Phân tích Người lái đò sông Đà học sinh giỏi – Văn mẫu 12 hay nhất

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích Người lái đò sông Đà học sinh giỏi. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp nâng cao, chi tiết từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh chuyên văn. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý Phân tích Người lái đò sông Đà học sinh giỏi

1. Mở bài:

Giới thiệu vấn đề nghị luận: phân tích tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.

2. Thân bài:

a) Luận điểm 1: Khái quát tác giả, tác phẩm.

* Tác giả Nguyễn Tuân.

– nhà văn lớn của văn học Việt Nam.

– văn phong đa dạng phong phú với nhiều biến chuyển trong thời kì trước và sau cách mạng

+ trước cách mạng theo phong cách xê dịch, chối bỏ thực tại, tìm về giá trị quá khứ mang hơi thở vang bóng một thời.

+ sau cách mạng gắn với vẻ đẹp cuộc sống và quần chúng  nhân dân.

+ phong cách nghệ thuật độc đáo: khám phá thế giới ở bình diện văn hóa, thẩm mỹ, luôn miêu tả con người trong vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ.

* Tác phẩm: Người lái đò Sông Đà.

– là bài tùy bút xuất sắc in trong tập “Sông Đà” (1960)

– là thành quả của chuyến đi gian khổ nhưng rất hứng thú của nhà văn vào những năm 1958-1960 lên mảnh đất Tây Bắc để khám phá thiên nhiên, con người Tây Bắc.

b) Luận điểm 2: Hình ảnh con Sông Đà.

* Sông Đà hung bạo:

– Đá bờ sông dựng vách thành.

– Mặt ghềnh Hát Loóng.

– Quãng Tà Mường Lát phía dưới Sơn La với những hút nước ngày đêm xoáy tít.

– Thác đá trên sông

+ từ xa: âm thanh “tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”, được so sánh với “ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu che nứa nổ lửa..”.

+ đến thác: “sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”

– bày ra ba trùng vi thạch trận vây hãm lấy người lái đò trên sông.

– Con sông hàng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình, làm mẩy với con người

Núi cao sông hãy còn dài

Năm năm báo oán đời đời đánh ghen.

* Sông Đà trữ tình

– Từ tàu bay nhìn xuống: đẹp dịu dàng như người thiếu nữ Tây Bắc, màu sắc nước sông đa dạng phong phú biến chuyển theo mùa.

– Với người đi rừng lâu ngày:

+ như một cố nhân dịu dàng với bờ, với bãi.

– Cảnh hai bên bờ sông:

+ lặng như tờ.

+ hoang dại như một bờ tiền sử.

+ thi vị và sinh động với con hươu thơ ngộ, đàn cá dầm xanh quẫy vọt.

c) Luận điểm 3: Hình tượng ông lái đò.

* Lai lịch:

– Là một tay đò lão luyện

+ lâu năm trong nghề.

+ từng trăm lần xuôi ngược trên dòng sông và tự tay lái chính hơn 60 lần.

+ am hiểu đặc điểm của con sông.

* Vẻ đẹp ngoại hình:

– Ông già chừng 70 tuổi nhưng còn rất khỏe và tráng kiện.

+ thân hình: “gọn quánh như chất sừng, chất mun”.

+ hai cánh tay “lêu nghêu như cái sào”.

+ đôi chân “khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng”.

+ nhỡn giới “vời vợi như mong một cái bến xa”.

* Vẻ đẹp phẩm chất:

– Hoàn cảnh, tình huống xuất hiện đặc biệt:

+ ở con thác dưới.

+ cuộc chiến đấu không cân sức với dòng sông hung bạo.

=> tỏa sáng những vẻ đẹp phẩm chất ở người lái đò.

+ gan dạ, dũng cảm.

+ thông minh, mưu trí.

+ tài hoa nghệ sĩ.

d) Luận điểm 4: Đánh giá nghệ thuật, nội dung.

3. Kết bài:

– Khẳng định ý nghĩa và giá trị của Người lái đòi Sông Đà.

Phân tích Người lái đò sông Đà học sinh giỏi – Bài mẫu 1

      Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Trước cách mạng tháng 8 tên tuổi của ông được biết đến thông qua tác phẩm “Vang bóng một thời”, “Một chuyến đi”,…Sau cách mạng tháng 8, ông chuyển sang thể loại tùy bút và thành công nhất ở thể loại này chính là tùy bút “Người lái đò sông Đà”. Tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc không chỉ ở hình tượng con sông Đà “hung bạo, trữ tình” mà còn bởi hình tượng người lái đò hiên ngang trên thác dữ.

      Người lái đò sông Đà là một thiên tùy bút xuất sắc được in trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân. Đó là kết quả của nhiều dịp đi và viết về Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp của ông. Tác phẩm là một thiên tùy bút mang đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Người nghệ sĩ tài hoa đã dùng cây bút của mình để khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước và con người lao động Việt Nam.

      Mở đầu thiên tùy bút, Nguyễn Tuân đã dẫn hai câu thơ làm đề từ: “đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” và “Chúng thủy giai đông tẩu/Đà giang độc bắc lưu”. Như vậy nhà văn đã ngầm thông báo với bạn đọc về hai đặc điểm của con sông với nét tính cách đối nghịch: dữ dội, hiểm ác – kiều diễm, thơ mộng. Dưới con mắt của bậc du tử luôn khát tìm sự lạ hóa, thiên nhiên sông Đà như một bản thể có tâm tính phức tạp. Thoạt tiên ta có thể nhận thấy tính chất hùng vĩ, dữ dội hiểm ác của con sông Đà.

      Theo Nguyễn Tuân có lẽ đây là con sông lắm thác ghềnh, vực xoáy, vô cùng nguy hiểm cho con người. Mùa lũ đến, nó “ác như người dì ghẻ”, dữ dằn như con quái vật, trở thành “kẻ thù số một” của con người. Chất hùng vĩ của con sông Đà được hiện lên trước hết ở cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành. Những bức thành vách đá chẹt lấy lòng sông hẹp. Độ hẹp của lòng sông được nhà văn xoay ngắm đủ các giác độ: “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”, “chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”,…thật thú vị. Một sức hút bình thường làm sao có nổi sự so sánh vừa chính xác, vừa tinh tế vừa phong phú, vừa bất ngờ và lạ lùng đến thế. Nguyễn Tuân luôn lục lọi đến kiệt cùng cái kho ngôn ngữ muôn màu sắc để đem đến cho người đọc không chỉ cảm nhận bằng thị giác, cảm giác mà cả những tưởng tượng thú vị. Cái khủng khiếp, dữ dội và hiểm ác của con sông Đà tiếp tục được Nguyễn Tuân đặc tả ở những quãng mặt ghềnh Hát Loong: nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn,..rồi tiếp đến là những hút xoáy nước “Hút nước xoáy nước tít đáy lừ lừ như cánh quạ đàn…sâu như tiếng bê tông thả xuống”, “Tiếng nước thở và kêu như cống cái bị sặc”. Chưa dừng lại ở đó Nguyễn Tuân tiếp tục tìm cho ra cảnh tượng gây được ấn tượng mạnh cho đọc giả. Đó là cảnh thác nước: “Tiếng thác nước nghe gần mãi lại réo to mãi lên,…nghe như oán trách rồi lại như van xin…Thế rồi nó bỗng rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre, nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bừng bùng,..”. Nếu như ở đoạn trên nhà văn dùng ngôn ngữ điện ảnh để diễn tả sựu khủng khiếp mà đày lí thú của những xoáy hút nước thì ở đoạn này ta nghe như có âm thanh của bản nhạc giao hưởng, dạo đầu bằng những tiếng nỉ non của dòng thác, rồi nghe như oán trách, van xin, rồi lại như chế nhạo, khiêu khích. Thế rồi bỗng phóng to hết cỡ dồn dập, bừng bừng gào thét hỗn độn tất cả các loại âm thanh của núi rừng, thiên nhiên đang ở đỉnh điểm của cơn phấn khích dữ dội, man dại và cuồng loạn bởi những âm thanh đập ầm ầm vào đá. Để nói cho tận cùng tính dữ dội, hiểm ác của con sông, Nguyễn Tuân tiếp tục đưa người đọc đến khúc ngoặt của sông và chân trời đá: “đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông”. Chúng ngỗ ngược, đứng, ngồi, nằm tùy sở thích. Dường như từ ngàn xưa, sông đã giao việc cho chúng phải bày binh bố trận, có hàng tiền vệ, tuyết giữa và hậu vệ, có cửa sinh, cửa tử, biết dụ biết lừa, biết đánh, biết đá, biết hỏi và biết cả thách thức. Phối hợp với đá là thác nước, chúng hò la vang động làm thanh viện cho đá, có khi liều mạng sóng nước ùa vào làm “bẻ gãy cán chèo, đá trái, thúc gối, túm thắt lưng lật ngửa đánh đờn hiểm…”. Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn ngữ của nhiều ngành khác nhau: võ thuật, thể thao, quân sự để làm sống dậy một con sông. Nhà văn xoay ngắm ở nhiều chiều, nhiều bề: cao – rộng, trên bề mặt – dưới lòng sâu, đào xới đến tận cùng bản chất dữ dằn, hiểm ác để chứng tỏ sông Đà – con thủy quái – kẻ thù số một của con người.

      Sông Đà làm một bản thể chính vì vậy mà bên cạnh sự hùng vĩ, dữ dằn của con sông, sông Đà còn hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình.

      Viết về vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của con sông Đà, Nguyễn Tuân không bằng lòng với những tri thức hời hợt, quen nhàm mà luôn dồn hết tâm huyết, dựng công khó nhọc tìm tòi mang đến cho người đọc sự hiểu biết phong phú, toàn diện về một con sông, một vùng đất giàu giá trị vàng với những trang văn dạt dào cảm xúc. Đây là đoạn văn không còn sự hiện diện của thác, ghềnh, đá, sông Đà ở đoạn này hiền hòa và thơ mộng. Lời văn của Nguyễn Tuân bỗng đổi giọng dạt dào, tha thiết, ngôn ngữ giàu chất thơ, chất nhạc, chất họa. Người đọc có cảm giác như đang được cùng Nguyễn Tuân bồng bềnh trên máy bay rà “từng nét sông tã ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình”, thấy Tổ quốc thật bao la. Để từ đó bậc du tử vảy bút vẽ một bức tranh thủy mặc chỉ trong một câu văn: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùi khói núi Mèo đốt nương xuân”. Thật không còn so sánh nào đẹp hơn dòng chảy của sông Đà với áng tóc của một mĩ nữ.

      Trữ tình và đáng yêu hơn nữa là màu sắc của con sông Đà. Nguyễn Tuân cũng đã nhận ra những sắc màu khác nhau của sông Đà theo từng mùa mang vẻ đẹp riêng “mùa xuân dòng xanh màu xanh ngọc bích”,  qua ánh nắng mùa thu “sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bần đi vì rượu bữa”. Cách nhân hóa và so sánh này cho thấy sự tài hoa của bậc du tử khi miêu tả sắc nước sông Đà.

      Là cây bút suốt đời tìm kiếm và khám phá cái đẹp, Nguyễn Tuân cùng với các đồng nghiệp của mình không quản khó khăn gian khổ băng đèo, lội suối đến với miền Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc để tìm cho ra “cái thứ vàng mười” của núi sông Tây Bắc.

      Trên sông Đà, người lái đò xuôi ngược cả trăm lần. Dòng sông đối với ông “như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Ông hiểu quy luật của dòng nước, đóng đinh vào trí nhớ của mình từng con thác, xoáy nước, luồng lành, luồng dữ, luồng tử luồng sinh, thông minh gan dạ, hoạt bát tự tin như một dũng tướng trong trận đồ bát quái. Vẻ đẹp ngoại hình của người lái đò được Nguyễn Tuân khắc họa đã ngoài bảy mươi, đàu tóc bạc trắng, thân hình như một pho tượng được tạc bằng đá cẩm thạch. Nước da ánh lên chất sừng chất mun. Cánh tay rắn chắc trẻ tráng “lêu nghêu như cái sào”. Cặp mắt tinh anh với nhãn lực nhìn xa vời vợi. Trên ngực nổi lên một số thương tích trên “chiến trường Sông Đà” mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ gọi đó là “thứ Huân chương lao động siêu hạng”. Ông lái đò là một “tay lái tài hoa” từng vượt qua bao trùng vây thạch trận, giao phong sinh tử với “lũ đá nơi ải nước”. Ông là một nhân vật không tên bởi ông là đại diện cho bao con người trên khắp đất nước Việt Nam ngày đêm âm thầm cần mẫn trong lao động, không ngừng đối mặt với những thiên tai, địch họa để giành lấy sự sống và bảo vệ quê hương đất nước. Chính bởi vậy mà hình tượng người lái đò càng trở lên lớn lao và kì vĩ.

      Vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân khắc họa trong ba lần thủy chiến. Cuộc giao tranh giữa một bên là chiếc thuyền con én cùng một con người nhỏ bé, mong manh đơn độc với một bên là gần trăm con thác dữ lớn nhỏ được ví như con quái vật khổng lồ tâm địa hiểm ác đại diện cho sức mạnh kì vĩ, dữ dội của thiên nhiên. Cuộc chiến diễn ra không cân sức nhưng hình ảnh người lái đò tay vẫn giữ chặt mái chèo, chân kẹp chặt cuống lái, hiên ngang, ngoan cường, bình tâm xử lí tình huống một cách dũng cảm, mưu trí, quyết liệt, táo bạo trước con quái vật nanh ác và giành được chiến thắng. Để miêu tả cuộc giao tranh đầy cam go, quyết liệt giữa người lái đò và con sông Đà hung bạo, Nguyễn Tuân đã tung ra vốn kiến thức uyên bác về địa lí, lịch sử và vốn ngôn ngữ thuộc các lĩnh vực thể thao, võ thuật, quân sự kết hợp với các thủ pháp nhân hóa, so sánh liên tưởng khôn lường, bất ngờ để cống hiến cho người đọc những trang văn, những bức tranh thủy chiến, những cảnh quay sống động bằng nghệ thuật ngôn từ đầy tài hoa, kì thú và hấp dẫn.

      Cuộc giao chiến lần một sông Đà hiện lên như một kẻ thù nham hiểm, xảo quyệt, đó là chân trời đá. Đá ở con thác này mai phục hàng ngàn năm, chúng ngỗ ngược đứng, nằm, ngồi tùy sở thích, biết bày binh bố trận như binh pháp Tôn Tử. Gồm 5 cửa trận, trong đó có 4 cửa tử, một cửa sinh chia làm ba tuyến: tiến, trung, hậu vệ…đòi ăn chết con thuyền đơn độc nhưng ông lái vẫn nhớ mặt từng đứa. Khi thạch trận bày xong, có sự phối hợp của nước thác, sóng thác. Nước hò la vang dậy làm thanh viện cho đá. Đá oai phong lẫm liệt, tiến lùi thách thức. Sóng nước như quân liều mạng đá trái, thúc gối vào bụng, vào hông thuyền, lại như đòi túm lấy thắt lưng ông lái dò mà lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt đánh đòn hiểm độc nhất. Song ông lái đò vẫn giữ chặt mái chèo để khỏi bị hất tung ra khỏi trận địa sóng. Sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vô cùng thâm hiểm nhưng ông đò cố nén những vết thương, kiên cường vượt qua cơn hỗn chiến.

      Nguyễn Tuân đã dùng sức mạnh điêu khắc của ngôn từ truyền hồn sống vào từng khối đá, biến chúng thành bày thạch tinh hung hãn trong cuộc giao chiến với con người. Miêu tả thiên nhiên dữ dội nguy hiểm chẳng qua là để tôn vinh sức mạnh, lòng quả cảm của con người trong cuộc chinh phục thiên nhiên. Đoạn văn thật đặc sắc, đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ mới mẻ, lo âu và đầy kiêu hãnh như chính mình là người trong cuộc.

      Để tô đậm hình ảnh người lái đò tài hoa, trí dũng, Nguyễn Tuân tiếp tục miêu tả cuộc giao tranh lần hai. Dưới cây bút tài hoa, phóng túng, con sông Đà tiếp tục được dựng dậy như “kẻ thù số một” của con người với tâm địa còn độc ác và xảo quyệt hơn. Khúc sông này nhiều cửa tử chỉ có một cửa sinh. Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên con sông như cưỡi trên lưng hổ, ông nắm chắc bờm sóng, ghì cương bám chắc vào dòng nước, phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết. Bốn năm bọn thủ quân cửa ải nước liền xô ra định níu thuyền vào cửa tử. Dòng sông như con thú hoang lồng lộn đòi ăn chết con thuyền. Nó là hiện thân của sức mạnh thiên nhiên khó chế ngự. Ông lái đò nắm chắc quy luật của thần sông thần đá, không hề nao núng, luôn tỉnh táo, sáng tạo, thay đổi chiến thuật, ứng phó kịp thời. Mặc cho Đà giang hung dữ, hiểm ác ông vẫn bám chặt dòng nước, ghì cương lái như bám chặt vào sự sống. Nguyễn Tuân thật tài hoa trong cách dùng từ, ông không dùng “ghì tay lái” mà “ghì cương lái” khiến dòng sông như con hổ, dòng thác là hùm beo và con thuyền là chiến mã, còn ông lái vụt lớn cao như kị sĩ anh hùng điều khiển con chiến mã tung hoành trên chiến trận sông Đà. Để chiến thắng, ông lái đò không chỉ dũng cảm mà còn mưu trí trong cách đối phó. Thông qua nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Tuân hình ảnh con người hiện lên thật oanh liệt, hào hùng.

      Cuộc giao tranh thứ ba kịch tính được đẩy lên đỉnh điểm. Ngòi bút của Nguyễn Tuân trở nên bay bổng, linh hoạt bởi nhiều liên tưởng tạt ngang đầy thú vị. Trong trùng vi thạch trận thứ ba này, dòng thác càng trở nên điên cuồng, dữ dội hơn, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là cửa tử. Cái luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu nên sự sống của ông đò càng hết sức mong manh. Chính giữa ranh giới cửa sự sống và cái chết, người đọc càng thấy tài nghệ chèo đò vượt thác thật tuyệt của ông lái. Ông cứ phóng thẳng, chọc thủng, vút qua cổng đá để rồi chiến thắng vinh quang. Thác dữ không chặn bắt được con thuyền, cuối cùng vẫn là con người chiến thắng. Sức mạnh thần thánh của tự nhiên cũng phải cúi đầu. Con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết hớp này đến lớp khác trùng vi thạch trận, biểu lộ sức mạnh phi thường trong quá trình thuần phục sự hung hãn của dòng sông. Ngôn ngữ miêu tả nhanh, gọn mà nhẹ nhàng như chính ông lái đò đang lướt đi trên băng khiến người đọc vô cùng cảm phục những con người lao độ động bình thường giản dị mà rất đỗi phi thường.

      Con sông Đà hung dữ là vậy ông lái đò chỉ coi nó như một chiếc lá thu. Ông đến với nó như đến với một người lắm chứng nhiều tật nhưng đằm thắm như một cố nhân. Ông hiểu nó, lắng nghe âm vang của nó, thủy chung với nó. Qua mỗi lần chinh phục, mọi nguy hiểm đều tan biến: “Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Họ lại đốt lửa nướng cơm lam, bàn chuyện về cá anh vũ, cá dầm xanh như không hề có chuyện gì xảy ra, mặc dù ngày nào họ cũng phải vật lộn, đối mặt với thác dữ. Đó thực là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ.

      Có thể nói, thiên tùy bút Người lái đò sông Đà là tác phẩm mang đậm phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân. Độc đáo, tài hoa, uyên bác trong cách tiếp cận và khai thác đối tượng từ nhiều khía cạnh, phương diện thẩm mĩ, văn hóa. Dòng sông được miêu tả như một công trình mĩ thuật tuyệt vời của tạo hóa, người lái đò được khắc họa với tư chất trí dũng tài hoa, nghệ sĩ. Tác giả vận dụng ngôn ngữ điêu luyện của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau như: hội họa, âm nhạc, điện ảnh, điêu khắc,…huy động kiến thức nhiều lĩnh vực: địa lí, lịch sử, thể thao, võ thuật,..Tât cả đã tổng hợp, tựu chung lại làm nổi bật vẻ đẹp một dòng sông Đà hùng vĩ, dữ dội và thơ mộng cùng với đó là vẻ đẹp hình tượng người lao động rất đỗi bình dị mà kì vĩ, lớn lao.

      Khép lại tùy bút sông Đà, Nguyễn Tuân đã đem đến cho độc giả bức tranh về thiên nhiên sông nước hùng vĩ, dội nhưng cũng không kém phần thơ mộng trữ tình. Hiện lên trong bức tranh đó là hình ảnh con người lao động trí dũng tài hoa của thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh.

Phân tích Người lái đò sông Đà học sinh giỏi – Bài mẫu 2

      Nhắc về các tác giả lớn của văn học Việt Nam, đọng lại trong bạn là những ai? Phải chăng bạn ấn tượng, say mê trước những dòng thơ tình đắm say của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, hay xúc cảm trước ngòi bút có cái gai góc, lạnh lùng của Nam Cao khi viết về người nông dân. Có rất nhiều tác giả chọn cho mình một đề tài để sáng tác mà ta gọi đó là sở trường và trở thành dấu ấn của riêng tác giả. Trên thi đàn văn học, hiếm cây bút “tham lam” như Nguyễn Tuân. Dẫu có đọc bao nhiêu thì vẫn khiến người ta phải ồ lên trước sức sáng tạo dồi dào của ông. Bút kí “Người lái đò Sông Đà” cũng là tiếng ồ ngân vang của bạn đọc.

      Nguyễn Tuân là tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam. Không giống nhiều tác giả gắn mình với một thể loại, một chủ nghĩa văn học thì ở Nguyễn Tuân là niềm ham  khám phá đến tận cùng cái đẹp. Từ cái đẹp vang bóng một thời trước cánh mạng đến sự say mê với cái đẹp của thiên nhiên, con người sau cách mạng. Dù là văn học giai đoạn nào thì ngòi bút tài hoa, phóng khoáng của Nguyễn Tuân vẫn tạo nên những trang văn đặc sắc. Từ  Chữ người tử tù đến tập bút kí Sông Đà  đặc biệt với đoạn trích Người lái đò sông Đà, tất cả chúng đều tiêu biểu cho phong cách và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

      Người lái đò sông Đà là đoạn trích được rút ra từ tập bút kí Sông Đà viết vào những năm 1958-1960 khi nhà văn đi tìm hiểu và khám phá Tây Bắc. Một chuyến đi gian khổ nhưng đầy hào hứng. Chuyến đi thỏa mãn niềm khát khao xê dịch và giúp ngòi bút nhà văn được thỏa sức để vẽ lên hình ảnh sông Đà chân thực đến vậy.

      Vẻ đẹp độc đáo của sông Đà để lại ấn tượng mạnh nhất trong Nguyễn Tuân là một sông Đà hung bạo. Nói sông Đà hung bạo bởi nó thật sự hùng vĩ, dữ dội, mang tính cách dữ dằn độc đáo mà không phải dòng sông nào cũng có. Nó hung bạo với cảnh đá hai bên bờ sông, cảnh  mặt ghềnh Hát Loóng, quãng Tà Mường Lát phía dưới Sơn La với những hút nước ngày đêm xoáy tít, hình ảnh thác đá trên sông gắn với sự nguy hiểm từ ba trùng vi thạch trận.

      Cảnh đá hai bên bờ sông dựng vách thành đã cho bạn đọc cái nhìn bao quát về sự hung bạo của con sông. Hình ảnh “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” đủ cho thấy quãng sông Đà đoạn này hẹp vô cùng. Nhưng chỉ diễn suông như vậy chưa đủ, cách so sánh của Nguyễn Tuân khiến bạn đọc thêm phần hình dung về sự hung tợn ấy: “Có vách đá thành chẹt lòng sông như một cái yết hầu”. Một so sánh nghệ thuật đầy trần trụi khi ta liên tưởng đến cái yết hầu và sự di chuyển của nó, khi mở ra khi chùn lại. Tất cả những gì Nguyễn Tuân sáng tạo đều độc đáo và mang hơi thở hoang dại như thế. Tái hiện bằng hình ảnh chưa đủ nhà văn còn gắn quãng sông hẹp ấy với những chuyển động được gợi ra trong câu văn: “Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Hai bên bờ sông hẹp và cao đến mức đem lại cảm giác nghẹt thở, lạnh lẽo đối với những người có cơ hội đi thuyền qua quãng sông ấy: “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”. Miêu tả cái hung bạo của sông Đà trong cảnh đá bờ sông sựng vách thành, Nguyễn Tuân sử dụng thành công các hình ảnh so sánh để tái hiện chân thực nhất cảnh sông hùng vĩ, hung bạo.

      Sự hung bạo của sông Đà còn được minh chứng qua quãng mặt ghềnh Hát Loóng. Nguyễn Tuân sử dụng một câu văn dài với hình ảnh sóng nước xô nhau tới tấp: “dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt…”. Từ láy “gùn ghè”, câu văn so sánh gợi tả sự hung tợn của sóng nước cùng sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên luôn “đòi nợ xuýt” người lái đò. Đánh giá hiểm nguy của quãng mặt ghềnh Hát Loóng thông qua hậu quả mà thiên nhiên, sóng nước gây ra với con thuyền: “Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”, Nguyễn Tuân đã khẳng định tài năng quan sát cùng óc tưởng tưởng rất mực phong phú của bản thân.

      Những hút nước trên mặt sông ở quãng Tà Mường Vát cho người đọc những cảm xúc mạnh về sự nguy hiểm của nơi đây. Những hút nước  được Nguyễn Tuân so sánh: “Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng rất mực tinh tế. Từ “bỗng” như muốn nói lên sự khác lạ xảy đến. Khám phá dòng sông hung bạo một cách kĩ càng mới giúp nhà văn nhìn ra những cảnh mà không phải ai cũng thấy. Hút nước được mô tả qua âm thanh: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”. Nhưng những hút nước chỉ thật sự trở nên đáng sợ khi:“Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào cũng chèo nhanh…quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực”. Nó tạo ra  nguy hiểm và rủi ro đối với con người. Tái hiện lại câu chuyện về những chiếc thuyền bị hút xuống những hút nước rồi tan tác ở khuỷnh sông dưới cùng câu chuyện về anh quay phim đánh liều quay cái hút ấy: “thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít” tác giả thành công khi tái hiện sức mạnh ghê gớm của tự nhiên.

      Hung bạo của sông Đà chỉ thật sự mang cả tâm tính khi chúng ta biết đến thác đá và ba trùng vi thạch trận mà nó đã  kì công giăng mắc trong cuộc đối kháng không khoan nhượng với người lái đò. Ngay khi ở xa, sông Đà đã báo hiệu những hiểm nguy thông qua tiếng réo: “tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên”. Đặc biệt hơn nữa bởi “Tiếng thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Câu văn mang theo những thâm trầm hiểm nguy của một con quái vật đang rống lên những tiếng gầm gừ dọa nạt: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Thành công của Nguyễn Tuân khi mô tả cảnh sông nước đoạn này là sự kết hợp của thủ pháp so sánh và tương phản để làm bật lên cái dữ dội, độc ác của thác đá. Nó đưa ra những cảnh báo chết chóc để đe dọa con người trước khi đến với những thách thức khác.

      Khi tới thác đá, cái hung bạo, dữ tợn càng được mô tả rõ nét. “Sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá” và đặc biệt là đá “mai phục hết trong lòng sông” để làm nhiệm vụ “vồ lấy thuyền”. Đá nơi đây còn mang theo tâm địa độc ác khi tạo thành ba trùng vi thạch trận để dồn người lái đò vào những hiểm trở: “nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”. Sóng nước không chỉ mang vẻ hung tợn trong trận địa mà chúng còn trở nên liều lĩnh trong cuộc chiến với ông lái đò “Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Để thể hiện uy quyền, thác đá trên sông tạo ra năm cửa tử và bốn cửa sinh uy hiếp con thuyền và người lái đò. Với tâm đại nham hieerm của mình, nó tạo ra vô vàn cửa ải mà chỉ có những người lành nghề mới có thể vượt qua.

      Sông Đà quả nhiên hung bạo và xứng danh kẻ thù số một của con người. Từ cái cách nhà văn giới thiệu về sông Đà với dòng chảy ương bướng, không giống bất kì một con sông nào: “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu” đến cái tính tình ương bướng làm mình làm mẩy với con người và “Năm năm báo oán đời đời báo ân” đều cho thấy  một sông Đà hung bạo rất đặc biệt, rất riêng so với hàng ngàn con sông khác trên đất nước.

      Sông Đà hung bạo được tái hiện bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau như so sánh, nhân hóa, vận dụng linh hoạt các từ láy. Ngòi bút độc đáo của nhà văn đã mang đến cho bạn đọc một cái nhìn tinh tế về dòng sông. Giữa thiện nhiên bao la, sông Đà vẫn tự tạo cho mình nét dấu ấn riêng khiến con người phải khiếp sợ và không ngừng dè chừng.

      Nhưng Sông Đà không chỉ hung bạo mà còn rất đỗi trữ tình. Vẻ đẹp trữ tình là vẻ đẹp hiền dịu của dòng sông dưới nhiều điểm nhìn khác nhau. Và với mỗi người, sông Đà dịu dàng và ấn tượng theo cách của riêng nó khiến lòng người không ngừng trân trọng và yêu mến.

      Từ trên tàu bay nhìn xuống, dòng sông được miêu tả rất đỗi nên thơ: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Một câu văn dài mang theo bao cảm xúc của tác giả. Toàn bộ câu văn chỉ sử dụng suy nhất hai dấu phẩy mà không có một sự nghỉ nào. Phải chăng, vẻ đẹp mê luyến của sông Đà làm nhà văn không kìm được những dòng cảm xúc tuôn chảy không nguôi? Từ cái nhìn theo không gian, Nguyễn Tuân khám phá được nét đẹp người con gái sông Đà để rồi khi trở về thời gian theo mùa, cảm nhận về vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của sông Đà càng thêm sâu sắc, tinh tế với sự biến đổi màu sắc của nước sông. Dòng dông mà cái đẹp của nó cũng rất mực tinh tế khi đặt trong tương quan so sánh với dòng sông khác: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người hầm đi vì rượu bữa…”.

      Còn dưới cái nhìn của người đi rừng lâu ngày, dòng sông như một cố nhân. Người cố nhân với vẻ đẹp đa dạng và tất cả những gì thuộc về Sông Đà: bờ bãi, chuồn chuồn, bươm bướm đều gợi cảm đến lạ thường. Cái tình giữa người di rừng với Sông Đà gắn bó và dẫu người cố nhân ấy có khi dịu dàng, khi thì làm mình, làm mẩy cũng không thể khiến người ta ngừng yêu.

      Khi cho thuyền trôi trên sông, cảnh hai bên bờ sông lặng tờ như tô đậm nét đẹp cổ kính của con sông.Hình ảnh những lá ngô non đầu mùa mới nhú, cỏ gianh đang ra những nõn búp và đàn hươu thơ ngộ.. Tất cả như đưa người đọc vào một miền cổ tích xưa. Một khung cảnh lặng tờ nên thơ như một người tình nhân chưa quen biết. Người tình nhân ấy cũng đang mang trong mình những nỗi niềm, những nhung nhớ về thác đá nơi thượng nguồn Tây Bắc.

      Hình ảnh ông lái đò cũng là một hình tượng độc đáo của toàn bài. Qua lời giới thiệu của tác giả ta thấy đó là một tay đò lão luyện.Tuy đã gần bảy mươi nhưng vẫn rất tráng kiện với vẻ đẹp ngoại hình như kết tinh những tinh hoa vẻ đẹp và sức mạnh của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc. Hay chính thiên nhiên miền Tây đã tôi luyện cho người lái đò ấy những tố chất đặc biệt để ông xứng đáng là đối thủ số một của nó.

      Nhưng vẻ đẹp nổi bật nhất ở người lái đò chính là vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình xuất hiện trên nền cảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội, hiểm ác của con thác dưới, trong một tình huống đầy cam gho, thử thách mà Nguyễn Tuân đã gọi là “cuộc thủy chiến dưới mặt trận Sông Đà”. Hình ảnh của thiên nhiên và con người lao động được miêu tả trong thế hoàn toàn đối lập tương phản. Một bên là thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội hiểm ác với đủ tướng dữ, quân tợn luôn ở trong thế chủ động tấn công. Một bên là con người nhỏ bé, đơn độc, con thuyền cũng nhỏ bé. Ông lái đò chẳng có phép biến hóa màu nhiệm nào, vũ khí duy nhất trên tay chỉ là mái chèo thô sơ. Cuộc chiến đấu tưởng như không cân sức nhưng cuối cùng, phần thắng thuộc về con người. Chính hoàn cảnh đó đã làm tỏa sáng những phẩm chất cao đẹp của người lái đò đó là chí dũng phi thường và tài hoa nghệ sĩ đã đạt đến mức độ siêu phàm.

      Lòng gan dạ, dũng cảm là phẩm chất cao đẹp ở người lái đò sông Đà. Đó là điều kiện cần thiết đầu tiên để giúp người lái đò vượt qua thác dữ. Điều đó thể hiện ở tinh thần dũng cảm, dám đương đầu với con thác dữ. Bởi với nhiều người, dù chưa nhìn thấy con thác dữ dội và hiểm ác, mà chỉ mới nghe âm thanh tiếng thác gầm réo từ xa với đủ mọi cung bậc giọng điệu cũng đã cảm thấy ghê sợ, hãi hùng. Hơn nữa, với người lái đò, việc vượt thác cũng không phải là một sự kiện hi hữu mà là một công việc thường nhật “để giành cái sống từ tay những cái khác”.

      Lòng gan dạ dũng cảm của người lái đò được thể hiện ở thái độ rất bình tĩnh ứng phó với sự tấn công ào ạt như vũ bão của đội quân đá, sóng  nước ngay ở những giây phút đầu tiên khi con đò vừa chạm đến chân thác: “ Thạch trận dàn bày vừa xong thì con thuyền vụt tới. Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt.. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”. Ông lái đò tỏ ra rất bình tĩnh, nắm chắc tay chèo để giữ vững con thuyền, giành lại thế chủ động ngay ở những giây phút đầu: “ Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình kể cả khi sóng thác đã đánh những đòn độc, hiểm nhất khiến người lái đò vô cùng đau đớn, nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái. Và trên cái thuyền sau bơi chèo vẫn nghe rõ tiếng chỉ huyngắn gọn, tỉnh táo của người cầm lái. “Lòng dũng cảm của người lái đò còn thể hiện ở sự quyết tâm vượt thác đến cùng. Càng đến trùng vi sau, thác đá sông Đà còn trở nên dữ dội, điên cuồng giận giữ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà. Nhưng người lái đò vẫn quyết tâm cao độ “cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Rồi đến vòng vây thứ ba, khi bên phải, bên trái đều là cửa tử, còn cửa sinh duy nhất thì bị bọn đá hậu vệ sừng sững chắn ngang. Thiên nhiên chưa chịu lùi bước thì con người không thể đầu hàng. Nhận ra con đường độc đạo vô cùng nguy hiểm nhưng người lái đò vẫn quyết tâm đến cùng để vượt thác. Trên mặt trận Sông Đà, người lao động trở thành người chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, bất khuất trong trận chiến đấu với sóng thác Đà giang.

      Dòng thác Sông Đà không chỉ hung bạo, dữ dằn mà còn tàn ác, nguy hiểm. Bởi vậy, lòng dũng cảm chưa đủ để con người vượt thác mà còn rất cần đến sự thông minh, khôn ngoan của con người. Đã bao nhiêu năm gắn bó với nghề, với con sông, ông lái đò am hiểu từng luồng lạch, nắm chắc binh pháp thần sông, thần đá, thuộc quy luật phục kích nơi ải nước hiểm trở này.

      Bởi vậy, trong cuộc vượt thác, ông lái đò đã nhận ra sự biến ảo liên tục của các trùng vi thạch trận. Nếu như ở trùng vi thứ nhất, Sông Đà mở ra năm cửa trận, bốn cửa tử và một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn. Nhưng đến trùng vi thứ hai, chúng tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền và cửa sinh lại bố trí lệch sang bờ hữu ngạn. Nên sau khi tàn phá trùng vi thứ nhất, ông lái đò không nghỉ tay, nghỉ mắt ma thay đổi chiến thuật để có sự ứng phó kịp thời. Đứa mạnh: “ông tránh mà rảo bơi chèo lên”, đứa yếu thì “ông đè sấn lên mà chặt đôi chân ra để mở đường tiến”. Nhất là ở trùng vi cuối cùng, giữa một dòng sông nhiều cạm bẫy, tưởng như đã bế tắc cùng đường, nhưng với kinh nghiệm dày dạn, sự thông minh mưu trí đã giúp ông lái đò tìm ra con đường độc đạo để đưa con thuyền vượt qua thác dữ.

      Với cái nhìn độc đáo của một nhà văn tài hoa, uyên bác. Nguyễn Tuân không chỉ thấy ở con người đời thường, bình dị ấy phẩm chất chí dũng phi thường mà còn phát hiện được vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ cũng đạt đến mức độ siêu phàm.

      Tuy chỉ làm công việc lao động giản đơn nhưng ông lại có tâm hồn nghệ sĩ. Ông không thích chạy thuyền ở những quãng sông êm đềm, bằng phẳng vì nó dễ rạn tay, rạn chân và buồn ngủ. Ông chỉ thích chạy đò qua quãng sông lắm thác, nhiều ghềnh. Bởi thế, những cuộc vượt thác đối với ông là niềm đam mê, sự hứng khởi mãnh liệt. Phẩm chất tài hoa của người lái đò thể hiện trước hết ở tài nghệ chinh phục dòng Sông Đà hung bạo. Ngay ở vòng vây thứ nhất, khi đội quân sóng nước đã tung ra những đòn đánh độc hiểm, cùng với sự bình tĩnh và lòng dũng cảm, tài nghệ của người lái đò được thể hiện ở khả năng chèo lái con thuyền vững vàng ứng phó với mọi đòn đánh độc hiểm phá tan trùng vi thạch trận. Rồi đến trùng vi thứ hai, có lẽ do thất trận ở vòng đấu đầu tiên mà dòng thác hùm beo hồng hộc thúc mạnh trên Sông Đà tựa như một huấn luyện viên đang thuần phục con dã thú: nắm chặt lấy bờm sóng đúng luồng, rồi ông đò ghì cương lái, con thác hung bạo và  điên cuồng đã bị chế ngự, khuất phục dưới bàn tay người lái đò, trở nên hiền lành ngoan ngoãn như một chú mèo con.

      Đó còn là tài nghệ của người lái đò Sông Đà trong việc điều khiển, dẫn dắt con thuyền vượt qua những trùng vi hiểm ác và biến ảo. Con thuyền tựa như một con chiến mã đang xung trận với những bước đi thật dũng mãnh và tráng lệ “ bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh về cửa sinh mà lái miết một đường chéo về đường đá ấy”. Nhất là ở trùng vi thạch trận cuối cùng đầy cam go, thử thách và biến ảo khôn lường. Sự dũng cảm đã thôi thúc ông vượt thác, sự khôn ngoan đã giúp ông tìm luồng nước đúng, còn phẩm chất tài hoa nghệ sĩ đã giúp ông chèo lái con thuyền vượt qua sự vây hãm của trùng vi thạch trận. Người đọc có cảm giác hồi hộp đến nín thở dõi theo từng hoạt động của con thuyền trên dòng nước thác. Ông lái đò tựa như một nhà ảo thuật tài ba, một diễn viên xiếc rất điệu nghệ đang biểu diễn những động tác điêu luyện, chính xác và ngoạn mục. Con thuyền dưới bàn tay chèo lái của ông đồ vừa bơi, vừa như bay, như lượn. Nguyễn Tuân đã từng ca ngợi “đó là một tay lái ra hoa”. Ông đò tựa như người nghệ sĩ đang vẽ đề thơ trên sóng nước.

      Với những phẩm chất cao đẹp đáng quý đó, người lái đò Sông Đà đã điều khiển con thuyền chiến thắng khác giữ để trở về bến bình yên. Đoạn văn miêu tả cảnh ông đò sau khi vượt thác là những trang viết ca ngợi chất thơ trong tâm hồn người lao động trong cuộc sống đời thường: “ sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà  đò đốt lửa trong hang đá…đủ tướng quân dữ tợn vừa rồi”.  Chính sự bình dị đó càng tôn thêm nét kỳ vĩ của con người lao động.

      Hình ảnh Sông Đà cũng như chân dung ông đò được xây dựng bằng rất nhiều thủ pháp nghệ thuật. Bài kí là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp so sánh, nhân hóa, liệt kê, các câu cảm thán, hình ảnh sinh động. Tác phẩm kí tưởng chừng như khó hiểu, khó nắm bắt nhưng lại rất sinh động dưới ngòi bút của nhà văn. Câu chữ như có nhịp điệu, có hình, có ảnh trong từng cảm nhận của người đọc.

      Thành công của Người lái đò Sông Đà cũng là minh chứng cho một tài năng nghệ thuật của văn học Việt Nam. Sau câu chữ là những tự hào khôn cùng về con người, về thiên nhiên đất Việt. Và mỗi chúng ta càng thêm trân trọng, tự hào về hành trình chinh phục, chế ngự thiên nhiên làm chủ cuộc sống. Bài kí giúp khơi dậy những giá trị tốt đẹp trong ta về cuộc sống bình dị ngoài kia mà có lẽ chính chúng ta cũng ngỡ ngàng.

—/—

Như vậy Wikichiase đã trình bày xong bài văn mẫu Phân tích Người lái đò sông Đà học sinh giỏi. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *