Phân tích Thương vợ học sinh giỏi

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích Thương vợ học sinh giỏi. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp nâng cao, chi tiết từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh chuyên văn. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý Phân tích Thương vợ học sinh giỏi

1. Mở bài

Thơ ca Việt Nam khi xưa, trong thời Trung đại được các nhà nho dùng để dạy đời, tỏ chí mà ít viết về đời sống hàng ngày. Đặc biệt là ít viết về người vợ của mình.

Bài thơ Thương vợ của Tú Xương là bài thơ nổi tiếng nhất viết về người vợ của ông.

2. Thân bài

a. Việc mưu sinh vất vả của bà Tú: 4 câu đầu

Bà Tú kiếm sống bằng nghề buôn bán gạo

“ Quanh năm” : thời gian bán buôn suốt cả năm, không trừ ngày nào, triền miên

“ Mom sông”: địa điểm buôn bán của bà Tú, là nơi cheo leo, nguy hiểm, gợi sự không chắc chắn để buôn bán.

“ Nuôi đủ năm con với một chồng” : việc buôn bán chỉ đủ ăn, không dư giả gì.

2 câu đề thể hiện sự vất vả của bà Tú, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của cha con ông Tú với công lao của bà Tú.

“ Lặn lội thân cò” : sự vất vả, cô đơn khi kiếm ăn một mình.

“ Quãng vắng” : Không gian vắng vẻ, ít người và nguy hiểm.

“ eo sèo” : sự chen lấn, xô đẩy vì miếng cơm manh áo.

“ buổi đò đông”: cảnh chen chúc, bấp bênh, chơi vơi và nguy hiểm.

Hiện lên hình ảnh bà Tú: người phụ nữ vất vả, chịu đựng, sự hi sinh lớn lao.

b. Đức tính cao đẹp của bà Tú:

Duyên và nợ là 2 từ có nghĩa trái ngược nhau để chỉ hạnh phúc gia đình.

Cuộc đời bà Tú duyên một mà nợ có đến hai. Nhưng bà không hề trách móc hay oán thán số phận.

Hai câu luận cho thấy bà Tú là người phụ nữ vô cùng thủy chung, cho nên dù duyên hay nợ bà cũng đành lòng.

Trần Tế Xương sử dụng số từ tăng tiến, kết hợp với phép đối, thành ngữ, từ ngữ dân gian để bộc lộ kiếp nặng nề nhưng rất mực hi sinh của vợ mình.

c. Hình ảnh ông Tú và thói đời ăn ở bạc: 2 câu kết

Dường như trong 2 câu kết là lời Tú Xương tự chửi mình về tội làm chồng mà hờ hững để vợ phải vất vả, hi sinh.

Đồng thời cũng là tiếng chửi cả xã hội bất công, chửi thói đời đểu cáng, bac bẽo để cho bà Tú vất vả mà vẫn nghèo đói.

Đằng sau tiếng chửi là người chồng không hề hờ hững mà yêu thương vợ rất mực, tài hoa và giàu lòng tự trọng.

3. Kết bài

Bài thơ là tiếng lòng chân thành của Tú Xương dành đến cho người vợ của mình, người đã vất vả kiếm sống nuôi gia đình.

Nhân cách đẹp của Tú Xương khi đã dám lên tiếng chia sẻ sự vất vả với vợ, sự xấu hổ khi không thể đỡ đần cho vợ mình, dám nhận mình là “ quan ăn lương vợ” cùng với tài năng nghệ thuật rất đáng trân trọng.

Phân tích Thương vợ học sinh giỏi – Bài mẫu 1

          Thơ ca Việt Nam khi xưa, trong thời Trung đại được các nhà nho dùng để dạy đời, tỏ chí. Nhà nho xưa thể hiện chí làm trai, nợ công danh, chí kinh bang tế thế hay những ưu tư về cuộc đời, về thời đại mà ít khai thác đời sống tình cảm, đời tư thường nhật của mình, đặc biệt là viết về người phụ nữ. Trong thế kỉ XIX có Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã làm được điều đó. Nhưng nổi tiếng hơn cả là những bài thơ của Tú Xương. Tú Xương không chỉ lên án đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ bằng những bài thơ trào phúng sâu sắc mà còn để lại nhiều bài thơ trữ tình, nhất là về người vợ của ông. Thương vợ là một trong những bài thơ như thế, vừa sâu sắc, tình cảm, vừa hóm hỉnh, vui tươi.

          Sách vở còn ghi lại, bà Tú có thời gian làm nghề buôn gạo, “bà Tú buôn gạo hàng đội hàng thúng chứ không có vốn buôn hàng thuyền” ( Xuân Diệu).

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

          Bà Tú ở đầu bài thơ hiện lên với công việc buôn bán ở mom sông. “ Quanh năm” là thời gian đằng đẵng, tuần hoàn, ngày nối ngày, người mẹ, người vợ ấy vẫn tần tảo sớm hôm buôn bán để nuôi chồng, nuôi con. Bà không có cửa hàng hay quán xá mà buôn bán ở “ mom sông”, chỉ là chỗ đất nhô ra ở cửa sống, nơi đầy rẫy những nguy hiển, ba bề đều là nước, nơi ấy chênh vênh, không ổn định. Gợi cho người đọc sự không chắc chắn để bán buôn. Bà không chỉ bán một hay hai hôm mà quanh năm, ngày qua này, tháng tới tháng, từ năm này qua năm khác. Câu thơ đầu hiện lên hình ảnh bà Tú tần tảo, chịu khó mặc khó khăn và vất vả. “ Nuôi đủ năm con với một chồng” mặc dù việc buôn bán vất vả để nuôi sáu miệng ăn nhưng cũng chỉ đủ ăn. Không những chỉ nuôi những đứa con thơ dại mà còn phải nuôi cả người chồng, lo lắng cho việc khoa cử mỗi lần đi thi của ông. Chỉ kể đến tiền cho chồng đi thi có khi còn nhiều hơn để nuôi những đứa con ở nhà. Nhà thơ từng lên tiếng tố cáo bọn quan lại, quắc mắt khinh đời giờ coi mình là con người nhỏ bé được bà Tú. Hai câu đề cho thấy sự vất vả nhưng rất đảm đang gánh vác và yêu thương chồng con mới dám hi sinh, chịu đựng nhọc nhằn. Đồng thời, đằng sau những vất vả của bà Tú là sự biết ơn sâu sắc của chồng và con với bà vì đã không đỡ đần được sự nhọc nhằn của bà.

          Hình ảnh bà Tú lại hiện lên ở hai câu thực hết sức chân thực và sâu sắc:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

          Trong hai câu thơ trên, hình ảnh độc đáo và gần gũi với đời sống hàng ngày cũng như đời sống văn thơ dân gian nhất chính là hình ảnh con cò. Trong thơ Tú Xương, con cò hiện lên không phải là con cò mà được diễn đạt bằng từ “ thân cò”. “ Lặn lội thân cò” chính là sự vất vả, đơn chiếc khi kiếm ăn một mình, cực nhọc biết bao khi “ quãng vắng” nơi vắng vẻ, ít người còn rất nguy hiểm. “ Thân cò” ấy lại “ eo sèo”, liều lĩnh, giành giật trong làm ăn vì miếng cơm manh áo của chồng con trong “ buổi đò đông”. “Thân cò” ấy lặn lội, lam lũ cả một đời chính là hình ảnh biểu tượng của người phụ nữ ân cần, chăm chỉ làm vụng, lam lũ, vất vả. Thân cò ấy chính là thân phận, là sự mỏng manh trước cảnh đời khắc nghiệt. Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp đã làm nổi bật hình ảnh “ thân cò” lặn lội khi quãng vắng, eo sèo buổi đò đông. Một “ thân cò” gầy yếu nhưng lam lũ, vất vả. Qua bốn câu đầu tiên, hình ảnh bà Tú vẫn luôn là người phụ nữ vất vả, chịu đựng cùng với sự hi sinh lớn lao dành cho chồng con mình.

          Tuy gian khổ là vậy, nhưng bà Tú không buông một lời oán trách mà luôn chịu đựng, kiên cường:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

          Nói về cuộc sống gia đình mình Tú Xương đã dùng từ ngữ chân thực mà sâu sắc. “ Duyên” và “ nợ” là hai từ có ý nghĩa trái ngược nhau để chỉ hạnh phúc gia đình. Nếu cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp thì là cái duyên, còn cực nhục, khổ đau thì là nợ. Cuộc đời bà Tú duyên một mà nợ những hai. Mặc dù biết vậy nhưng cũng “ âu đành phận” mà không một lời oán trách. Hình ảnh người phụ nữ ấy lại hiện lên với sự tần tảo, vất vả muôn phần : “ Năm nắng mười mưa dám quản công”. Sự vất vả ấy đâu “ dám quản công” chỉ “ âu đành phận”.  Tú Xương đã sử dụng rất khéo số từ trong thơ của mình, vừa theo thứ tự tăng dần vừa đối nhau: một, hai, năm, mười, gợi được những khó khăn chồng chất ngày một tăng dần. Đồng thời câu thơ cũng cho thấy sự kiên cường và phi thường của người vợ, người mẹ đã gánh vác, chấp nhận tất cả để lo lắng, săn sóc cho chồng con mình thật tốt.

          Sau tất cả sự khó khăn ấy là hình ảnh người chồng tuy không thể làm được gì to lớn giúp vợ nhưng rất mực yêu thương và tài hoa:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không.

          Bà Tú tuy vất vả là vậy nhưng đâu có chửi chồng mình. Hai câu kết chính là lời chửi chua xót mà ông Tú thay vợ dành cho mình. Ông tự chửi mình về tội làm chồng mà hờ hững, để vợ phải vất vả, lặn lội kiếm ăn mà không đỡ đần được. Bà Tú không những không được nhờ vả vào chồng mà còn lấy phải ông chồng bạc bẽo, hờ hững, chẳng giúp gì được cho gia đình mà còn phải lo lắng và nuôi cả chồng mình. Đồng thời, ông Tú chửi cả một xã hội bất giờ bất công, ông chửi thói đời đểu cáng, bạc bẽo để cho bà Tú vất vả nhưng vẫn nghèo đói, khó khăn. Tiếng chửi ấy chính là tiếng tố cáo đanh thép xã hội không cho người ta quyền thi cử chính đáng để làm quan đỡ đần gia đình mặc dù ông Tú là người tài hoa. Đằng sau lời chửi ngoa ngoắt là một người chồng không hề hờ hững mà là một người chồng yêu quý, thương vợ rất mực, tài hoa, chung thủy và giàu lòng tự trọng.

          Bài thơ là tiếng lòng chân thành của Tú Xương dành đến cho người vợ của mình, người đã vất vả kiếm sống nuôi gia đình. Bài thơ cũng hiện lên nhân cách cao đẹp của Tú Xương khi đã dám lên tiếng chia sẻ sự vất vả với vợ, sự xấu hổ khi không thể đỡ đần cho vợ mình, dám nhận mình là “ quan ăn lương vợ” cùng với tài năng nghệ thuật rất đáng trân trọng.

Phân tích Thương vợ học sinh giỏi – Bài mẫu 2

          Trong thơ ca trung đại, có thể xem Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy. Thơ ông trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Tú Xương còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng, đặc biệt là những bài thơ viết về vợ của mình, trong đó phải kể đến tác phẩm “ Thương vợ”.

          “Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất của Tú Xương viết về vợ. Bài thơ chan tình yêu thương nhà thơ dành cho người vợ chịu thương chịu khó vừa là một lời tâm sự,  một bài thơ mang cảm hứng thế sự sâu sắc.

          Mở đầu bài thơ là hình ảnh bà Tú tần tảo, đảm đang, yêu thương chồng con:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

          “Quanh năm” là từ chỉ thời gian liên tục, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác. Quanh năm buôn bán, bà Tú dường như không được một ngày nghỉ ngơi. Đã vậy, bà lại “buôn bán ở mom sông”, là nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh, đầy khó khăn, nguy hiểm để “nuôi đủ năm con với một chồng”.

          Năm con với một chồng như một đòn gánh đè nặng lên đôi vai bà Tú. Một bên là năm con, bên kia là một chồng, hình dáng bà Tú trở nên côi cút, tội nghiệp như một thân cò lặn lội:

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

          Có lẽ thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mới mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Thế nhưng, con cò trong ca dao dù tội nghiệp lặn lội bờ ao nhưng vẫn không đáng thương như bà Tú hiện lên trong cái rợn ngợp của thời gian “ khi quãng vắng”. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu, bất trắc. Đó là chưa kể, bà Tú còn phải “ eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

          “Eo sèo” là từ láy tượng thanh gợi cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Đó là cảnh cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực mát bà Tú phải “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn. 

          Đến hai câu luận, Tú Xương tiếp tục khắc họa sự lam lũ, sự hi sinh cao cả của vợ:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

          “Duyên” là duyên số, duyên phận. “ Nợ” là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. Người ta hay nói vợ chồng đến với nhau là duyên. Nhưng bà Tú đến với ông Tú duyên chỉ một mà nợ thì gấp bội lần. Chồng thi trượt không lập được công danh, mọi việc trong nhà đều một tay bà Tú lo lắng, bươn chải, chịu thương chịu khó làm nên. “Nắng”, “mưa” là thế, là tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực bà phải trải qua. Thế nhưng, người phụ nữ ấy chưa từng than phiền, chẳng bao giờ dám quản công. Các số từ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình.

          Chỉ với sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một cách chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đôi, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò” … đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

          Từ sự trân quý vợ, đến hai câu kết, Tú Xương chuyển sang tự trách mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

          Tú Xương trách mình phụ thuộc vợ, không giúp được cho vợ lại còn “ăn ở bạc”, tạo thêm gánh nặng cho vợ. Người chồng vốn là trụ cột gia đình, là chỗ dựa cho vợ con nhưng khi Tú Xương ở vai trò người chồng, người cha thì chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống trong một chế độ phong kiến mục rỗng bạo tàn, giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Chính xã hội ấy đã không công nhận tài năng thật sự của ông, một xã hội bóp nghẹt về quyền con người khiến cả vợ ông, lẫn ông đều chìm trong đói khổ, lầm than.

          Bài thơ “ Thương vợ” quả đúng là bài thơ trữ tình hay nhất của Tú Xương. Chính tình cảm chân thành, sự đồng cảm và thấu hiểu vợ cũng là những người phụ nữ trong xã hội xưa đã mang đến giá trị và dư quên của tác phẩm Tú Xương trong lòng hậu thế.

Phân tích Thương vợ học sinh giỏi – Bài mẫu 3

          Văn học trung đại Việt Nam không thiếu những thi nhân nổi bật, mỗi nhà thơ có phong cách riêng, đặc trưng riêng được thể hiện rõ nét trong mỗi tác phẩm của mình. Một trong những thi nhân, nhà thơ khiến cho bao thế hệ người đọc phải suy ngẫm, day dứt trăn về đời sống xã hội, về hiện thực khoa cử quan trường đó là nhà thơ Trần Tế Xương. Cuộc đời của nhà thơ có thể nói là nhiều thăng trầm, bởi rất nhiều lần nhà thơ đi thi những đều thi hỏng, nổi tiếng thông minh, tài giỏi từ nhỏ nhưng Tế Xương phải chịu đựng cuộc sống nghèo khổ và khốn khó. Trong những năm tháng nhọc nhằn và vất vả ấy, Tế Xương đã sống nhờ vợ, nhà thơ bày tỏ tình yêu thường cảm thông với vợ mình qua bài thơ Thương vợ – một trong những thi phẩm xuất sắc thể hiện tài năng thơ Trần Tế Xương và nhân cách cao đẹp, tấm lòng ngay thẳng không chịu luồn cúi, khom mình dưới sự ngột ngạt của chế độ phong kiến đường thời.

          Có thể chia tác phẩm Thương vợ thành bốn phần: đề, thực, luận, kết. Hai câu mở đầu tác phẩm, tác giả viết:.

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

          Chỉ với hai câu thơ tác giả đã tái hiện cho chúng ta thấy hình ảnh vất vả, tất bật của bà Tú. Từ chỉ thời gian: Quanh năm cho thấy bà phải làm việc quần quật suốt ngày đêm không nghỉ, dường như tất cả công việc đều đổ dồn trên đôi vai gầy yếu của bà, từ ngữ chỉ thời gian còn cho thấy quanh năm kéo dài rất dài, rất chậm, nếu một người bình thường làm việc còn có ngày nghỉ thì hình như bà Tú làm quần quật không nghỉ, vậy điều gì khiến bà Tú phải hi sinh bản thân mình nhiều như vậy, tất cả đã có ở những từ ngữ tiếp theo: Nuôi đủ năm con với một chồng, thì ra gánh nặng mà bà Tú phải gánh vác không nhẹ chút nào: đàn con nheo nhóc, ông chồng vô công rồi nghề đã khiến bà Tú phải trở thành trụ cột chính cho cả gia đình. Nếu trong thơ Hồ Xuân Hương chúng ta bắt gặp tâm trạng của người phụ nữ đau khổ oán thán vì lấy chồng chung: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, thì ở bài thơ Thương vợ chúng ta thấy nỗi đau khổ của người phụ nữ là phải trở thành trụ cột cho cả gia đình, không những vậy, nơi làm việc cảu bà Tú cũng chứa đầy những nguy hiểm không ngờ: Mom sông mà một khoảng đất trống nhỏ bé, khoảng đất ấy có thể sụp bất cứ lúc nào nếu người ta không cẩn thận và khéo léo, và bà Tú đã làm việc ở nơi đó quanh năm suốt tháng.  Hai câu thơ đã phần nào khái quát cuộc sống cơ cực, khổ cực của bà Tú.Những câu thơ tiếp theo, tác giả viết:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

          Từ lặn lội cho thấy sự nhọc nhằn của bà Tú, bà Tú phải thức khuya dậy sớm, cần mẫn làm việc để có thể có đủ tiền trang trải cho cuộc sống, cho gia đình. Trong văn học Việt Nam chúng ta đã bắt gặp rất nhiều những hình ảnh tảo tần vất vả sớm hôm của những bà mẹ, những bà bủ, bà bầm nhưng sự vất vả hi sinh của họ được trang trọng đặt trên những vần thơ rực lửa của nhà thơ Tố Hữu, họ cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước., phục vụ hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, thực hiện những điều đất nước cần nhân dân cần. Nhưng ở đây Trần Tế Xương đã ví hình ảnh của bà Tú với thân cò, hình ảnh con cò vô cũng quen thuộc trong ca dao, ta vẫn thường nghe:

Con cò bay lả bay la

Bay từ của phủ bay ra cánh đồng.

Hoặc:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

           Hình ảnh thân cò được ví với sự tần tảo hi sinh của những người phụ nữ hay lam hay làm, và Tế Xương với cảm nhận của một thi sĩ, văn nhân ông đã ví hình ảnh nhọc nhằn của người vợ qua hình ảnh con cò, không phải là hình ảnh con cò bay thành từng đàn từng nhóm mà là hình ảnh con cò cô đơn, lẻ loi, hiu quạnh đi kiếm cái ăn. Gánh nặng phải trở thành trụ cột của gia đình đã dồn nén trên vai bà Tú khiến bà cảm thấy mệt mỏi, chán chường. Đọc câu thơ chúng ta có cảm giác như tất cả những nỗi nhọc nhằn trằn trọc của cuộc đời đêu trút hết lên đôi vai gầy yếu của bà Tú. Nơi bà làm việc cũng không phải là nơi an toàn mà đầy rẫy những nguy hiểm. Buổi chợ tan tầm, buổi đò đông là lúc người ta trở về nhà sau một thời gian tất bật, giờ này người ta chen chúc nhau thậm chí xô đổ nhau để lên thuyền. Bà Tú cũng là một trong số những người như thế, bà phải đối mặt với nguy hiểm rình rập cả ngày, có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Câu thơ vùa dứt nhưng để lại cho người đọc bao nhiêu âu lo, phiền não. Sức mạnh của người phụ nữ thật phi thường có thể chịu đựng được những khó khăn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đến đây mỗi chúng ta như nghẹn ngào vì sự vất vả, sự hi sinh quá lớn lao của bà Tú. Từ láy lặn lội đã vẽ lên hình ảnh người phụ nữ chịu thương chịu khó vì gia đình, từ eo sèo để nhắc đến khung cảnh xã hội đầy rẫy những hiểm nguy đối với người phụ nữ. Sống trong hoàn cảnh như thế có lẽ bà Tú phải cô đơn lắm, đau khổ lăm khi một mình phải gánh gồng tất cả mọi thứ trong gia đình mà không có ai đỡ đần. Những câu thơ tiếp theo Tú Xương viết:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công.

          Đọc những câu thơ này người đọc tự hỏi vì nguyên nhân gì, vì lý do gì mà bà Tú phải tất bật ngược xuôi nhiều đến như thế thì ra cái lý do sâu xa hiển hiện trước mặt đó là vì chồng vì con: Một duyên là nhân duyên giữa vợ chồng, có cây nói rằng, vợ chồng là nghĩa trăm năm, phải tu ngàn năm mới có thể thành vợ chồng, cái nguyên cớ thứ hai khiến bà Tú trở thành trụ cột của gia đình đó là hai nợ: nợ vợ chồng và nợ con cái. Chỉ với những lý do như vậy chúng ta đủ hiểu con người bà Tú thật nặng nghĩa nặng tình. Thời phong kiến đã quy định rất rõ ràng về bổn phận và nghĩa vụ của người con gái trong gia đình: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử… những duyên nợ ấy thật nặng nề khiến chúng ta có cảm tưởng rằng tất cả những quyền lợi của người phụ nữ đều bị tước đoạt họ chỉ có một bổn phận duy nhất là phục vụ chồng, phục vụ con, phục vụ cha… bổn phận đó ràng buộc người phụ nữ khiến họ mất tự do không thể sống cuộc đời mà mình làm chủ, không thể vươn lên để đả phá chế độ phong kiến đương thời. Câu thơ dường như đề cập đến vấn đề mà bất cứ người phụ nữ nào trong xã hội đều gặp phải.Chính vì lẽ sống như vậy mà bà Tú đã hi sinh sức lực tuổi trẻ của mình để bảo vệ mục đích sống, bảo vệ tổ ấm của mình dù rằng: Năm nắng mười mưa chẳng quản công, công việc dù có nặng nề khổ cực bao nhiêu những bà Tú vẫn không nề hà vẫn cố gắng hoàn thành bổn phận của mình dù rằng thời gian trôi qua rất nhanh, dòng đời biến động rất nhiều.  Thành ngữ năm nắng mười mưa ám chỉ sự nhọc nhằn, vất vả của bà Tú, ám chỉ sự kìm kẹp của hệ tư tưởng phong kiến, sự mục ruỗng của xã hội đương thời đồng thời xen lẫn vào đó là sự xót xa thương cảm của người chồng bất tài vô tướng. Tú Xương đã tái hiện một cách khá rõ ràng tất cả những khó khăn vất vả mà Bà Tú đã trải qua, đây là một trong những dòng cảm xúc nghẹn ngào mà tác giả muốn dành cho vợ mình, dành cho tri âm tri kỉ.  Hai câu thơ cuối thể hiện rõ nhất tâm trạng bất lực của ông Tú:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

           Khi đã trải qua quá nhiều bất công quá nhiều chuyện trong cuộc sống, Tú Xương đã không còn lạc quan như xưa, mộng tưởng sẽ thành danh cũng theo đó mà tan biến, nhìn vào thực tế cuộc sống thì chính bản thân ông đang phải sống nhờ vợ, khiến cho vợ buồn lòng. Hai câu thơ trên không chỉ miêu tả thực tế cuộc sống khổ cực, nhọc nhằn mà còn bộc lộ tâm trạng đau khổ, bất lực của nhà thơ trước sự bất công, bạc bẽo của cuộc đời. Bà Tú tuy có chồng nhưng có mà như không có vì chồng cũng chẳng giúp ích được gì cho bản thân bà. Đã thế để phục vụ cho những hoài bão, mộng tưởng của chồng bản thân bà phải hi sinh cuộc đời mình, những thú vui của mình, lao đầu vào làm việc để thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ của người vợ. Tiếng cười của Tú Xương là tiếng cười trào phúng, tác giả tự cười cho chính bản thân mình nhưng đằng sau nụ cười nhếch mép ấy là nỗi xót xa vì không thể giúp được gì cho vợ, là sự đau đớn khi phải chứng kiến những thói đời bạc bẽo. Thẳm sâu trong trái tim ông tí vẫn dành cho bà Tú một vị trí trang trọng, sự tôn trọng sự biết ơn những gì mà bà Tú đã hi sinh vì gia đình, vì chồng con. Khi đọc lại bài thơ này chúng ta thấy hiện lên thật đẹp những phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam được kết tinh ở bà Tú: sự siêng năng, chăm chỉ, sự tần tảo, chịu thương chịu khó.

          Bằng việc vận dụng một cách nhuần nhuyễn sáng tạo ngôn ngữ thi liệu văn hóa dân gian, bằng sự kết hợp tài tình giữa trữ tình và trào phúng và bằng con mắt tinh tường của một thi sĩ, bằng trái tim yêu nghệ thuật Tú Xương đã cho bạn đọc một thi phẩm giá trị, tác giả đã dựng thành công chân dung bà Tú vất vả tất bật sớm hôm vì cuộc sống vì gia đình, bên cạnh đó bà Tú là hình ảnh đại diện những phẩm chất cho những người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời đọc bài thơ Thương vợ của Tú Xương chúng ta đồng cảm cho số phận, thân phận bé mọn của những người phụ nữ trong xã hội cũ và bản thân chúng ta cảm thông với những vất vả khó khăn, những cùng cực ở cuộc đời mà nhà thơ đã trải qua.

Phân tích Thương vợ học sinh giỏi – Bài mẫu 4

          Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi còn sống càng hiếm hoi hơn. Các thi nhân thường chỉ làm thơ khi người bạn trăm năm đã qua đời. Kể cũng là điều nghiệt ngã khi người vợ đi vào cõi thiên thu mới được bước vào địa hạt thi ca.

          Bà Tú Xương có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được: Ngay lúc còn sống bà đã đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng. Trong thơ Tú Xương, có một mảng lớn viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất.

          Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và phẩm chất cao đẹp của người vợ.

          Câu thơ mở đầu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Hoàn cảnh vất vả, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. Quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Quanh năm còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu, lại như một bối cảnh làm hiện lên hình bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi:

Quanh năm buôn bán ở mom sông.

          Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian, đã làm hao hụt cả ý thơ. So với câu ca dao: Con cò lặn lội bờ sông, câu thơ của Tú Xương:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

          Là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ – đưa ra từ lặn lội lên đàu câu, cách thay từ – thay từ con cò bằng thân cò, càng làm tăng nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Từ thân cò gợi cả nỗi đau thân phận, so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc, thấm thía hơn.

          Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc thì câu thứ tư lại làm rõ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú:

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

          Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng. Trong ca dao, người mẹ từng dặn con: Con ơi nhơ lấy câu này / Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua. “Buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, mè nheo, cau gắt, những sự chen lấn xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy. Hai câu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn bả trong hoàn cảnh chen chúc làm ăn.

          Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương: tấm lòng xót thương da diết.

          Cuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú. Bà là người đảm đang tháo vát:

Nuôi đủ năm con với một chồng

          Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý, từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức: “Cơm hai bữa: cá kho rau muống – Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô” (Thầy đồ dậy học).

          Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự hy sinh rất mực của vợ:

Năm nắng mười mưa dám quản công

          Ở câu thơ này, “nắng mưa” chỉ sự vất vả, “năm, mười” là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

          Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới thấy. Khi đã thấy rối thì ấn tượng thật sâu đậm. Ở bài thơ Thương vợ cũng vậy. Ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ. Về câu thơ: “Nuôi đủ năm con với một chồng”, có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi mình là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi. Tú Xương đã không gộp mình với con để nói mà tách riêng, con riêng rất rạch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ.

          Nhà thơ không chỉ cảm phục, biết ơn sự hy sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách, tự lên án bản thân. Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên một mà nợ hai. Tú Xương tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu. Nợ gấp đôi duyên, duyên ít nợ nhiều. Ông chửi thói đời bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời. Sự hờ hững của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ Tú Xương tự rủa mát mình cũng là lời tự phán xét, tự lên án:

Có chồng hờ hững cũng như không

          Ở cái thời mà xã hội đã có luật không thành văn bẳn đối với người phụ nữ: “xuất giá tòng phu” (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì “phụ xướng, phụ tuỳ” (chồng nói, vợ theo), thế mà có một nhà nho dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quân ăn lương vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhân khuyết điểm. Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao.

          Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ vẻ đẹp nhân bản của hồn thơ Tú Xương. Ở bài thơ này, tác giả không chỉ thương vợ mà còn ơn vợ, không chỉ lên án “thói đời” mà còn tự trách.

          Nhà thơ dám tự nhân khuyết điểm, càng thấy mình khiếm khuyết càng thương yêu, quý trọng vợ hơn.

          Tình thương yêu, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gố rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *