Quan Thế Âm Bồ Tát là ai? Quan thế âm bồ tát có thật không?

Quan Thế Âm Bồ Tát là ai
Quan Thế Âm Bồ Tát là ai

Wikichiase sẽ giúp bạn giải đáp câu hỏi: Quan thế âm bồ tát là ai? Quan thế âm bồ tát có thật không? Ngày Quan thế âm bồ tát ra đời.

Trong Phật giáo Đại thừa, có bốn vị Đại Bồ Tát. Đó là Quan Thế Âm Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, và Văn Thù Bồ Tát. Tuy nhiên, theo cách gọi quen thuộc của người Việt, Quan Thế Âm Bồ Tát thường được gọi là Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Vậy Quan Thế Âm Bồ Tát là ai? Câu trả lời có Wikichiase – Blog chia sẻ những điều mới mẻ và có ý nghĩa nhất về Phật giáo, cũng như vấn đề tâm linh trong cuộc sống của con người.

Tại Việt Nam, hình ảnh tượng Phật mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát xuất hiện ở  khắp các đền, chùa. Ngài có pháp hiệu là “Chánh Pháp Minh Như Lai”, là hiện thân của lòng từ bi, hỷ xả. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về Quan Thế Âm Bồ Tát là ai.

Quan Thế Âm Bồ Tát là ai? Tất cả sự thật về Quan Thế Âm Bồ Tát?

Nói về xuất thân của Ngài tuy có rất nhiều điển tích khác nhau nhưng đều có một điểm chung về xuất phát điểm của Quan Thế Âm Bồ Tát: Ngài là con vua, là người thuộc dòng dõi hoàng tộc, có xuất thân cao quý. Vì thấy người dân có cuộc sống cơ cực, nhiều ai oán bất công, Ngài liền quyết chí tu  hành thành Phật để cứu khổ, cứu nạn cho muôn vàn chúng sinh. Khi tu thành chính quả, thì Ngài trở thành vị Bồ Tát cả thể biến ảo ngũ giác. Tai có thể nghe thấy hình ảnh, mắt có thể nghe thấy âm thanh, còn lưỡi có thể nếm ngửi được mùi hương. Nhờ vậy, mọi lời cầu khẩn kêu cứu của chúng sinh đều có thể được truyền đến Ngài và được Ngài cứu giúp.

Tới thời điểm hiện tại có rất nhiều truyền thuyết khác nhau kể về cuộc đời của Quán Thế Âm Bồ Tát; từ truyền thuyết về quá trình tu hành của Ngài, truyền thuyết về những thử thách Ngài trải qua, cho đến truyền thuyết về xuất thân của Ngài. Thậm chí, mỗi truyền thuyết lại có nhiều dị bản khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện là hai truyền thuyết quen thuộc khi nhắc tới truyền thuyết về Quan Thế Âm Bồ Tát nhất.

Quan Âm Thị Kính 

Quan Thế Âm trải qua rất nhiều nhân dạng để phổ độ chúng sinh. Vào kiếp thứ 10, Ngài đầu thai thành Thị Kính, tiểu thư nhà họ Mãng ở Cao Ly ( thuộc bán đảo Triều Tiên ngày nay). Được giáo huấn trong gia đình có truyền thống gia phong, Thị Kính vừa tài sắc vẹn toàn, vừa thảo hiền với mẹ cha. Khi lớn lên, nàng được gả cho Thiện Sĩ, một nho sinh nhà họ Sùng trong vùng. 

Về làm dâu, Thị Kính vẫn hết mực kính trọng cha mẹ chồng, giữ đạo dâu con trong nhà. Một ngày nọ, khi đang may vá nàng thấy chồng mình ngủ thiếp đi khi đang đọc sách. Thấy trên cằm chồng có sợi râu, sẵn tay nàng dùng con dao nhíp cắt đứt sợi râu. Thiện Sĩ chợt tỉnh giấc, thấy vợ mình đang cầm dao gần cổ bèn la lên vì nghĩ Thị Kính đang cố sát mình. 

Dù đã phân trần với cả gia đình chồng, nhưng dưới sức ép của ông bà Sùng Thiện Sĩ đã đuổi vợ mình ra khỏi nhà. Rời khỏi gia đình chồng, Thị Kính xuất gia quy y cửa Phật. Bà cải trang thành nam và trốn vào chùa xin tu, lấy Pháp danh là Kính Tâm.

Tướng mạo vốn xinh đẹp, sau khi cải trang thành nam có rất nhiều tín nữ đến chùa để ý. Trong số đó có Thị Mầu, là con gái nhà bá hộ trong vùng. Tính vốn phóng khoáng, Thị Mầu đã nhiều lần tìm cách tiếp cận để trêu ghẹo Kính Tâm nhưng đều nhận được sự từ chối. Ít lâu sau, Thị Mầu có thai với người đầy tớ trong nhà. Thai ngày một lớn dần, Thị Mầu bị bắt ra làng để tra hỏi. Trong lúc hoảng loạn, Thị Mầu khai bừa Kính Tâm chính là cha của thai nhi. Dù kêu oan, nhưng do không thể tiết lộ thân phận giả nam của mình nên Kính Tâm đã phải rời khỏi chùa. Lại nói về Thị Mầu, sau đó hạ sinh được một bé trai và đem đến gửi nhờ Kính Tâm nuôi dưỡng. 

Vốn thương người, Kính Tâm nhận nuôi đứa trẻ. Thời gian trôi nhanh đến khi đứa bé lên 3 cũng là lúc Kính Tâm bị bạo bệnh. Biết mình không qua khỏi, Kính Tâm đã viết lại tâm thư gửi đến cha mẹ kể lại sự tình. Sau khi Kính Tâm qua đời, mọi người mới rõ nỗi oan khiên trên của Kính Tâm và cho lập đàn cầu đảo. 

Quan Âm Diệu Thiện 

Chuyện kể rằng Diệu Thiện là người con gái thứ ba của một vị vua. Dù  sống trong nhung lụa giàu sang, nhưng khác với hai người chị lớn, công chúa  luôn dành sự quan tâm của mình đến những người nghèo khổ khó khăn, chú tâm vào Phật Pháp. 

Đến tuổi trưởng thành, khi biết vua cha có ý gả chồng, công chúa đã quỳ xin được xuất gia. Dù đã dùng nhiều cách thuyết phục nhưng vua cha vẫn không thay đổi được suy nghĩ của Diệu Thiện. Nhà vua vờ đồng ý cho công chúa được xuất gia, đồng thời ra lệnh cho vị sư trụ trì tìm mọi cách để thuyết phục công chúa hoàn tục. Dù vậy trong thời gian tu tập tại chùa, công chúa được tạo điều kiện tốt để tu học về Phật Pháp. 

Biết chuyện, nhà vua vô cùng tức giận, sai binh lính đến đốt chùa. Trong trận hỏa hoạn, Ni Cô Diệu Thiện đã chắp tay lại thành hình búp sen, thành tâm cầu nguyện chư Phật cùng các chư Bồ tát. Bất ngờ thay, trời chuyển mây tạo mưa lớn dập tắt cơn hỏa hoạn. 

Nhà vua ra lệnh bắt lấy Ni Cô Diệu Thiện và hạ lệnh xử trảm. Khi đao phủ chuẩn bị cầm đao thì bỗng xuất hiện một con hổ trắng xông vào và cõng Ni Cô mang đi. 

Trong cơn mơ, Ni Cô Diệu Thiện thấy hổ trắng đã cõng mình xuống Diêm phủ. Tại đây Ngài đã gặp rất nhiều hình phạt dành cho các tội nhân mắc phải khi còn sống. Ni Cô đã chắp tay phát nguyện cứu độ cho mọi loài đang chịu những hình phạt thảm khốc. Sau khi tỉnh giấc, Ni Cô tiếp tục tu hành đắc đạo và phổ độ chúng sinh.

Hình tượng của Quan thế Âm Bồ Tát
Hình tượng của Quan thế Âm Bồ Tát

Ý nghĩa tên gọi của Quan thế âm Bồ tát

Các vị Bồ Tát là những bậc được kết tinh bởi đức hạnh cao quý tuyệt vời của đức Phật và được thánh hóa để trở thành nhu cầu của quần chúng. Nếu như con người ở một thời đại nào đó khao khát tri thức, trí tuệ thì tính chất trí tuệ được thánh hóa và đặt lên hàng đầu với hình tượng biểu trưng là Bồ Tát Văn Thù. Ngược lại, khi nhân loại đang cần tình thương và sự che chở bảo hộ, cần một bàn tay hiền từ, tươi mát tưới tẩm, cảm thông và xoa dịu nỗi đau thương tang tóc trong cuộc sống thì hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát lại được thánh hóa để làm chỗ nương tựa cho tâm hồn của họ.

Có thể nói, hai vị Bồ tát kể trên cũng là biểu tượng đặc trưng cho chất liệu “từ bi và trí tuệ”, một triết lý trác tuyệt tiềm ẩn xuyên suốt toàn bộ hệ thống kinh điển của Phật giáo. Đặc biệt, hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm, biểu tượng của tình thương bao la vô bờ bến, là đấng mẹ hiền trên tất cả mẹ hiền, trên tất cả thánh nhân được tôn xưng là mẹ hiền, Ngài luôn được người đời kính ngưỡng bởi hạnh nguyện từ bi, ban vui và cứu khổ không mệt mỏi, không giới hạn và luôn được đức Phật nhắc đến trong các kinh điển Đại Thừa.

Quán Thế Âm, tiếng Phạn gọi là Avalokitévara, Nghĩa là vị Bồ Tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại. Do Ngài quán sát âm thanh một cách tự tại mà chứng được bản thể chân thường của vũ trụ. Nơi nào, lúc nào trong vũ trụ có tiếng chúng sinh đau khổ, kêu cầu thì Ngài hiện thân cứu độ rất tự tại, cho nên Ngài cũng có tên là Quán Tự Tại, Quán Thế Tự Tại…

Quan Thế Âm hay Quán Thế Âm theo tiếng Phạn nghĩa là “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian” là một vị Bồ tát hiện thân cho lòng từ bi của tất cả chư Phật. Theo kinh A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát cùng với Đại Thế Chí Bồ Tát là trợ tuyên của đức Phật A Di Đà, được đặt danh hiệu Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát: 

Trong đó: “Đại bi” tức là lòng thương người bao la, rộng lớn. “Quán” nghĩa là xem xét, quán xét. “Thế” là cõi thế gian. “Âm” là lời cầu nguyện   

Theo điển tích Phật giáo, Phật Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Phật có 5 thứ quán, hay chính là 5 thần lực. Đó là:

– Chân quán: Tức khả năng dung thông cả 6 giác quan với nhau, nên Ngài có khả năng cảm nhận hơn bất kỳ vị Bồ Tát nào.

– Thanh tịnh quán: Là khả năng giữ gìn sự thanh tinh. Dựa vào cái thanh tịnh mà loại bỏ sự ô nhiễm của năng sở.

– Từ quán: Là khả năng siêu độ chúng sinh thoát khỏi khổ đau để đến với sự hạnh phúc, vui vẻ.

– Bi quán: Là lòng từ bi vô điều kiện, không giới hạn, giúp chúng sinh thoát khỏi cái tôi ích kỷ để tiêu diệt năng – sở.

– Quảng đại trí huệ quán: Nghĩa là trí tuệ siêu việt, ánh sáng trí tuệ của Ngài soi sáng nhân gian khỏi mông muội, ngu dốt.

Như vậy, danh hiệu Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát của Ngài chính là diễn tả những đức tính thương người, luôn lắng nghe những lời cầu cứu, cứu độ chính sinh của Quán Thế Âm Bồ Tát, luôn thấu hiểu được nỗi ai oán của chúng sanh, soi sáng, dẫn đường cho chúng sanh thoát khỏi kiếp khổ đau.  

Tuy nhiên, Khi người Việt bắt đầu biết đến đạo Phật và biết đến Ngài thì từ “Quán” trong tên Ngài được đọc thành “Quan”. Và từ “Thế” thường được lược bỏ bởi người dân kiêng kỵ húy với tên của vị vua Đường Thái Tông – Thế Dân. Đến nay, Ngài vẫn thường được người Việt gọi dưới cái tên Phật Quan Thế Âm Bồ Tát hoặc Phật Quan Âm Bồ Tát.

Ngày Quan Thế Âm Bồ Tát ra đời

Hằng năm Phật tử khắp nơi trên thế giới thường làm lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm thật trang nghiêm vào các ngày: 19/02, 19/06 và 19/09 đều theo âm lịch. Đó là 3 ngày vía của Bồ Tát Quán Âm mà mọi người nên biết

Nhưng đa phần chỉ biết suông là lễ vía Quán thế Âm thế thôi!

Ngày 19/02 là vía Quán thế Âm Đản Sanh.

Ngày 19/06 là vía Quán thế Âm Thành Đạo.

Ngày 19/09 là vía Quán thế Âm Xuất Gia.

Hình tượng của Quan Thế Âm Bồ Tát

Phật Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Phật với lòng từ bi vô bờ, nên mỗi khi có chúng sinh kêu cầu cứu giúp, Ngài sẽ xuất hiện dưới một hiện thân phù hợp để cứu độ chúng sinh. Nhiều người thắc mắc Quan Âm Bồ Tát là nam hay nữ? Mười phương chư Phật không hề có nữ thân. Hình tượng của Người chỉ là hình ảnh thị hiện chứ không phải là Phật thân của người. 

Hành trang của Quan thế âm bồ tát

Hành trang của Quan Thế Âm Bồ Tát được tương truyền lại qua các bộ kinh. Dưới đây là một số bộ Kinh tiêu biểu về cuộc đời của Quán Thế Âm Bồ Tát.

– Theo kinh Đại A-di-đà, Quán Thế Âm Bồ Tát là thị vệ bên trái của Đức Phật. Ngài đảm nhiệm việc giải cứu chúng sanh trong cõi Tây Phương Cực Độ. Khi chúng sanh gặp nạn niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài sẽ gia hộ cứu vớt, soi đường chỉ hướng cho chúng sanh.

– Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà-la-ni, cách nay vô lượng kiếp Quan Thế Âm Bồ Tát là phật tử của Chánh Pháp Minh Như Lai. Ngài nguyện lực đại bi nên đã hiện thân thành Bồ Tát để dễ thực hiện Đại Nguyện. Vì vậy, ở một số nơi ta vẫn thường nghe gọi Ngài với cái tên là Phật Quan Âm

– Theo kinh Pháp Hoa ở phẩm Phổ Môn, Quan Thê Âm Bồ Tát có 33 hóa thân (thân Phật,…thân Đồng Nam, Đồng Nữ). Để cứu vớt chúng sanh khỏi hoạn nạn, khổ đau, Ngài thường biến hóa, vận dụng 14 năng lực vô ủy. 

Các hình tượng của Quan thế âm bồ tát. Quan thế âm bồ tát là ai

– Theo kinh Đại A-di-đà, Quán Thế Âm Bồ Tát – là bồ tát trợ tuyên đắc lực của Phật A Di Đà ở phương tây, Quán Thế Âm Bồ Tát thể hiện lòng Bi, một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, danh hiệu của ngài thường kèm theo từ Đại Bi, dạng kia của Phật tính là Trí tuệ, là đặc tính được Bồ Tát Đại Thế Chí thể hiện, bên tay phải của Phật A Di Đà. Trong các loại tranh tượng về Quán Thế Âm, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Bồ Tát có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu (11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả) Trên đầu có khi có tượng A-di-đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng, vì vậy nên Quán Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ hay nhành dương liễu và một bình nước Cam Lồ:

– Hình tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay: Con số 1.000 biểu trưng cho sự viên mãn, nên tượng được tạo với đủ 1.000 mắt, 1.000 tay (gồm 40 tay lớn và 960 tay nhỏ, trong mỗi tay đều có mắt), có nơi chỉ tạo tượng với 40 tay lớn, hoặc 42 tay lớn (có 2 tay chắp, 2 tay đặt trong tư thế thiền định) mà không tạo tay nhỏ. Nghệ nhân ở các nước Phật giáo theo truyền thống Đại thừa thường tạo tượng theo mẫu thức 40 tay lớn, bởi con số 40 ứng với 25 hữu (25 quốc độ của chúng sinh trong tam giới – 25×40=1.000)

Bồ Tát Quan Thế Âm tay trái cầm bình cam lồ, tay phải cầm cành dương liễu. Nước cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi. Nước này rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ êm dịu mọi khổ đau của chúng sanh. Cành dương liễu là biểu tượng của sự nhẫn nhịn. Bởi việc tu hành cũng khó khăn như đi trong cơn bão lớn. Những cành cây cứng mạnh lại dễ gãy đổ. Cành dương liễu tuy yếu mềm nhưng dẻo dai, gió chiều nào cũng thuận theo nên khó gãy. Quan Âm Bồ tát dùng cành dương rưới nước cam lồ, biểu trưng cho lòng nhẫn nhục nhu nhuyễn. Thiếu cành dương không rưới nước cam lồ được. Cũng vậy, có lòng từ bi mà thiếu đức nhẫn nhục thì lòng từ bi đó không lâu dài, không đem đến lợi ích viên mãn cho chúng sinh. Cho nên đức nhẫn nhục, lòng từ bi luôn đi đôi với nhau, thiếu một đức thì đức kia không thể thực hiện. 

Thờ Phật Quan Thế Âm Bồ Tát là để giác ngộ, giải thoát, trở thành con người từ bi hỷ xả, tình thương rộng lớn. Vậy nên, khi thỉnh tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát để thờ, người Phật tử nên hiểu rõ ý nghĩa hình tượng, hiểu rõ đức hạnh của Phật Quan Thế Âm Bồ Tát để từ đó yên tâm một lòng hướng Phật. Chúng tôi hy vọng bài viết đã giúp quý vị biết được Quan Thế Âm Bồ Tát là ai.

Xem thêm:

Quan Thế âm Bồ tát có phải là Phật không? Sự thật về Quan thế âm bồ tát

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *