Soạn bài Tự tình – Hồ Xuân Hương lớp 11 chi tiết nhất

Hướng dẫn soạn bài Tự tình để cảm nhận được số phận đầy bi kịch, bất hạnh của những người phụ nữ trong kiếp làm lẽ; qua đó làm nổi bật lên niềm khát khao cháy bỏng được yêu thương, được sống trong niềm hạnh phúc giản đơn

Khái quát bài thơ Tự tình – Hồ Xuân Hương

Soạn văn 11: Tự tình - Hồ Xuân Hương | Ngữ văn 11 chi tiết nhất

Soạn bài: Tự tình – Hồ Xuân Hương

Câu 1 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Bốn câu thơ đầu cho thấy hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả.

Hoàn cảnh:

Tác giả đang tự tình giữa đêm khuya tĩnh lặng, đối với những ai quá lứa lỡ thì hay thân phận lẽ mọn đó là thời khắc của những trăn trở thổn thức, là không gian ngập tràn cô đơn, trống trải, hoang mang đến quặn lòng.

Âm thanh là một chất xúc tác mạnh mẽ hơn hết cho con người giữa đêm khuya đầy trăn trở, tiếng trống canh dồn gợi lên bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời của tâm trạng. Cảnh như tình, “trơ” mãi, mà còn “trơ” với nước non: Trơ cái hồng nhan với nước non. Trơ là lẻ loi trơ trọi, là tủi hổ, bẽ bàng, cái phận hồng nhan thấy mà buồn. Hai câu thơ đầu là nỗi niềm tủi hổ, đắng cay, chua xót, bẽ bàng với thân phận kẻ hồng nhan bạc phận.

Tâm trạng:

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh. Tác giả muốn mượn rượu giải sầu quên đi nỗi buồn, sự cô đơn nhưng nữ sĩ cứ luẩn quẩn giữa tỉnh và say trong tâm trạng buồn tủi, chua xót, bế tắc. Người ta muốn uống rượu để say, say để quên buồn, nhưng càng say lại càng tỉnh, một vòng luẩn quẩn không lối thoát, xót xa biết bao. Hình ảnh tả thực vầng trăng đã đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, một vầng trăng “bi kịch” vì đã “khuyết chưa tròn”, xót làm sao, tuổi xuân sắp trôi qua bình lặng, cuộc đời sắp xế bóng mà tình yêu còn dang dở, hạnh phúc chưa một lần trọn vẹn viên mãn. Cùng với phép ẩn dụ, nghệ thuật đối tài tình làm nổi rõ bi kịch về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc mà không đạt được.

Câu 2 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Hai câu 5 và 6 chứa đựng cả nỗi niềm phẫn uất trào ra ùa vào cảnh vật, tiếp cho chúng sức mạnh công phá. Rêu vốn nhỏ bé mềm yếu không chịu thua số phận bé nhỏ, hèn mọn nay trở nên gai cứng sắc nhọn, xiên ngang mặt đất để trồi lên; mấy hòn đá đã rắn chắc nay phải chắc hơn, nhọn hoắt như chông như mác đâm toạc chân mây. Một cách mạnh mẽ, rêu và đá như muốn xé toang trời đất để oán hờn, phản đối, đó khác nào cơn thịnh nộ của người tự tình. Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ đặc sắc, sử dụng động từ mạnh, tả cảnh ngụ tình, câu thơ đã khẳng định mạnh mẽ sự nổi loạn trong tâm trạng thi sĩ: thái độ phản kháng dữ dội quyết liệt của nữ sĩ với cuộc đời, số phận, xã hội; đó cũng là lời khẳng định cho bản lĩnh tự tin của Hồ Xuân Hương, dù trong hoàn cảnh bi thảm nhất, câu thơ vẫn ẩn chứa sức sống, khát khao mạnh mẽ.

Câu 3 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Hai câu kết đúc vừa vặn cái nỗi lòng chán chường, buồn tủi của người vợ lẽ, Hồ Xuân Hương đã tài tình kết hợp các từ đa nghĩa, đồng âm. Từ xuân vừa có nghĩa là mùa xuân thiên nhiên, lại vừa là tuổi xuân tươi tắn người thiếu nữ. Với thiên nhiên rộng lớn, xuân đi rồi xuân lại. Với con người bé nhỏ, xuân đi là đi mãi. Cùng với đó, từ lại thứ nhất mang nghĩa là thêm một lần nữa, từ lại thứ hai là sự trở lại tuần hoàn, mạnh mẽ góp thêm vào việc khẳng định mùa xuân tuổi trẻ của con người trôi đi trong ngao ngán chán chường trước dòng chảy vô tình của thời gian.

– Mỗi chữ trong câu cuối đều nói về sự sẻ chia không trọn vẹn, sự ít ỏi như chan chứa nước mắt của thân phận lẽ mọn: Mảnh tình san sẻ tí con con. Mảnh tình vốn đã bé và mỏng mảnh một “mảnh”, nay lại càng bé nhỏ hơn khi phải “san sẻ” đến mức “tí con con”, vậy còn lại gì cho người bao dung chia sẻ kia, còn lại gì cái tình mỏng mảnh vắt ngang bé ẹo. Mức độ “tí con con” càng nhỏ thì tí cô đơn, tí buồn tủi lại nhân lên gấp bội.

Bài thơ kết lại như cái chua chát buồn tủi của sự bế tắc tuyệt vọng, cả một nỗi lòng người phụ nữ chịu cảnh chồng chung.

Câu 4 (trang 19 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Bi kịch trong bài thơ là bi kịch tuổi xuân héo mòn, bi kịch duyên phận lỡ làng khi ràng buộc một hồng nhan phải chịu cảnh chồng chung. Những hình ảnh đối cứ ngâm mãi: Cái hồng nhan >< nước non  đơn độc; Đêm khuya >< trơ cái hồng nhan  một mình; chi tiết: đưa say lại tỉnh; trăng bóng xế khuyết chưa tròn hay xuân đi xuân lại lại, mảnh tình san sẻ tí con con chính là nỗi lòng mấy ai thấu mà tác giả giãi bày. Tác giả đau buồn, phẫn uất trước duyên phận hẩm hiu, cái duyên phận có lỡ làng, có buồn thương khi phải chia sẻ tình yêu thiêng liêng

– Khát vọng sống thể hiện mạnh mẽ qua 2 câu luận. Rơi vào hoàn cảnh ấy, trước sự trớ trêu của số phận, nhiều người phụ nữ sẽ khó tránh khỏi sự bế tắc, tuyệt vọng mà buông xuôi theo hoàn cảnh nhưng Hồ Xuân Hương vẫn luôn khát khao hạnh phúc, gồng mình lên để chống lại sự nghiệt ngã của số phận. Sự phản kháng ấy tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm.

Luyện tập

Hai bài thơ Tự tình I và Tự tình II của Hồ Xuân Hương có điểm giống mà cũng có điểm khác. Giống nhau ở việc sử dụng thơ Nôm đường luật, mượn cảm thức về thời gian để thể hiện tâm trạng buồn tủi, xót xa và phẫn uất trước cảnh duyên phận hẩm hiu; cả hai bài đều là lời tự bạch, tự trải lòng mình của Hồ Xuân Hương. Nhưng khác ở chỗ Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên của chính bản thân, thách đố lại duyên phận. Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch, bởi thế bi kịch như được nhân lên, phẫn uất hơn. Sự khác nhau đó chủ yếu phụ thuộc vào cảm xúc nhà thơ.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *