Sơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ theo khổ chi tiết nhất

Sơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ theo khổ chi tiết nhất

– Luận điểm 1 (phân tích khổ thơ 1) : Hoài niệm về khung cảnh thiên nhiên và con người thôn Vĩ tươi đẹp tràn đầy sức sống.

+ Bức tranh cảnh vật tuyệt đẹp qua hồi tưởng của tác giả: nắng mới, những hàng cau, vườn xanh như ngọc…

+ Hình ảnh con người thôn Vĩ: khuôn mặt chữ điền.

– Luận điểm 2 (phân tích khổ thơ 2) : Cảnh vật thiên nhiên đượm buồn qua cái nhìn đầy nội tâm.

+ Mặc cảm chia lìa

+ Tâm trạng đợi chờ khắc khoải, da diết

– Luận điểm 3 (phân tích khổ thơ cuối) : Cảnh vật, tâm trạng con người đều chìm sâu vào mộng ảo.

+ Nhận thức của tác giả trước cuộc sống trần thế cô đơn trống trải, ngậm ngùi

+ Nỗi đau đớn, bâng khuâng, bất lực về một tình yêu không có kết quả.

Sơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ theo khổ chi tiết nhất

Dòng sông Hương hiện ra mới buồn làm sao với những bông hoa bắp màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói. Với một tâm hồn mãnh liệt như Hàn Mặc Tử thì dòng sông trôi lững lờ của xứ Huế chỉ là dòng sông buồn thiu gợi cảm giác buồn lặng, quạnh quẽ. Hoa bắp cũng lay nhè nhẹ trong một nỗi buồn xa vắng. Sự thay đổi tâm trạng chính là thái độ của những người sông trong vòng đời tối tăm, bế tắc. Mặt nước sông Hương êm quá gợi đến những bến bờ xa vắng, những mảnh bèo trôi dạt lênh đênh của số kiếp người. Tâm trạng thoắt vui – thoắt buồn mà buồn thì nhiều hơn, ta đã gặp rất nhiều ở các nhà thơ lãng mạng khác sống cùng với thời Hàn Mặc Tử. Ý thơ thật buồn, được nối tiếp trong hai câu sau nhưng với cách diễn đạt thật tuyệt diệu, thực đấy mà mộng đấy

Sơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ khổ 1

– Luận điểm 1: Lời trách yêu của người con gái, làm sống dậy tâm hồn nhà thơ về với quê hương xứ Huế thân yêu

– Luận điểm 2: Cảnh thiên nhiên xứ Huế, cảnh vật nơi thôn Vĩ Dạ

– Luận điểm 3: Hình ảnh con người xuất hiện, thể hiện tình yêu trong trắng, thanh thản, đắm say

aSơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ theo khổ chi tiết nhất (ảnh 2)

Khung cảnh khu vườn xanh ngát, căng tràn sức sống của thôn Vĩ hiện lên tươi đẹp đến ngỡ ngàng, để tăng hiệu quả về thẩm mĩ, tác giả Hàn Mặc Tử đã sử dụng cách so sánh đầy ấn tượng “xanh như ngọc”. Sắc xanh trong trẻo của những tán lá dưới ánh mặt trời trở lên thật lung linh, thật đặc biệt. Từ “mướt” được tác giả sử dụng rất khéo không chỉ diễn tả được cái mượt mà, tươi tốt của vườn cây mà còn cho thấy sự khéo léo, chăm chỉ của bàn tay chăm sóc khu vườn ấy.

Sơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ khổ cuối
 

– Luận điểm 1: Cảm nhận về nội dung khổ cuối

– Luận điểm 2: Cảm nhận về giá trị nghệ thuật của khổ thơ.

aSơ đồ tư duy Đây thôn Vĩ Dạ theo khổ chi tiết nhất (ảnh 3)

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, “ở đây” có thể là không gian hiện thực nơi xứ Huế vốn nhiều nắng, nhiều mưa, nơi sương khói hư ảo nhưng cũng có thể lại chính là không gian tâm tưởng, không gian nơi tác giả đang đắm chìm trong đau thương, tuyệt vọng đến cùng cực để rồi thốt lên một câu hỏi, chẳng có câu trả lời “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Một câu hỏi tu từ chứa đựng bất an, hoài nghi về tình người của con người xứ Huế. Liệu sau quãng thời gian xa cách, liệu với căn bệnh hiểm nghèo, người dân xứ Huế vẫn thương yêu, trìu mến hay là đã lãng quên mình, xa lánh, ruồng rẫy thi nhân. Câu thơ cuối cũng chính là câu trả lời cho câu thơ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Nhà thơ ao ước được trở về nơi xưa, được gặp lại cố nhân nhưng “Cảnh xưa còn đó, lòng người  đổi  thay”.  Câu  thơ  khép  lại  bải  thơ  trong  nỗi  hoài  nghi,  tuyệt  vọng nhưng vẫn thấy ở đó là niềm khát khao của thi nhân với tình người, với trần thế chẳng thể nào lụi tàn.

1. Khổ 1: vườn Vĩ Dạ lúc ban mai trong tưởng tượng của thi sĩ

– Câu thơ đầu tiên mang hình thức câu hỏi tu từ vừa như lời mời gọi tha thiết yêu thương lại như lời tự trách bản thân

– Bao trùm bài thơ là niềm thích thú say mê, lòng yêu mến tán thưởng vẻ đẹp của cảnh sắc thôn Vĩ. Hàng loạt các hình ảnh về thôn Vĩ hiện lên rất rõ ràng, chân thực tưởng như thi sĩ đang đứng trước cảnh sắc thôn Vĩ mà nâng niu, ngắm nhìn:

+ hình ảnh nắng hàng cau nắng mới lên mang một vẻ đẹp lấp lánh tinh khiết. Câu thơ lưu lại một khoảnh khắc thật đẹp khi ngắm nhìn nắng mới trải dần trên những lá cau non

+ cảnh vườn ai mướt quá xanh như ngọc thật đẹp thật độc đáo

• Từ mướt và hình ảnh so sánh xanh như ngọc đã cộng hưởng hòa lên vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của vườn Vĩ Dạ

• Một màu xanh mướt óng ả, non tơ đến nuột nà phủ lên khắp khu vườn. cả khu vườn tựa như một viên ngọc bích khổng lồ không chỉ rời rợi sắc xanh mà còn lan tỏa ánh xanh

• Từ mướt quá bộc lộ sự trầm trồ của thi sĩ, chứng tỏ Hàn Mặc Tử đang say sưa trong hồi tưởng

• Đại từ phiếm chỉ ai xa vời mông lung chứa đựng một nỗi u buồn, xót xa

– Hình ảnh Lá trúc che ngang mặt chữ điền trong câu thơ cuối thật thú vị, ẩn chứa nhiều cách hiểu khác nhau:

+ đó có thể là khuôn mặt phúc hậu mang nét dịu dàng, duyên dáng của những cô gái Huế ⇒ hình ảnh thơ gợi sự hòa điệu giữa người và cảnh

+ lại có thể hiểu đó là gương mặt thi sĩ khi trở về thôn Vĩ nhưng trong hoàn cảnh lén lút, vụng trộm⇒ câu thơ là niềm yêu đời mãnh liệt của tâm hồn trĩu nặng mặc cảm chia lìa

⇒ Cảnh và người thôn Vĩ thật đẹp nhưng chỉ trong hòai niệm

2. Khổ 2: cảnh sông nước xứ Hếu đêm trăng và tâm trạng thi sĩ

a. Cảnh sông nước đêm trăng

– Chỉ vài nét chấm phá Hàn Mặc Tử đã gợi dậy thần thái, linh hồn của Huế trong đêm trăng thơ mộng: mây trời đìu hiu, sông nước lặng tờ, thuyền ai gối bãi ăm ắp đầy trăng

– Cảnh sắc êm đềm uyền ảo mà tĩnh lặng, u buồn

b. Tâm trạng thi sĩ

– Mặc cảm chia lìa trong hình ảnh Gió theo lối gió, mây đường mây

+ câu thơ hằn lên sự chia lìa ngang trái trớ trêu: gió mây vốn luôn quấn quýt với nhau mà giờ đây gió một đằng, mây một nẻo

+ sự chia lìa thấm vào hình ảnh hằn lên trong nhịp điệu thơ: nỗi đau tuyệt giao với cuộc đời của thi sĩ

– Nỗi cô đơn bơ vơ trong hình ảnh: Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

+ một nỗi buồn bâng khuâng mà da diết, khắc khoải phảng phấp trong câu thơ để rồi thấm đượm và hồn người đọc

+ danh từ lay tự nó không vui, không buồn nhưng đặt trong câu thơ này sao lại gợi một nỗi buồn hiu hắt đến thế

+ hình ảnh hoa bắp lay thật tủi sầu như ám lấy thi sĩ- thân phận bị cuộc đời xa lánh tẩy chay

– Nỗi niềm trông ngóng vu vơ, vô vọng

+ Hàm Mặc Tử ao ước có trăng trở về với mình. Câu thơ như lời khẩn cầu da diết, khắc khoải đến cháy bỏng

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

+ thật xót xa khi hiện thực khiến thi sĩ tuyệt vọng: cơ hội ngắm trăng ngắn ngủi trong tối nay mà trăng thì lại ở mãi ngoài kia xa vời vợi, con thuyền chở trăng thì vu vơ, phiếm chỉ

3. Khổ 3: Hình bóng khách đường xa và nỗi niềm mơ tưởng hoài nghi

– Ao ước có trăng không thành, thi sĩ mơ tưởng về người thôn Vĩ. Nhưng trong giấc mơ người thương yêu thủa nào đã là khách đường xa

– Bóng hình người thương vừa hiện ra đã chợt mất hút

– Hình bóng người thương hiện lên thật ám ảnh: Áo em trắng quá nhìn không ra cực tả sắc trắng lạ lùng của áo em thi sĩ muốn gửi gắm nỗi niềm đắm say trước vẻ đẹp lộng lẫy của người yêu dấu cùng nỗi tuyệt vọng bất lực giữa anh và em là vực sâu thăm thẳm, em là thiên thần còn anh là tội đồ trong địa ngục tối tăm

– Thi sĩ đành ngậm ngùi trở về thực tại ở đây là trại phong lạnh lẽo, mịt mù sương khói phủ mờ cả bóng anh ta nghe như có tiếng dội đau thương của kiếp người bị lãng quên trong lãnh cung xa thẳm

– Bám víu cuối cùng của thi sĩ là chút tình với cuộc đời ngoài kia nhưng cũng mong manh xa vời lắm: Ai biết tình ai có đậm đà?

⇒ câu thơ đọng lại tình yêu hướng về cuộc đời trần thế mãn liệt mà vô vọng, đau đớn

4. Nghệ thuật

– Cảm xúc nổi bật thấm đẫm bài thơ là niềm đau thương nhưng mạch thơ hết sức tự do, phóng túng

– Cảm xúc tinh tế, tài hoa, bút pháp gợi tả với những hình ảnh biểu tượng mở ra khoảng trống mênh mang đế người đọc tự suy ngẫm, liên tưởng

– Ngôn từ trong sáng tinh tế, có khả năng gợi hình biểu cảm cao

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *