Soạn bài Ôn tập phần Văn học – Kì 1 lớp 12 chi tiết nhất

Soạn bài: Ôn tập phần Văn học – Kì 1 (chi tiết)

Câu 1 (trang 214 sgk Văn 12 Tập 1):

– Văn học Việt Nam từ 1945 – 1975 phát triển qua 3 chặng:

   + Từ năm 1945 – 1954

   + Từ năm 1955 – 1964

   + Từ năm 1965 – 1975

– Những thành tựu chủ yếu:

   + Chặng 1: 1945 – 1954

          Văn học chủ yếu ca ngợi tổ quốc và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tâm gương vì nước quên mình. Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Truyện ngắn và kí: có những tác phẩm tiêu biểu: kí sự Một lần tới Thủ đô, Trận phố ràng của Trần Đăng; truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương.

Thơ: những tác phẩm xuất sắc của thơ kháng chiến là Cảnh khuya, Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh, Đèo cả của Hữu Loan, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Đồng chí của Chính Hữu, Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông và đặc biệt là tập Việt Bắc của Tố Hữu.

Kịch: Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi.

Lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học: từ năm 1945 đến năm 1954 chưa phát triển nhưng đã có một vài tác phẩm có ý nghĩa quan trọng: Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của Trường Chinh, tiểu luận Nói chuyện thơ kháng chiến và Quyền sống của con người trong “Truyện Kiều” của Hoài Thanh,…

   + Chặng 2: 1955 – 1964

          Văn học thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi những đổi thay của đất nước và con người trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, văn học còn thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt, nói lên nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước.

* Văn xuôi: mở rộng đề tài, bao quát được nhiều vấn đề của hiện thực đời sống: Mùa lạc của Nguyễn Khải, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai,… Một số truyện ngắn như Vợ nhặt của Kim Lân, Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan hay các tiểu thuyết Vỡ Bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng cũng thể hiện được hiện thực đời sống trước Cách mạng với cái nhìn mới và sức khái quát mới.

* Thơ: phát triển mạnh mẽ với các tác phẩm như Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu, Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông.

* Kịch: cũng có 1 số tác phẩm được dư luận chú ý như Một đảng viên của Học Phi, Ngọn lửa của Nguyễn Vũ, Chị Nhàn và Gió lùa của Đào Hồng Cầm.

   + Chặng 3: 1965 – 1975

          Văn học chủ yếu viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ, ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

* Văn xuôi: phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động với các tác phẩm như Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu,…

* Thơ: đạt nhiều thành tựu xuất sắc: Tập thơ Máu và hoa, Ra trận của Tố Hữu, và thế hệ các nhà thơ trẻ như Nguyễn Khoa Điềm với Đất nước, Xuân Quỳnh với Gió lào cát trắng,…

* Kịch: cũng có những thành tựu đáng ghi nhận như Quê hương Việt Nam và Thời tiết ngày mai của Xuân Trịnh, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cầm,…

* Nghiên cứu, phê bình văn học: có những tác giả nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lê Đình Kỵ.

Câu 2 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

Những đặc điểm cơ bản của văn học từ 1945- 1975 là:

– Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

          + Nền văn học được kiến tạo theo mô hình: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh), nhà văn là chiến sĩ.

          + Đề tài phản ánh: đề tài tổ quốc và đề tài chủ nghĩa xã hội.

          + Nhân vật trung tâm: những chiến sĩ trên mặt trận vũ trang, dân quân du kích, thanh niên xung phong.

          + Tác phẩm tiêu biểu: tác phẩm của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Giang Nam, Than Hải, Thu Bồn,…

– Nền văn học hướng về đại chúng

          + Thể hiện cái nhìn mới của người sáng tác về nhân dân: lấy nhân dân làm tối tượng để hướng tới đồng thời cũng là nguồn gốc bổ sung lực lượng sáng tác văn học.

          + Nội dung: quan tâm đến đời sống nhân dân lao động, phản ảnh những số phận bất hạnh trong xã hội cũ, niềm vui sướng tự hào về cuộc đời mới.

– Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

* Khuynh hướng sử thi

          + Đề tài: đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa lịch sử gắn bó với số phận chung của dân tộc.

          + Nhân vật trung tâm tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng.

          + Giọng điệu ngợi ca, trang trọng, tráng lệ, hào hùng.

          + Không gian, thời gian trong sử thi là rộng lớn.

* Cảm hứng lãng mạn

          + Khẳng định lý tưởng của cuộc sống mới, vẻ đẹp của con người mới.

          + Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước.

Câu 3 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

– Hồ Chí Minh coi văn học là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự sự nghiệp cách mạng. Nhà văn cũng phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận.

– Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc trong văn học. Bác cũng đề cao sự sáng tạo của người nghệ sĩ, Người nhắc nhở “chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo…”

– Khi cầm bút, Bác luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận  để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Người luôn tự đặt câu hỏi: mục đích (Viết để làm gì?), đối tượng (Viết cho ai?), nội dung (Viết cái gì?) và hình thức (Viết như thế nào?)

Câu 4 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

– Tuyên ngôn độc lập là một áng văn nghị luận bởi nó nêu ra những lí lẽ đanh thép, những dẫn chứng thuyết phục, không thể chối cãi.

– Bản tuyên ngôn cũng chứa đựng những tình cảm, tấm lòng yêu nước thiết tha, với khát khao giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Câu 5 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

a. Nói Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị là vì:

Tính trữ tình được thể hiện ở những phương diện như:

+ Trữ tình là đặc trưng của thơ nói chung, thể hiện trong giọng thơ, âm điệu, ngôn từ, hình ảnh, cách ví von, so sánh,…

+ Thơ Tố Hữu chứa chan những tình cảm ấm áp nghĩa tình, những tình cảm tự nhiên mà đầy sâu lắng, xúc động.

Tính chính trị được thể hiện ở những phương diện như:

+ Nội dung chính trong những tác phẩm của Tố Hữu là hướng đến những sự kiện lớn, có ý nghĩa với vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Những tình cảm lớn lao như tình yêu quê hương tổ quốc, tình đồng chí, đồng bào,..

+ Tố Hữu lấy cảm hứng từ chủ đề lịch sử-dân tộc, vì vậy hiếm khi thấy xuất hiện những tình cảm cá nhân, riêng tư trong thơ ông, mà ta thường thấy những tình cảm cộng đồng.

b. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được thể hiện 

– Tố Hữu thường viết về những đề tài lớn, có ý nghĩa với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

– Nhân vật lí tưởng, nhân vật đại diện cho nhân cách, phong cách sống của cả tập thể.

– Giọng điệu vang lên trong thơ Tố Hữu đầy tự hào, hùng tráng.

– Tố Hữu luôn tin vào niềm tin tất thắng của cách mạng Việt Nam, đó chính là tinh thần lạc quan cách mạng.

Câu 6 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

– Ta nhận thấy rõ nét nhất là ở thể thơ lục bát mà Tố Hữu hay sử dụng. Nhà thơ vận dụng tài tình thể thơ truyền thống này của dân tộc để diễn tả những tình cảm mới của thời đại mới. Đọc thơ Tố Hữu ta thấy âm vang những câu ca dao, dân ca, những vần thơ Kiều đầy trìu mến.

– Ngôn ngữ được nhà thơ sử dụng cũng là thứ ngôn ngữ thân quen, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày vì thế cho nên dễ nhớ, dễ thuộc và dễ đi vào lòng người.

– Nhà thơ cũng thường xuyên sử dụng cấu tứ đối đáp quen thuộc trong ca dao xưa, khiến lời thơ như những lời đối đáp đầy dịu dàng, trìu mến.

– Ngoài ra, còn nhiều hình ảnh quen thuộc, gắn liền với đời sống của người dân Việt Nam cũng được Tố Hữu đưa vào thơ của mình.

Câu 7 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

a.

Bài viết là một áng văn nghị luận mẫu mực với 3 phần mở thân kết rõ ràng, logic. Phần mở đầu, tác giả khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của dân tộc, sự nghiệp sáng tác của ông cần phải được đề cao hơn nữa nhất là mảng thơ văn yêu nước. Phần thân bài trình bày những luận điểm chính để chứng minh cho nhận định trên. Và cuối cùng, để nhấn mạnh một lần nữa nội dung đã trình bày, ở phần kết bài, tác giả Khẳng định tầm vóc lớn lao của nhân cách và sự nghiệp của tác giả Nguyễn Đình Chiểu.

Phần nội dung chính của bài (thân bài) lại được chia thành 3 luận điểm chính như sau:

– Luận điểm 1: Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu

– Luận điểm 2: Nội dung thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu

– Luận điểm 3: Tác phẩm “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu

Cách sắp xếp các luận điểm trên nếu ta suy nghĩ thấu đáo, sẽ thấy được rằng nó hoàn toàn hợp lí, giúp cho mạch lập luận trở nên logic và thuyết phục người đọc hơn  rất nhiều. Trước hết cần phải hiểu rằng mục đích của bài viết này bên cạnh việc tưởng nhớ một con người tài hoa của dân tộc, Phạm Văn Đồng còn muốn độc giả có một cái nhìn toàn diện, đúng đắn hơn về sự nghiệp sáng tác của tác giả Nguyễn Đình Chiểu. Từ câu chuyện về quá khứ đó, một điều quan trọng mà vị cố thủ tướng của chúng ta muốn truyền tải đó chính là về hiện tại đất nước, dân tộc Việt Nam. Đặt bài viết trong hoàn cảnh ra đời năm 1963, giữa lúc đất nước chịu cảnh chia cắt, 2 miền đang đồng long đánh giặc Mỹ, thu non sông về một mối, thì những áng thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu thực sự là có ý nghĩa hơn ngàn binh đao. Hiểu thêm về cụ đồ Chiểu, tuổi trẻ Việt Nam hiểu thêm về tình yêu nước, và được tiếp thêm sức mạnh, ý chí cứu nước.

Từ mục đích trên, ta thấy việc sắp xếp các luận điểm như vậy là hoàn toàn hợp lí. Trước hết, chúng ta cần có một cái nhìn khái quát nhất về Nguyễn Đình Chiểu, vì vậy bài viết viết về cuộc đời nhà thơ, về những điều mắt thấy tai nghe, những điều đã ảnh hưởng trự tiếp đến phong cách, đến sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Hoàn cảnh lúc ấy đất nước cũng chìm trong cảnh máu chảy đầu rơi như những năm 1963. Tuy nhiên, Phạm Văn Đồng đặc biệt nhấn mạnh đến sự nhu nhược yếu ớt của triều đình Nguyễn đã dần dần bán nước ta cho giăc Pháp, khiến cho những chí sĩ yêu nước như thầy đồ Chiểu phải đau lòng, viết nên những áng văn thơ kêu gọi lòng yêu nước của người dân nô lệ. Nay (1963), đất nước tuy vẫn còn cảnh chiến tranh, nhưng đã có Đảng dẫn đường, vì thế thanh niên Việt Nam càng cần phải nêu cao tinh thần yêu nước, đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Sau khi đã hiểu thấu đáo cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, người đọc có thể đánh giá và nhận xét những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của ông và ảnh hưởng như thế nào. Phạm Văn Đồng đã trình bày những yếu tố này trong luận điểm thứ 2. Và cuối cùng, hiểu thấu phong cách Nguyễn ĐÌnh Chiểu, người đọc được Phạm Văn Đồng đưa ra một dẫn chứng cụ thể và rõ ràng nhất thông qua tác phẩm rực rỡ nhất sự nghiệp nhà nho là Lục Vân Tiên.

b. Mấy ý nghĩ về thơ:

– Hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, sắc sảo. Tác giả sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận so sánh, phân tích, giải thích, bác bỏ, cách suy luận logic.

– Từ ngữ giàu có, ngôn ngữ chọn lọc, được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo.

– Cách viết có hình ảnh, hình ảnh chân thực, độc đáo, gợi nhiều liên tưởng.

Đô-xtôi-ép-ski

– Chân dung Đô-xtôi-ép-xki:

      + Là một con người sống cuộc đời nghèo khổ, thường chờ đợi trong vô vọng trước cửa ngân hàng.

      + Thường xuyên phải lui tới cửa hiệu cầm đồ, cầm đến những món đồ cuối cùng trên người.

      + Trong khi vợ phải chịu những cơn đau đẻ ông vẫn phải làm việc mà không được ở bên.

      + Căn bệnh động kinh hành hạ ông.

      + Không có tiền để trả cho bà đỡ cũng như chủ nhà.

Từ đó có thể thấy, Đô- xtôi-ép-xki có những nét đặc biệt về tính cách và số phận như sau:

– Số phận:

   + Chịu nhiều nỗi đau khổ về vật chất lẫn tinh thần

   + Từng có thời điểm sống lưu vong, cầm cố, quỳ gối trước nhiều kẻ thấp hèn, tiền nợ.

– Tính cách:

   + Giàu nghị lực: dù số phận vùi dập nhưng ông vẫn không ngừng làm việc và nghĩ về nước Nga.

   + Là người luôn giàu niềm tin, đam mê nghệ thuật, yêu thương con người

Câu 8 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

– Bút pháp trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu là bút pháp hiện thực. Nhà thơ đã khắc họa hình tượng người lính để từ đó làm nổi bật tình cảm đồng chí, đúng như nhan đề của bài thơ vậy.

Tình đồng chí được thể hiện thông qua những khía cạnh như: Có cùng xuất thân từ những người lính nông dân chân chất, thật thà, từ bỏ cuộc sống cái cày cái cuốc cầm lên cây súng bảo vệ quê hương. Họ cùng trải qua những khó khăn thiếu thốn, vất vả của cuộc chiến, cùng chia sẻ với nhau từng khó khăn, gian khổ,… Chính vì thế họ đã trở thành đồng chí của nhau.

Nhà thơ Chính Hữu triển khai bài thơ với những nét vẽ đậm màu hiện thực khốc liệt, về sự nghèo đói của quê hương, về sự thiếu thốn trang thiết bị vật chất, về những cơn sốt rét rừng mà người lính phải chịu đựng.

– Còn Quang Dũng lại sử dụng bút pháp lãng mạn để viết nên tác phẩm của mình.

Cảm hứng lãng mạn đã chi phối cách nhìn của Quang Dũng, nó khiến nhà thơ viết nên những vần thơ đầy hào hùng mà cũng rất mực tài hoa.

Người lính tây tiến hiện lên trong tác phẩm với những dấu ấn nổi bật sau:

– Họ đều là những người con của thủ đô, là những ngưởi trẻ tuổi còn đang ngôi trên giảng đường đại học, nên cuộc chiến đối với họ còn mang đầy màu hồng của những ước mơ và lí tưởng.

– Người lính mang vẻ đẹp bi tráng, với những khó khăn gian lao vất vả mà họ phải chịu đựng trên bước đường hành quân. Thiên nhiên tây bắc càng khắc nghiệt càng làm nổi bật thêm vẻ đẹp bi tráng của những người lính. Tuy khó khăn vất vả, nhưng người lính không một lần từ bỏ, sẵn sàng đối diện với hiểm nguy, chết choc.

– Người lính tây tiến cũng mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa. Những người lính lúc nào cũng bồi hồi nỗi nhớ quê hương, luôn khát khao chiến thắng để có thể trở về thủ đô yêu dấu.

Câu 9 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

– Giống nhau: Đều thể hiện trực tiếp tình yêu nước nồng nàn.

– Khác biệt:

+ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm nổi lên với hình tượng trung tâm đất nước của nhân dân. Tư tưởng này đã đem đến những phát hiện sâu và mới của tác giả về địa lí, lịch sử, văn hóa của đất nước ta, cụ thế như sau:

Nhân dân ta chính là chủ thể làm nên địa lí của đất nước:

Mỗi một địa danh, một vùng đất trên đất nước này đều lưu giữ những nét đẹp, những dấu ấn của người dân đất Việt, đó là: đất tổ Hùng Vương, là Hạ Long, là đền Ông Đốc, Ông Trang,…

Những vùng đất không tên khi gắn liền với cuộc sống con người, gắn liền với bàn tay lao động tài hoa của cha ông ta, đã trở thành những thắng cảnh nổi tiếng.

Lịch sử kéo dài mấy ngàn năm của dân tộc cũng là do nhân dân ta góp máu xương mà thành. 4000 lớp người tuy không tên không tuổi, tuy chẳng được ai nhớ mặt gọi tên, nhưng chính họ là những người đã làm ra đất nước/

Không chỉ lịch sử, địa lí mà nhân dân còn lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc. Nhân dân ta truyển từ đời này sang đời khác không chỉ những giá trị vật chất, mà còn cả những giá trị tinh thần. Lớp cha đi trước, lớp con sau, từng người, từng thế hệ lưu giữ những nét đẹp của dân tộc, lưu giữ từ lời ăn tiếng nói, cách lao động, làm việc, cách sống sao cho đúng nghĩa, đúng tình,..

Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện ra, đất nước không thể được tạo thành từ một vị anh hùng duy nhất, đất nước không phải là sản phẩm của một nhóm nhỏ người nắm quyền, mà đất nước chính là của nhân dân, do nhân dân mà thành. Tư tưởng này vừa mới lạ so với văn học trung đại trước kia vốn đề cao đạo nghĩa vua tôi, tôn sùng người đứng đầu đến mức mù quàng, lại vừa phù hợp với tinh thần mới của dòng chảy văn học và thời đại, phù hợp với tinh thần cách mạng.

+ Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại thể hiện trực tiếp một đất nước trong đau thương chiến đấu và rũ bùn đứng dậy chói lòa. Tác giả đã sử dụng những từ ngữ giàu sức gợi để nhắc nhở mỗi chúng ta về cái giá của hòa bình ngày hôm nay đó chính là “những cánh đồng quê chảy máu”, là “bát cơm chan đầy nước mắt”,…là rất nhiều những đau thương mất mát mà biết bao thế hệ đã phải đánh đổi.

Đất nước từ trong đau thương, bằng một sức mạnh quật cường đã vươn lên đầy hùng tráng. Đó chính là vẻ đẹp của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam.

Nguyên nhân của sự khác biệt:

+ Do hoàn cảnh sáng tác của 2 bài thơ là khác nhau.

+ Do phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ cũng là khác nhau.

Câu 10 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

Bao trùm cả bài thơ là hình tượng sóng. Đây là một hình tượng đa nghĩa, mỗi đặc tính khác nhau của sóng lại tượng trưng cho những phẩm chất khác nhau của “em” và chuyện tình của “em”.

Trước hết, sóng  tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn của người con gái khi yêu. Đó là vẻ đẹp mang nhiều sắc thái, nhiều tầng bậc, nếu không cố công khám phá thì sẽ không thể cảm nhận hết được. Tâm trạng người con gái khi yêu luôn mang 2 thái cực trái ngược nhau, lúc thì rất dữ dội, ồn ào nhưng nhiều khi lại vô cùng dịu êm và lặng lẽ. Dữ dội và ồn ào là cách thể hiện ra bề ngoài, là cách mà người ta có thể dễ dàng nhìn thấy, giống như những con sóng ở trên mặt nước. Còn dịu êm và lặng lẽ lại xuất hiện sau, là nét tính cách ẩn sâu, không biểu lộ rõ ràng ra ngoài mà để người yêu “em” tự mình khám phá, tìm hiểu. Em khiến cho người ta có ấn tượng đầu rằng rất sôi nổi, ồn ã, nhưng một khi đã tiếp xúc đủ lâu với em, đã có thể sẻ chia, thấu hiểu em, thì mới biết rằng em thật dịu dàng và lặng lẽ, rất nữ tính, dễ tổn thương, và rất cần được yêu thương trân trọng. Như vậy, nét tính cách dịu êm lặng lẽ không xuất hiện đầu tiên, nhưng lại là nét tính cách quan trọng, làm nên con người em, khiến người ta nhớ về em.

Không chỉ vậy, sóng còn tượng trưng cho khát vọng kiếm tìm hạnh phúc trong tình yêu của người con gái. Lúc nào em cũng khao khát có được một tình yêu chân thành, cho nên không ngại khó ngại khổ, em sẵ sàng hi sinh, dâng hiến mình trong tình yêu: “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể” Mình ở đây là ai? Mình vừa có thể là chính bản thân sông, nhưng đồng thời cũng có thế là sóng. Như vậy, sông và sóng song hành đồng hiện, tuy hai mà một. Đã có sự gắn bó đến mức nhập làm một như thế, nhưng khát khao được thấu hiểu, sẻ chia của em trong tình yêu vẫn chưa hề được thỏa mãn, vẫn có những lúc em cảm thấy thật cô đơn trong chính cuộc tình của mình. Bởi vậy, dù tình có thật đẹp, dù người tình đã gắn bó hai nửa thành một, nhưng vẫn có thể xuất hiện những lúc không tìm được tiếng nói chung, và chia xa cách trở là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Dường như trên đời này không có gì vững vàng hơn tình yêu và cũng chả có gì mỏng mảnh hơn tình yêu ấy vậy.

Muốn có được một tình yêu tròn đầy, không thể không thấu hiểu về nó, và bởi vậy, em quyết tâm đi kiếm tìm nguồn gốc của tình yêu. Từ nguồn gốc của những con sóng, Xuân Quỳnh lí giải nguồn gốc tình yêu của muôn đời. Sóng bắt đầu từ gió, còn gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa, tương tự như chuyện tình của chúng mình bắt đầu từ khi nào, em chẳng thể tìm được về ngọn nguồn. Làm gì có ai nói trước được chuyện tình sẽ đi về đâu. Nào có ai ngờ uống nhầm một ánh mắt, cơn say sẽ theo cả đời. Em làm gì có biết mình yêu nhau từ bao giờ, dường như từ xa xưa như biển ngàn năm nay vẫn vỗ sóng, nhưng cũng dường như chuyện mới từ hôm qua vậy. Em và anh từ những kẻ xa lạ, làm thế nào lại trở nên thân thiết mà gắn bó đời nhau vào dường như không còn là chuyện quá quan trọng. Chuyện quan trọng là dù đến với nhau như thế nào, dù trước đây anh và em có là ai đi chăng nữa, thì từ nay, từ ngày mà em – anh chung đôi, chuyện quan trọng nhất chính là luôn yêu nhau và trân trọng nhau.

Và biểu hiện quan trọng nhất của tình yêu và sự trân trọng chính là nỗi nhớ. Nỗi nhớ khiến gần mà trở nên xa, khiến xa lại như về gần. Giống như những con sóng ngày đêm nhớ bờ mà dào dạt vỗ suốt cả ngàn năm nay, lòng em chẳng lúc nào thôi nhớ đến anh, đến cả trong lúc mơ vẫn mơ về một bóng dáng quen thuộc. Dường như đến bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh đã chọn một biểu tượng mới, mang tính hiện đại cho hình tượng người phụ nữ. Trong văn học truyền thống Việt Nam, người phụ nữ thường được so sánh với “bến”, với sự chờ đợi và thụ động, còn người đàn ông lại được so sánh với những hình ảnh đầy chủ động như “thuyền”, như “khách bộ hành”,…Dường như có một suy nghĩ cố định trong tâm tưởng người dân Việt Nam bao nhiêu thế hệ nay là trâu phải đi tìm cọc, chứ cọc nào lại đi tìm trâu. Thế nhưng trong bài thơ này, Xuân Quỳnh đã khiến người phụ nữ trở nên chủ động hơn rất nhiều, và ngược lại người đàn ông đầy thụ động trong chuyện tình. Bởi vì sóng nhớ bờ nên sóng chủ động vỗ, bởi vì em nhớ anh nên em chủ động kiếm tìm, khát khao được gặp anh, bởi vì em mong muốn có được hạnh phúc cho nên em chủ động lên đường tìm kiếm.

Sự chủ động, khát khao kiếm tìm tình yêu đích thực của em còn ngân lên một mức cao hơn nữa thông qua hình tượng sóng ở cuối bài thơ. Em muốn được tan ra thành hàng ngàn, hàng vạn con sóng để có thể dâng hiến trọn vẹn cho tình yêu, đó chính là khát khao được bất tử hóa thứ tình cảm cao đẹp đó.

Câu 11 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

a. Dọn về làng

Màu sắc dân tộc được thể hiện rõ nét thông qua cách sử dụng hình ảnh của tác giả:

– Đó là việc so sánh bằng những hình ảnh gợi hình, gợi tả như: người đông như kiến, súng nhiều như củi,…

– Sử dụng những hình ảnh quen thuộc với cuộc sống của người dân tộc miền núi: cách xưng hô mày – tao, hàng đàn, vườn chuối,…

Từ đó làm nổi bật 2 ý chính:

– Cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao – Bắc – Lạng và tội ác của thực dân Pháp

– Niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng.

b. Tiếng hát con tàu

Bài thơ có thể chia làm 3 phần, theo trình tự mạch diễn biễn của tâm trạng nhân vật trữ tình.

– Hai khổ đầu của bài thơ là những nỗi niềm băn khoăn và lời mời gọi thiết tha lên đường đi Tây Bắc. Bởi vì là lời mời gọi cho nên giọng điệu của khổ thơ vang lên đầy hối hả, gọi mời, liên tục đặt ra những câu hỏi với nhịp điệu ngày càng gấp gáp hơn nữa.

– Chín khổ thơ tiếp theo thể hiện trực tiếp khát khao, mong ước được trở về sống giữa nhân dân, quần chúng lao động thông qua việc gợi nhớ lại những kỉ niệm quân dân đẹp đẽ trong những năm tháng kháng chiến đầy gian khó của dân tộc. Chính những mong ước kỉ niệm xưa ấy khiến cho giọng điệu trở nên cảm động, thiết tha, trìu mến.

– Bốn khổ thơ cuối cùng cất lên khúc hát sôi nổi, giục giã lên đường. Giọng thơ lúc thì trầm lắng, lúc lại biến hóa dồn dập, bay bổng.

c. Đò lèn

Thông qua bài thơ này, tác giả cũng đã trực tiếp bày tỏ tình cảm sâu nặng với người bà của mình.

Bà hiện lên trong cuộc sống dân dã đời thường đầy vất vả, khi thì đi mò cua bắt ốc, lúc lại lặn lội đi gánh chè trong những đêm đông đầy giá lạnh.

Bà còn hiện lên trong thế đối sánh với những tín ngưỡng truyền thống, với đời sống tâm linh của thánh thần, tiên phật. Cũng như bao người đàn bà thôn quê nào khác, bà thành kính trước những tín ngưỡng ấy, có một niềm tin không dễ lung lay trước những giá trị văn hóa xưa cũ ấy. Dù cho cuộc sống có vất vả như thế nào, dù có phải chịu mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, nhà cửa bị tàn phá, chùa chiền cũng bị tàn phá theo, thế nhưng sức sống, niềm tin của bà thì vẫn không gì có thể lung lay được.

Tuy thế, thuở còn nhỏ, nhà thơ chưa thể cảm nhận được những nỗi niềm mà bà phải trải qua, cậu bé vẫn ngây thơ sống trong thế giới tuổi thơ của mình mà không biết bà đã vất vả như thế nào. Chính điều này khiến cho khi nhà thơ đã trưởng thành, nhớ lại những hồi ức ấy lại trở nên ân hận, và càng thêm yêu thương và biết ơn bà.

d. Bác ơi

Nỗi đau xót, tiếc thương vô hạn trước sự kiện Bác qua đời đã được thể hiện một cách xúc động qua 4 khổ thơ đầu.

Sáu khổ thơ ở giữa đã miêu tả hình ảnh Bác Hồ, đoạn thơ cũng đồng thời trả lời cho câu hỏi tại sao sự ra đi của Bác lại để lại mất mát to lớn cho nhân dân, đất nước như vậy.

Chính vì sự vĩ đại, lớn lao của Bác mà người dân đất Việt ai cũng xót thương trước sự ra đi của Bác. Bác đi rồi, nhưng vẫn còn sống mãi trong tâm tưởng nhiều thế hệ, Bác trở thành động lực để tuổi trẻ Việt Nam cố gắng phấn đấu nỗ lực, làm sao cho đất nước được sánh vai cùng với các cường quốc năm châu trên toàn thế giới.

Câu 12 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

a. Giống:

– Cả ông lái đò và Huấn Cao đều được xây dựng dưới cái nhìn con người nghiêng về phương diện tài hoa, nghệ sĩ của Nguyễn Tuân. Huấn Cao là một nhân cách cao khiết, là một người có tài viết chữ rất nhanh và đẹp. Ông lái đò cũng là một tay lái ra hoa, vừa hùng dũng lại vừa tài hoa nghệ sĩ.

– Trong cả 2 tác phẩm, nhà văn đều vận dụng những kiến thức liên ngành để tác phẩm có cái nhìn bao quát và thuyết phục người đọc hơn.

– Trong 2 tác phẩm đểu có những chi tiết, cảnh tượng phi thường, độc đáo.

b. Khác biệt:

– Một là thể loại truyện ngắn với cái nhìn hư cấu về một huyền thoại lịch sử. Một lại là tùy bút thiên về chất hiện thực cuộc sống lao động đời thường.

– Một tác phẩm thể hiện quan niệm trước cách mạng của nhà văn, rằng cái đẹp chỉ nhìn thấy trong một lớp người còn vang bóng. Một tác phẩm thể hiện quan niệm sau cách mạng, cái đẹp tồn tại trong chính đời sống hàng ngày của người lao động.

– Một tác phẩm thể hiện cái nhìn bi quan về cái đẹp. Một tác phẩm lại tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng thời đại mới.

Câu 13 (trang 215 sgk Văn 12 Tập 1):

– Hoàng Phủ Ngọc Tường ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên xứ huế, đặc biệt là của dòng Hương Giang. Một vẻ đẹp gắn liền với lịch sử, văn hóa, với đời sống của người dân hai bên bờ.

– Nhà văn sử dụng văn phong nhẹ nhàng mà sâu lắng, thể hiện vốn hiểu biết phong phú, vốn sống sâu sắc, một trí tưởng tượng liên tưởng đa dạng, độc đáo. Bài viết có sự kết hợp giữa yếu tố trí tuệ và cảm xúc.

Tham khảo toàn bộ: Soạn văn 12 ( chi tiết)

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *