau đến tận cùng; khi thì ồn ào trong niềm vui sướng hạnh phúc đến tột bậc. Vì vậy ông Hai hiện lên chân thực giản dị, sống động, có chiều sâu và trở thành hình ảnh tiêu biểu của người nông dân Việt nam trong kháng chiến chống Pháp với tình yêu quê hương, đát nước tha thiết.

c) Thông qua truyện ngắn Làng, nhà văn Kim lân muốn gửi gắm đến bạn đọc tình yêu làng quê vốn là tình cảm truyền thống của người nông dân Việt Nam nhưng chỉ ở người nông dân sau cách mạng tình yêu làng mới hòa quyện sâu sắc với tình yêu nước. Họ có niềm tin vào lãnh tụ, có tinh thần ủng hộ kháng chiến.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *