Số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới. Có tất cả bao nhiêu tín đồ?

Số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới
Số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới

Số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới có tất cả bao nhiêu người – câu hỏi có tại wikichiaseTrên thành tinh xanh của chúng ta, 197 nước và vùng lãnh thổ hầu như không có đất nước, lãnh thổ nào lại không tồn tại một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Vậy số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới là bao nhiêu?

Nếu để thống kê hết số lượng các tôn giáo và số tín đồ của mỗi tôn giáo trên toàn thế giới thiết nghĩ đòi hỏi một công trình nghiên cứu sâu rộng cần sự hợp tác trên phạm vi toàn cầu. Trong bài viết này chúng tôi chỉ để cập đến vấn đề tôn giáo và thống kê các tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất thế giới

Định nghĩa Tôn giáo. Tôn giáo là gì?

Ngay từ khi con người xuất hiện và tồn tại trên trái đất đã phải đối mặt với rất nhiều những thử thách, khó khăn về thiên tai, bệnh tật…Chính vì thế những nỗi lo sợ này là động lực tác động lên họ sự cố gắng tìm kiếm những lời giải thích để đưa ra cách khắc phục những hiện tượng trên. Tuy nhiên ngày đó khoa học xã hội chưa phát triển nên việc tìm ra một lời giải thích cũng là một vấn đề rất nan giải, vì thế mà họ chỉ biết đặt niềm tin duy nhất vào thần thánh và từ đó tôn giáo được ra đời.

Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh. Tuy nhiên, hiện tại chưa có sự đồng thuận học thuật về những gì chính xác cấu thành một tôn giáo.

Trong tiếng Anh, tôn giáo là: religion – xuất phát từ tiếng Latinh: religio mang nghĩa “tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh” hay “bổn phận, sự gắn kết giữa con người với thần linh”, xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người, đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. 

Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Đứng trước sự thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học. 

Các tôn giáo khác nhau có thể có hoặc không chứa nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm các yếu tố thần thánh, những điều thiêng liêng, tín ngưỡng, một thế lực hoặc nhiều thế lực siêu nhiên hoặc “một số thế lực siêu việt tạo ra các chuẩn mực và sức mạnh cho phần còn lại của cuộc đời “.

Các hoạt động tôn giáo có thể bao gồm các nghi lễ, bài giảng, lễ kỷ niệm hay biểu hiện sự tôn kính (các vị thần, thánh, Phật), tế tự, lễ hội, nhập hồn, lễ nhập đạo, dịch vụ tang lễ, dịch vụ hôn nhân, thiền, cầu nguyện, âm nhạc, nghệ thuật, múa, dịch vụ công cộng, hoặc các khía cạnh khác của văn hóa con người. 

Các tôn giáo có lịch sử và các kinh sách thiêng liêng, có thể được bảo tồn trong các thánh thư, các biểu tượng và thánh địa, nhằm mục đích chủ yếu là tạo ra ý nghĩa cho cuộc sống. Tôn giáo có thể chứa những câu chuyện tượng trưng, đôi khi được những người tin theo cho là đúng, có mục đích phụ là giải thích nguồn gốc của sự sống, vũ trụ và những thứ khác. Theo truyền thống, đức tin, cùng với lý trí, đã được coi là một nguồn gốc của các niềm tin tôn giáo.

Đôi khi từ “tôn giáo” cũng có thể được dùng để chỉ đến những cái gọi đúng hơn là “tổ chức tôn giáo” – một tổ chức gồm nhiều cá nhân ủng hộ việc thờ phụng, thường có tư cách pháp nhân. “Tôn giáo” hay được nhận thức là “tôn giáo” có thể không đồng nhất với những định nghĩa trên đây trong niềm tin tối hậu nơi mỗi tôn giáo. 

Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin và sự sùng bái thần thánh hay các quyền lực vô biên, siêu nhiên, vào cuộc sống sau khi chết…, tóm lại, là những phát biểu mà vì đó các thành viên của một tôn giáo nào đó gắn bó vào đó.Tín ngưỡng thường phát sinh khi một lãnh tụ tinh thần khẳng định một số hiểu biết đặc biệt về chân lý thần thánh và tổ chức tín đồ của mình. Cũng có quan điểm cho rằng, tín ngưỡng tôn giáo là hoạt động tôn giáo ít hay không có điểm chung với các tổ chức tôn giáo khác trong một xã hội cụ thể. Theo quan điểm này thì tín ngưỡng là một cái gì đó hoàn toàn mới, nó có thể là kết quả của sự truyền bá quan điểm tôn giáo từ một xã hội này sang một xã hội khác, nơi mà nó chưa từng có tiền lệ. Do vậy khi mới hình thành, tín ngưỡng thường chưa được chính thức hóa và hay có mâu thuẫn với xã hội, nếu tiếp tục phát triển, tín ngưỡng sẽ trở nên có tổ chức, nghi lễ chặt chẽ hơn và có thể trở thành tôn giáo. Tuy nhiên tín ngưỡng tôn giáo không phải là các giáo phái, giáo phái là những nhóm ly khai với giáo hội hay tổ chức tôn giáo truyền thống của nó còn tín ngưỡng thì hoàn toàn mới.

Tôn giáo là những hệ thống tín ngưỡng thường tìm câu trả lời cho những khái niệm sau:

– Thượng đế – Siêu việt tính hay bản chất của tồn tại (hoặc cái được loài người nhận thức là tồn tại) trong mối tương quan với con người;

– Con người;

– Tạo hóa, những tín ngưỡng về nguồn gốc của vũ trụ, Trái Đất, sự sống, và nhân loại;

– Thần thánh, những tín ngưỡng về sự tồn tại (hay không tồn tại) và bản chất của thần thánh (hay Ông Trời), những gì linh thiêng hay siêu phàm;

– Những tín ngưỡng về cách liên lạc với thần thánh, vật linh thiêng, những người khác, loài vật, thế giới tự nhiên xung quanh ta và với chúng ta;

– Những tín ngưỡng về bản chất đạo lý và đạo đức, như đạo đức khách quanđạo đức tương đối;

– Những cách để nhận dạng và ca tụng những kinh nghiệm giá trị;

– Việc tìm ra trọn vẹn về lĩnh vực nhu cầu và thèm muốn;

– Sự tìm ra mục đích của sự sống, và nhận dạng các mục tiêu trong đời;

– Tìm ra một cơ cấu đạo lý, và định nghĩa những hành vi “thiện” (tốt) và “ác” (xấu);

– Những tín ngưỡng về những trạng thái tồn tại khác như thiên đàng, địa ngục, hay Niết bàn và cách chuẩn bị vào những cõi này;

– Những giải thích và sự hiểu biết về điều ác và đau khổ, và viết về thiện ác.

– Thông thường, những tôn giáo khác nhau và những phe không tôn giáo đều có câu trả lời khác nhau về các khái niệm trên, và nhiều tôn giáo có nhiều trả lời cho mỗi khái niệm.

Ngoài nghĩa rộng về tôn giáo trên, có nhiều cách sử dụng cũng như nhiều nghĩa của từ “tôn giáo.” Một số lối giải thích như sau:

Một cách định nghĩa, đôi khi được gọi là “lối theo chức năng”, định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngưỡng và phong tục nào có chức năng đề cập đến những câu hỏi căn bản về đặc tính con người, đạo đức, sự chết và sự tồn tại của thần thánh (nếu có). Định nghĩa rộng ngày bao gồm mọi hệ thống tín ngưỡng, kể cả những hệ thống không tin tưởng vào thần thánh nào, những hệ thống đơn thần, những hệ thống đa thần và những hệ thống không đề cập đến vấn đề này vì không có chứng cứ.

Cách định nghĩa thứ hai, đôi khi được gọi là “lối theo hình thể”, định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào xác nhận những điều không thể quan sát một cách khoa học được, và chỉ dựa vào chức trách hay kinh nghiệm với thần thánh. Nghĩa này hẹp hơn phân biệt “tôn giáo” với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quanthuyết bất khả tri, vì những hệ thống này không dựa vào chức trách hay kinh nghiệm nhưng dựa vào cách hiểu theo khoa học.

Cách định nghĩa thứ ba, đôi khi được gọi là “lối theo chứng cớ vật chất”, định nghĩa tôn giáo là những tín ngưỡng về nhân quả mà Occam’s Razor loại trừ vì chúng chấp nhận những nguyên nhân quá phức tạp để giải thích những chứng cớ vật chất. Theo nghĩa này, những hệ thống không phải là tôn giáo là những hệ thống không tin tưởng vào những nguyên nhân phức tạp hơn cần thiết để giải thích những chứng cứ vật chất. Những người theo quan điểm này tự xưng là “bất tôn giáo”, nhưng cũng có người tôn giáo nhìn nhận rằng “tín ngưỡng” và “khoa học” là hai cách hoàn toàn khác nhau để đi đến chân lý. Quan điểm này bị bác bỏ bởi những người xem rằng những giải thích siêu hình là cần thiết để giải thích các hiện tượng tự nhiên một cách căn bản.

Cách định nghĩa thứ tư, đôi khi được gọi là “lối tổ chức”, định nghĩa tôn giáo là các hội đoàn, tín ngưỡng, tổ chức, phong tục, và luật đạo đức chính thức của tất cả các tôn giáo chính có tổ chức. Nghĩa này đặt “tôn giáo” vào một vị trí trái ngược với “tinh thần”, cho nên không bao gồm những luận điệu của “tinh thần” về việc tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh.

Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo khác nhau
Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo khác nhau

Số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới?

Có khoảng 10.000 tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới, nhưng khoảng 84% dân số thế giới theo một trong năm nhóm tôn giáo lớn nhất, đó là Kitô giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo và các dạng tôn giáo dân gian

Số tôn giáo được hình thành từ xưa đến nay trên thế giới được xem là vô số, có nhiều hình thức trong những nền văn hóa và quan điểm cá nhân khác nhau. Tuy thế, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn được nhiều người theo hơn những tôn giáo khác.

Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Pew (PRC) Hoa Kỳ, thế giới ngày tăng thêm niềm tin “Tôn giáo” hơn khi số lượng những người vô thần không tín ngưỡng tôn giáo đang xu hướng bị thu hẹp so với dân số toàn cầu.

Niềm tin và thực tiễn tôn giáo vô cùng đa dạng và có rất nhiều tôn giáo trên thế giới ngày nay, có tôn giáo chỉ hạn chế trong một vùng địa lý không lớn nhưng có những tôn giáo có thể gọi là tôn giáo thế giới với nhiều triệu tín đồ ở khắp nơi trên thế giới. Nói chung có khoảng 87 % dân số thế giới đang gắn bó với một tôn giáo nào đó; chỉ có khoảng 13 % là không tôn giáo.

Thống kê tôn giáo và số lượng tín đồ các tôn giáo lớn trên toàn thế giới

Tôn giáo Số lượng tín đồ Vùng lãnh thổ chủ yếu
Kitô giáo Trên 2,4 tỷ Khắp thế giới, trừ một vài nơi.
Hồi giáo 1,8 tỷ Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á, Nam Á, Tây Phi, Đông Phi, Nam Á, Đông Nam Á, Albania, một phần lãnh thổ Nga, các tỉnh phía tây Trung Quốc.
Ấn Độ giáo 900 triệu Nam Á, Đông Nam Á, Fiji, Guyana, Mauritius.
Đạo giáo 400 triệu Trung Quốc, Singapore, Malaysia và cộng đồng người Hoa hải ngoại, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Tôn giáo dân gian Trung Quốc 394 triệu Trung Quốc
Phật giáo 365 triệu (tín đồ chính thức)

1,2-1,6 tỷ (tính cả tín đồ không chính thức)

Đông Á và Ấn Độ, một số nước Đông Nam Á.
Tôn giáo của các bộ tộc 300 triệu Khắp thế giới trừ Châu Âu
Nho giáo 150 triệu Đông Á và cộng đồng người Hoa ở hải ngoại
Tôn giáo truyền thống châu Phi 100 triệu Châu Phi
Thần đạo 30 triệu Nhật Bản
Sikh giáo 23 triệu Ấn Độ, Pakistan, Canada, Mỹ, Anh
Do Thái giáo 14 triệu Israel, Mỹ, châu Âu
Bahá’í giáo 9 triệu Tín đồ phân bố rải rác nhiều nơi trên thế giới
Nhân Chứng Giê-hô-va 8,2 triệu Khắp thế giới
Đạo Cao Đài 3,8 triệu[16] Việt Nam, Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc
Đạo Hòa Hảo 2 triệu Việt Nam
Jaina giáo 1,2 triệu Ấn Độ, Pakistan, Canada, Mỹ, Anh

Việc thống kê số lượng tín đồ các tôn giáo trên thế giới rất phức tạp và nhiều phương pháp khác nhau. Do đó các nguồn số liệu kể trên có thể cho kết quả khác nhau đáng kể, tuy vậy chúng tôi hi vọng những thông tin trên đã cung cấp cho các bạn cái nhìn tương đối về quy mô của các tôn giáo đặc biệt là trong tương quan với nhau.

Xem thêm:

Sinh lão bệnh tử hay sinh bệnh lão tử?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *