So sánh Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa

So sánh Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa
So sánh Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa

So sánh Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Sự khác nhau giữa 2 khái niệm này. Câu trả lời có tại wikichiaseĐại thừa và Tiểu thừa là hai khái niệm rất phổ biến trong Phật giáo mà có lẽ những ai quan tâm hay từng tiếp xúc với Đạo phật đều đã từng nghe qua. 

Ở Việt Nam – một trong những trung tâm phát triển sớm của Phật giáo thế giới, chứng kiến sự phát triển của cả hai trường phái Tiểu thừa và Đại thừa. Với tư tưởng nhân văn, “từ bi hỷ xả”, bình đẳng giữa các chúng sinh, khuyên con người làm việc thiện, tránh điều ác…Xin gửi tới bạn đọc bài viết so sánh Phật giáo Đại Thừa và Tiểu thừa để giúp bạn đọc phân biệt hai tông phái này.

Nguồn gốc của Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo Tiểu thừa

Phật giáo là một tôn giáo có nhiều tông phái. Sự phân chia thành các tông phái trong Phật giáo không phải do mâu thuẫn về tổ chức hay tranh giành về quyền lợi, địa vị trong tăng chúng mà do sự khác nhau ít nhiều về kinh điển, giáo thuyết. Biết được căn cơ của chúng sinh, đầu tiên Phật Thích Ca thuyết giảng những điều đơn giản để thuận lợi cho việc tiếp cận, giáo hóa; về sau các bài thuyết giảng được nâng cao hơn. 

Tuy nhiên, giai đoạn mới ra đời, Phật giáo còn có sự hiểu khác nhau về giáo pháp. Mặt khác, sau này trong quá trình phát triển của Phật giáo, nhất là Phật giáo Bắc tông đã chủ trương tùy duyên của chúng sinh mà hành hóa nên càng có cơ sở để hình thành các pháp môn tu hành. Lúc đầu Phật giáo có 02 hệ phái lớn (còn gọi là hai dòng) Phật giáo Nam tông (phái Tiểu thừa) và Phật giáo Bắc tông (phái Đại thừa). Từ hai hệ phái này, Phật giáo lại phân chia thành nhiều tông phái, sơn môn khác nhau.

Như đã nêu trên, ngay từ thời kỳ tập kết kinh điển (được thực hiện vào mùa Hạ sau khi tổ chức lễ hỏa tang cho Phật Thích ca Mâu ni), trong Phật giáo đã manh nha hình thành 02 phái lớn là Thượng Tọa Trưởng Lão bộ và Đại chúng bộ. Tại Đại hội tập kết kinh điển lần thứ II (thế kỷ IV TCN), phái  Thượng Tọa Trưởng Lão bộ chủ trương bảo thủ Kinh – Luật – Luận trong hành đạo, song phái Đại chúng bộ lại chủ trương canh tân trong việc sử dụng Kinh – Luật – Luận để hành đạo cho phù hợp với điều kiện, trình độ của chúng sinh.

Đến Đại hội tập kết kinh điển lần thứ IV, chính thức hình thành hai phái nhưng chưa có danh xưng Đại thừa và Tiểu thừa. Sau khi phái Đại chúng bộ phát triển hưng thịnh thì Phật giáo mới dùng tên gọi Tiểu thừa (nguyên gốc là phái Thượng Tọa Trưởng Lão bộ) và Đại thừa (nguyên gốc là phái Đại chúng bộ). Theo nghĩa bóng Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, chở được ít người còn Đại thừa là cỗ xe to, chở được nhiều người.

Phái Đại thừa đa số truyền đến các nước phía Bắc nên gọi là Phật giáo Bắc tông; Phật giáo Tiểu thừa chủ yếu truyền đến phía Nam nên gọi là Phật giáo Nam tông (có trường hợp còn gọi Phật giáo Tiểu thừa là Phật giáo nguyên thủy).

Có những sự khác biệt giữa Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa
Có những sự khác biệt giữa Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa

So sánh Phật giáo đại thừa và tiểu thừa. Có gì giống và khác nhau?

Sự giống nhau giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiều thừa

Điểm giống nhau dễ nhận thấy nhất giữa hai hệ phái lớn của Phật giáo là cùng bắt nguồn từ đức Phật, và cùng tôn kính đức Phật Thích Ca. 

Giáo pháp cơ bản của PG Đại thừa và PG Tiểu thừa đều gồm có: Tứ diệu đế (1), Thập nhị nhân duyên (2) (Mười hai nhân duyên), Bát chánh đạo (3), Nhân quả (4), Nghiệp (5)…

Sự khác biệt giữa hai phái Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa

Một số điểm khác biệt chính giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa như sau:

– Quan niệm về cõi niết bàn và trần thế:

Phật giáo Đại Thừa cho rằng Niết bàn (S: Nirvana) và Thế gian không khác biệt. Muốn đạt được Niết bàn chỉ là tiêu trừ Vô minh, và nhận thức được thực tướng của các hiện tượng sự vật. Cảnh giới Niết bàn không tồn tại độc lập với Thế gian.

Phật giáo Tiểu Thừa cho rằng Niết bàn là cảnh giới đạt được sau khi thoát khỏi luân hồi sinh tử. Cảnh giới này hoàn toàn khác biệt với cảnh giới Trần thế.

– Đối với việc xuất gia đi tu:

Phật giáo Đại thừa không quá chú trọng đến đời sống xuất gia, cư sĩ tại gia cũng có thể đạt đến Niết bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ tát. Niết bàn không chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi (S&P: Samsara), mà Hành giả còn giác ngộ về Chân tâm và an trú trong đó. Phật giáo Đại Thừa xem trọng sự nhập thế, sự liên hệ mật thiết với đời sống thế tục, có như thế mới thực hiện được tính chất phổ độ chúng sinh, giúp chúng sinh vượt qua bể khổ (Bồ Tát hạnh)*.

Phật giáo Tiểu Thừa chú trọng sự xuất gia, xa lánh thế gian, vì vậy Phật giáo Tiểu thừa quan niệm phải sống cuộc đời của kẻ tu hành. Đối với Tiểu thừa cuộc sống tại gia không thể đem đến sự giải thoát, hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là đắc quả A La Hán (S: Arhat), là người phải dựa vào chính bản thân để giải thoát. Không có thần thánh nào có thể làm việc ấy thay ta.

– Kinh sách của Phật giáo Đại thừa viết bằng Phạn ngữ Sanskrit, là ngôn ngữ và chữ viết của giới quý tộc, trí thức ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại, còn kinh sách của Phật giáo Tiểu thừa viết bằng Phạn ngữ Pali, là ngôn ngữ và chữ viết của giới bình dân ở miền Nam Ấn Độ. Tương truyền khi sinh thời, đức Phật đã giảng Đạo pháp cho đại chúng bằng ngôn ngữ Pali.

– Giới tăng lữ của Phật giáo Đại thừa bao gồm cả Sa di, Tỳ kheo (nam tu sĩ) và Sa di ni, Tỳ kheo ni (nữ tu sĩ), trong khi tăng lữ của Phật giáo Tiểu thừa chỉ gồm Sa di, Tỳ kheo.

– Về giáo thuyết:

Phật giáo Nam Tông khác Phật giáo Bắc tông chủ yếu ở thuyết Hữu và Vô (hay còn gọi có và không). Phật giáo Nam tông chủ trương: hữu luận hay chấp hữu, vạn pháp vô thường, tức là luôn chuyển động, biến đổi nhưng vẫn có (hữu) một cách tương đối mà không thể nói là vô (không). Song về việc này, Phật giáo Bắc tông lại chủ trương không luận hay chấp không, cho rằng vạn pháp tuy có (hữu) nhưng thực ra lại là không (vô) vì vạn pháp chỉ là hư giả, không có thực tướng.

– Về sự giải thoát:

Phật giáo Nam tông quan niệm sinh tử luân hồi và Niết bàn là hai phạm trù khác biệt nhau; có nghĩa chỉ khi nào thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử thì mới chứng ngộ được Niết bàn một cách tuyệt đối.

Phật giáo Bắc tông khi nói về quan niệm sinh tử luân hồi và Niết bàn lại cho rằng đây không phải là hai phạm trù khác biệt nhau vì ngay trong quá trình tồn tại, nếu tu dưỡng tốt thì sẽ cảnh giới được Niết bàn vì sinh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ Đề.

Cũng về sự giải thoát, Phật giáo Nam tông chủ trương “tự độ, tự giác”, tức là người theo Phật giáo Nam tông tự giác ngộ, tự giải thoát cho bản thân mình mà không giác ngộ, không giải thoát được cho người khác. Song Phật giáo Bắc tông lại chủ trương “tự độ tự tha, tự giác tự tha”, nghĩa là người theo Phật giáo Bắc tông không chỉ giác ngộ, giải thoát cho chính mình mà còn giác ngộ, giải thoát cho chúng sinh. Chính quan điểm này là lý do dẫn đến vì sao gọi phái Tiểu thừa (Nam Tông) là cỗ xe nhỏ chỉ chở được ít người, con đường cứu vớt hẹp còn Đại thừa (Bắc tông) là cỗ xe to chở được nhiều người và con đường cứu vớt rộng.

– Về mặt văn hóa:

Phật giáo Nam tông từ Ấn độ truyền đến các nước phía Nam. Mặt khác trước khi  Phật giáo Nam tông truyền đến, các nước này đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và đạo Bà la môn nên Phật giáo Nam tông ở các nước như Srilanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào… có sự tiếp thu của văn hóa Ấn Độ. Các nước theo Phật giáo Nam tông thường tạo ra được lực lượng tín đồ đông đảo và ổn định nên nhiều nước Phật giáo đã trở thành quốc đạo, đặc biệt có quốc gia Phật giáo Nam tông trở thành gốc của văn hóa. Chính vì điều này, ở các nước theo Phật giáo Nam Tông sẽ ít có sự xâm nhập của các tôn giáo khác.

Phật giáo Bắc tông khi truyền đến các nước phía Bắc thường qua con đường từ Trung Quốc sang nên những nước có Phật giáo Bắc Tông như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.. chịu ảnh hưởng lớn bởi văn hóa Trung Quốc, nhất là Nho giáo và Lão giáo. Các nước theo Phật giáo Bắc Tông hình thành lực lượng Phật tử thuần thành song lực lượng Phật tử này lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo ở nhiều mức độ khác nhau nên rất khó xác định.

– Về vấn đề thờ phụng

Phật giáo Nam Tông thì chỉ thờ duy nhất một tượng Phật Thích Ca và các vị A La Hán có mẫu tượng giống người Ấn Độ. Song Phật giáo Bắc Tông, ngoài việc thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn thờ nhiều tượng Phật và Bồ tát khác nữa.

Sở dĩ có sự thờ phụng khác biệt là do quan niệm về việc thờ phụng Phật của hai hệ phái khác nhau, cụ thể là:

Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông, họ cho rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người bình thường như bao nhiêu con người bình thường khác. Ngài cũng có những nhu cầu cho đời sống: ăn, mặc, ở … và cũng chịu chung một định luật vô thường chi phối, phải trải qua những nỗi thống khổ của kiếp nhân sinh là sinh, lão, bệnh, tử. Tuy nhiên, Ngài chỉ khác hơn người thường ở chỗ, Ngài đã hoàn toàn giác ngộ, do sau khi xuất gia nỗ lực tu hành mà thành đạt được đạo quả. Ngược lại, chúng sanh vì còn mê, nên tạo nghiệp thọ khổ trong vòng sinh tử luân hồi.

Cũng theo phái Nam Tông thì ngoài Đức Phật Thích Ca ra, không có một vị Phật nào khác. Do đó, họ chỉ tôn thờ một hình tượng Phật Thích Ca và tạc hình tượng giống như người Ấn Độ, bởi lẽ, Phật là người Ấn Độ đi tu thành Phật.

Ngược lại, Phật giáo Bắc Tông có quan niệm khác. Theo Bắc Tông, thì Đức Phật Thích Ca khác hơn người thường. Vì muốn độ chúng sanh, nhất là loài người, nên Đức Phật mới thị hiện ở nơi loài người để tiện bề giáo hóa. Khi thân Phật thị hiện ở Ấn Độ chỉ là một giai đoạn tạm thời trong muôn triệu giai đoạn, một hóa thân trong muôn triệu hóa thân của Ngài. 

Còn khi nói về các vị Bồ tát, Phật giáo Bắc tông cho rằng các vị Bồ tát cũng là người trợ lực cùng với chư Phật để độ sanh, mỗi vị đều có những công hạnh đặc biệt. Vì vậy, nên các chùa của Phật giáo Bắc tông đều tôn thờ nhiều vị Phật và nhiều vị Bồ tát. Các chùa của Phật giáo Bắc tông khi tạc, tô vẽ hay đúc hình tượng Phật Thích Ca đều có những nét giống người bản địa  vì như thế mới thực sự là Phật giáo của địa phương, mới thực sự thân thiết gần gũi, dễ cảm hóa.

 – Về cách thức tu hành:

Phật giáo Nam tông nhấn mạnh việc tự giải phóng thông qua nỗ lực của cá nhân. Phương tiện chính để đạt được giác ngộ là thông qua Thiền và coi trọng tầm quan trọng của tu viện; hầu hết nhà sư của Phật giáo Nam tông thường dành hết thời gian cho tu viện. Sắc phục thường là màu vàng và đi khất thực để sinh sống.  

Song với Phật giáo Bắc tông thì phải tự do lao động để sinh sống và sắc phục thường mặc là áo màu nâu, khi hành lễ mới mặc đạo phục màu vàng.

Chúng tôi hi vọng việc So sánh Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa trong bài viết đã giúp quý vị có cái nhìn rõ nét về hai Phái này. Qua những nội dung trên ta cũng thấy mặc dù Phật giáo là tôn giáo có nhiều tông phái, song các Tông phái đều thợ phượng đấng tối cao là Đức phật và hiện nay Phật giáo cũng là một tôn giáo lớn của thế giới với quá trình hình thành và phát triển lâu đời.

Xem thêm:

Số phận con người có thật không? Có phải số phận quyết định tất cả?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *