Phân tích khổ 3, 4 bài thơ Sóng (Dàn ý + 6 bài mẫu) – Văn mẫu 12 hay nhất

Để tìm hiểu sâu hơn về giá trị tác phẩm Sóng, mời các em tham khảo một số bài văn mẫu Phân tích khổ 3, 4 bài thơ Sóng (Dàn ý + 6 bài mẫu) sau đây. Hi vọng với các bài văn mẫu ngắn gọn, chi tiết, hay nhất này các em sẽ có thêm tài liệu, cách triển khai để hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất!

Dàn ý Phân tích khổ 3, 4 bài thơ Sóng

Phân tích khổ 3, 4 bài thơ Sóng (Dàn ý + 6 bài mẫu) (ngắn gọn, hay nhất)

1. Mở bài:

– Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:

+ Xuân Quỳnh là một gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ chống Mĩ với hồn thơ rất đỗi trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính.

+ Có thể nói, cùng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ “Sóng” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.

– Khái quát nội dung khổ 3 và 4: hình tượng sóng đã thể hiện niềm khao khát của người thiếu nữ muốn được yêu, được sống trong một tình yêu hạnh phúc thủy chung.

2. Thân bài:

* Khái quát về hình tượng “sóng”

– Hình tượng trung tâm và nổi trội trong bài thơ là hình tượng “sóng”, bao trùm cả bài thơ là hình tượng sóng.

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ trẻ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển cả.

+ “Sóng” là một trong những hình tượng ẩn dụ, nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Sóng” và “em”, vừa hòa hợp là một, lại vừa phân đôi để soi chiếu, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để biểu hiện những trạng thái của lòng mình.

-> Với hình tượng sóng, có thể nói Xuân Quỳnh đã tìm được một cách thể hiện thật xác đáng tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu.

– Hình tượng sóng đã gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng miên man, vô tận. Âm hưởng ấy được tạo dựng nên bởi thể thơ năm chữ, với những câu thơ liền mạch, từng không ngắt nhịp, các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần (“Khi nào ta yêu nhau”… “Con sóng dưới lòng sâu”).

-> Nhịp sóng đó cũng chính là nhịp lòng của tác giả, một tâm trạng đang xao động, trào dâng, miên man và chất chứa những khát khao, rạo rực.

* Đoạn thơ là một khám phá về sóng, mỗi khổ thơ sóng lại hiện ra một ý nghĩa khác

“Ôi con sóng… ngực trẻ”

– Đến khổ ba của bài thơ, sóng lại hiện lên với một ý nghĩa khác: Nguồn gốc của sóng cũng là nguồn gốc bí ẩn của tình yêu. Đứng trước biển, người phụ nữ muốn cắt nghĩa về nguồn gốc của sóng để tìm lời đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu trong trái tim mình.

“Sóng bắt đầu… ta yêu nhau”

-> Mọi nỗ lực để cắt nghĩa về tình yêu của Xuân Quỳnh cuối cùng trở nên bất lực. Nhà thơ “thú nhận” thành thực, hồn nhiên mà không kém ý nhị, sâu sắc: “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”.

3. Kết bài:

– Khái quát lại nội dung 2 khổ thơ.

– Cảm nhận của em: Tình yêu luôn luôn quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta ai cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi trẻ là tình yêu mãnh liệt và cảm xúc trong sáng nhất.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Bài mẫu 1

     Trong dàn đồng ca các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước, Xuân Quỳnh nổi lên như một tiếng thơ đầy trẻ trung, tươi mát và nữ tính. Tình yêu trải qua ngòi bút của bà luôn in đậm dấu ấn cái tôi phụ nữ nồng nàn, táo bạo mà vô cùng tha thiết, chân thành. Tất cả điều ấy được thể hiện trong một tiếng thơ giản dị, hồn nhiên như bản năng – “Sóng”, đặc biệt là khổ thơ ba và bốn.

     Bài thơ là kết quả của chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – Thái Bình cuối năm 1967, được đưa vào tập thơ “Hoa dọc chiến hào” (1968). Con người Việt Nam thời kì kháng chiến lại viết về tình yêu, tình cảm riêng tư và vĩnh hằng nhất của nhân loại. Vì thế, bài thơ được coi là “bông hoa lạ” nở “dọc chiến hào” những năm kháng chiến chống Mỹ. Sau hai khổ thơ đầu về những quy luật của tình yêu, “em” vẫn chưa thỏa mình mà muốn truy tìm căn nguyên, nguồn gốc của tình yêu.

     Trước không gian mênh mông biển lớn, người già hay nghĩ về sự hư vô, nhỏ bé của kiếp người; kẻ tráng trí hùng tâm lại một lòng: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” (Phan Bội Châu); kẻ đa cảm lại thấy: “Vắng cánh buồm một chút cũng cô đơn” (Hữu Thỉnh). Còn Xuân Quỳnh, đứng trước biển lại là những suy nghĩ, cảm nhận chân thực và cụ thể nhất:

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?”

     Trước sự mãnh liệt và kì diệu của tình yêu, con người luôn có nhu cầu khám phá những bí ẩn vốn luôn tồn tại trong nó, luôn muốn cắt nghĩa được cội nguồn của tình yêu. Song đó lại là một trạng thái tâm lý dễ giả thích bằng những lý lẽ thông thường, khó ai có thể trả lời một cách chính xác về nguyên nhân, khởi nguồn của tình yêu, cũng như khi Xuân Diệu băn khoăn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?”. Câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” nhẹ lơi như hơi thở, tưởng bâng quơ mà hóa ra bận bịu lòng người. Vẫn là ước muốn truy tìm đến tận cùng bản thể: “Con người từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu? Tinh yêu từ nơi nào mà lớn lên vậy?”

     Khổ thơ tiếp theo lại là câu hỏi dồn dập như những con sóng nối tiếp đến vô cùng, miên man không dứt, đưa con người tới những suy ngẫm vô tận:

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

     Trả lời cho câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên?”, lời đáp thật dễ dàng, chóng vánh: “Sóng bắt đầu từ gió”. Câu hỏi thứ hai ráo riết hơn, lý trí muốn đẩy những băn khoăn đến tột cùng: “Gió bắt đầu từ đâu?”. Những câu hỏi tu từ lúc ẩn duối chân sóng, lúc lại trào lên đầu ngọn sóng như những trăn trở. Nhân vật trữ tình không cảm nhận về sóng mà nghĩ về sóng. Nương theo những con sóng, nhà thơ bắt đầu hành trình tìm kiếm nơi khởi nguồn tình yêu và phân tích, lý giải bản chất của tình yêu. Đó cũng là mong muốn muôn đời của biết bao đôi lứa. Câu trả lời vừa là sự thú nhận, vừa là sự thức nhận: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”. Thú nhận về sự bất lực trên hành trình tìm kiếm nguồn cội tình yêu nhưng lại là sự thức nhận sâu sắc: tình yêu là điều huyền diệu, con người chỉ có thể cảm nhận chứ không thể truy tìm cội nguồn, cũng không thể cắt nghĩa rõ ràng, tách bạch. Chẳng phải thể mà Xuân Diệu cũng chia sẻ:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có khó gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

     Xuân Diệu hỏi để lý giải còn Xuân Quỳnh nghiêng về tiếng nói tình cảm. Hỏi chỉ để cảm nhận được sự hiện của tình yêu.

     Như vậy, qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã thể hiện được những chiêm nghiệm, suy ngẫm về cội nguồn của tình yêu cũng như cung bậc của người phụ nữ đang yêu. Sự song hành hình tượng sóng và em đã khắc họa vẻ đẹp vừa dịu dàng, tinh tế, vừa chủ động mãnh liệt, vừa truyền thống vừa hiện đại của một tình yêu chân thành, tha thiết. Thể thơ năm chữ với cách ngắt nhịp phóng túng đã thể hiện xuất sắc âm hưởng dào dạt của sóng biển, sóng lòng. Câu hỏi tu từ, hình ảnh thơ vừa tự nhiên, trong sáng lại có sức gợi mở và suy tưởng đến không ngờ.

     Một nhà phê bình Pháp từng khẳng định: “Thơ, tự truyện của khát vọng” có lẽ là dành cho Xuân Quỳnh. Thơ ca, với bà, là sự sống, là tình yêu, làm thơ là được sống với chính mình, sống đầy đủ và trọn vẹn mình. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta cũng cảm nhận được tình yêu và nghe được khát vọng trong mình. Đó là lý do, vượt qua sự băng hoại thời gian, thơ ca đã, vẫn và sẽ sống cùng ta đến ngày tận thế

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Bài mẫu 2

     Cuộc đời là đóa hoa, tình yêu là mật ngọt”, đại văn hào V.Hugo đã từng phải thốt lên như vậy. Tình yêu là món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho loài người. Đó cũng là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn đối với các văn nghệ sĩ. Nói đến thơ tình Việt Nam hiện đại, người đọc không thể không nhắc đến nữ hoàng tình yêu Xuân Quỳnh – người đã đem đến cho làng thơ Việt Nam một tình yêu nồng nhiệt, táo bạo mà thiết tha, dịu dàng, hồn nhiên, giàu tự cảm mà lắng sâu những trải nghiệm suy tư. “Sóng” là một trong áng tình ca hay nhất của Xuân Quỳnh. Đứng trước biển lớn , Xuân Quỳnh đã bộc lộ rõ nỗi trăn trở, băn khoăn của mình về cội nguồn cua tình yêu”

Trước môn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên

Sóng bắt đầu từ gió

Gó bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

     Dòng thơ “Trước muôn trùng sóng bể” cho thấy sóng đã ra tới bể, đã hoàn thành cuộc hành trình kì công. Đối diện trước biển lớn là đối diện trước cõi vô tận, vô cùng của một môi trường sống mới khác hẳn dòng sông nhỏ hẹp khi xưa nên niềm khát khao cũng nảy sinh một cách tự nhiên và tất yếu. Lẽ thường ở khổ thơ này, nhà thơ phải viết “sóng nghĩ về’ nhưng nhà thơ lại viết “em nghĩ về” nhằm tạo nên sự đồng nhất giữa sóng và em. Hành trình của sóng cũng là hành trình của em. Trong điệp khúc Em nghĩ về anh, em – Em nghĩ về biển lớn” ẩn giấu niềm khát khao của một phụ nữ về tình yêu, về bản thân, về môi trường sống mới.

Từ nơi nào sóng lên

     Đó là câu hỏi từng khiến bao lứa đôi băn khoăn và cũng chẳng ai có thể trả lời được một các rõ ràng, rành mạch được. Càng say mê bao nhiêu, càng thấy tình yêu huyền bí bất nhiêu. Người ta thường thiêng liêng hóa tình yêu của kiếp này biết đâu lại là sự hẹn hò của kiếp sau. Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng không ngoại lệ, cũng băn khoăn, thắc mắc, chăn chở đi tìm lời giải đáp. Nhưng cuối cùng Xuân Quỳnh cũng phải thú nhận bằng cái gật đầu dễ thương:

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

     Điều thú vị là ẩn sau cái lắc đầu dễ thương rất con gái ấy, người đọc, khám phá ra những định nghĩa mơ hồ mà thú vị, tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Trước muôn trùng sóng bể, trước biển lớn, tại sao nữ sĩ lại nghĩ bề anh, em; tức là tình yêu của đôi mình? Có phải chăng tình yêu đôi ta cũng mênh mông, thăm thẳm như biển lớn, đại dương. Sóng, biển ,gió trời từ nơi nào mà có? “Em cũng không biết nữa” và tình yêu cũng vậy. Nào có ai biết điểm đầu, điểm cuối, nào ai biết nơi khởi phát và điểm kết thức của tình yêu. Tình yêu muôn đời vẫn khó hiểu như chính thế giới tự nhiên vậy. Tình yêu đến và đi có khi chỉ như một cơn gió thoảng như để lại rung động ngọt ngào trong trái tim để rồi thao thức nhớ, khe khẽ yêu.

     “Tình yêu luôn có quy luật riêng mà lí trí thì không thể nào hiểu nổi”. Tình yêu đôi lứa mêng mang như đại dương, tự nhiên và bí ẩn. Đó là những chân lí xưa cũ mà ai cũng biết. Đóng góp của Xuân Quỳnh là tạo ra tiếng nói rât riêng đằm thắm nét duyên con gái về những điều xưa cũ ấy. Không nghiêng về tư duy logic như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, nữ sĩ Xuân Quỳnh nói bằng tiếng nói của cảm xuac trái tim. Không cắt nghĩa rõ ràng cụ thể, Xuân Quỳnh chỉ khơi gợi để người đọc tự chiêm nghiệm suy ngẫm. Chính điều đó tạo nên sức hấp dẫ của Xuân Quỳnh.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Bài mẫu 3

Phân tích khổ 3, 4 bài thơ Sóng (Dàn ý + 6 bài mẫu) (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

     Tình yêu vốn là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn đối với mỗi nhà thơ, nhà văn. Với một trái tim nhạy cảm và khát khao yêu thương, Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng để viết nên một trong những thi phẩm hay và đặc sắc nhất trong sự nghiệp viết thơ của bà: “Sóng”. Đứng trước muôn trùng biển lớn, nữ sĩ đã bộc lộ niềm trăn trở, băn khoăn về cội nguồn của tình yêu đôi lứa:

“Trước môn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên

Sóng bắt đầu từ gió

Gó bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

     Những câu thơ thốt ra khi sóng đã hoàn thành nhiệm vụ vươn ra biển lớn. “Giữa muôn trùng sóng bể” – con sóng ấy đã phá vỡ được giới hạn của mình để đi tới đích tìm kiếm tình yêu chân chính. Đứng trước một nơi mênh mông như biển cả, “em” có cơ hội được nhìn nhận về anh, về chính mình và về tình yêu:

“Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên”

     Đáng lẽ, cuộc hành trình vươn ra biển lớn phải là của sóng nhưng ở đây, tác giả đã đồng nhất hình tượng sóng và em, để ngầm nói rằng thật ra đây cũng chính là hành trình em đi tìm cội nguồn của tình yêu lứa đôi thuần khiết. Điệp ngữ “Em nghĩ về” kết hợp với điệp cấu trúc câu thể hiện niềm khát khao tìm kiếm thật sự, ước ao cháy bỏng được lý giải cặn kẽ nơi khởi sinh của tình yêu. “Từ nơi nào sóng lên?” – câu hỏi như nói hộ nỗi tâm tư của bao chàng trai cô gái xưa nay. Ai cũng mong muốn có được câu trả lời: tình yêu ở đâu mà có, tình yêu từ đâu mà sinh ra? Nhưng tuyệt nhiên chưa ai có thể lý giải được. Cho nên không khó hiểu nếu như người con gái ấy còn trăn trở, băn khoăn nhiều đến như thế này:

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau?”

     Càng yêu nhiều bao nhiêu người ta lại càng khao khát muốn thấu hiểu bấy nhiêu. Vì yêu mà con sóng ấy đã phải đi muôn trùng vạn dặm để tìm ra cội nguồn, cũng như vì yêu anh mà em đã trăn trở, băn khoăn nhiều lắm để tìm kiếm nơi khởi nguồn của tình yêu chân chính. Thế nhưng tình cảm vốn dĩ đã là một thế giới đầy bí ẩn, không ai có thể lý giải nổi và chính nữ sĩ cũng đã phải lắc đầu “Em cũng không biết nữa”. Sóng hay gió bắt nguồn từ nơi nào chẳng ai biết, cũng như tình yêu sinh ra vốn dĩ không có điểm đầu và điểm cuối, không có giới hạn và không dễ gì tìm kiếm câu trả lời. Vì vậy mà người con gái ấy dù khát khao, dù mãnh liệt thế nào cũng phải lắc đầu vì không thể lý giải nổi. Tình yêu được đặt cạnh biển cả, phải chăng nữ sĩ đã ngầm khẳng định tình cảm ấy bao la như biển cả và dạt dào như những con sóng cuộc xô? Trân trọng tình cảm đó cho nên người con gái cũng hoàn toàn bất lực trong nỗ lực tìm kiếm nơi khởi sinh của tình cảm. Tình yêu cũng rộng dài và bí ẩn như chính thế giới tự nhiên vậy, ta yêu lúc nào mà ta cũng chẳng hay biết, chỉ biết rằng có một thứ tình cảm giản dị mà tự nhiên đến, khiến lòng ta chợt chơi vơi:

“Có ai cắt nghĩa được tình yêu

Có khó gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

                     (Xuân Diệu)

     Tình yêu vốn là đề tài quen thuộc trong thơ ca nhưng Xuân Quỳnh đã dùng ngòi bút của mình để viết nên một bài thơ đầy tính nữ. Hành trình tìm kiếm tình yêu của người con gái tuy gian nan là thế nhưng cho thấy khát khao yêu thương, khát khao thấu hiểu mãnh liệt để tìm được cho mình một tình yêu chân chính. Có lẽ hiếm có tình cảm nào khiến con người bỗng trở nên táo bạo như vậy, cũng bởi vì yêu mà trở nên mạnh mẽ. Xuân Quỳnh – một trái tim luôn đong đầy những yêu thương đã thổi hồn vào những trang thơ như thế, để rồi bài thơ cứ lắng mãi vào lòng người đọc với xúc cảm thật ngọt ngào.

     Ra đời trong hoàn cảnh khói bom những năm 1967, “Sóng” đã vượt thoát ra khỏi dòng thơ cách mạng vốn rất phổ biến lúc bấy giờ để mang đến cho người đọc cảm xúc thơ mới mẻ. Nó xứng đáng trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỉ XX.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Bài mẫu 4

     Coi thơ là sự sống, là tình yêu, là tất thảy ý nghĩa cuộc đời mình, Xuân Quỳnh đã gửi trọn những tâm sự, cảm xúc dạt dào, mãnh liệt của mình vào những trang thơ. Bài thơ “Sóng” của nữ sĩ là một lời sẻ chia tâm trạng, cảm xúc được rất nhiều người đón nhận. Sau hai khổ thơ đầu nói về hình tượng sóng và quy luật của tình yêu, khổ thơ ba và bốn tiếp tục để lại trong lòng người đọc những suy nghĩ, ấn tượng đặc biệt.

     Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, một nghệ sĩ tinh tế và tài hoa, người con của đất Hà Tây (nay là Hà Đông, Hà Nội). Đọc thơ Xuân Quỳnh, những cảm xúc, nghĩ suy nữ sĩ gửi vào đó làm bao người đọc trăn trở và mong muốn được sẻ chia cùng. Có những bài thơ tràn ngập hạnh phúc đắm say, có những câu thơ đượm nỗi suy tư, trăn trở. Sự đằm thắm, dịu dàng nhưng cũng đầy mạnh mẽ, táo bạo đã giúp cho những cảm xúc ấy đi vào thơ với dáng nét rất riêng, đậm chất Xuân Quỳnh. Với nhà thơ, văn chương nghệ thuật mà đặc biệt là thơ ca, có vai trò quan trọng, tựa như sự sống, tình yêu của cuộc đời mình: “Nếu ngày mai em không làm thơ nữa/ Cuộc sống trở về bình yên/ Ngày nối nhau trên đường phố êm đềm/ Không nỗi khổ, không niềm vui kinh ngạc…”. Bài thơ “Sóng” được nhà thơ viết năm 1967 trong chuyến đi thực tế đến biển Diêm Điền, Thái Bình. Tác phẩm rút từ tập “Hoa dọc chiến hào” xuất bản năm 1968, được xem như một bông hoa lạ giữa vườn thơ chống Mỹ. Hai khổ thơ đầu nhà thơ đã xây dựng hình tượng sóng với những quy luật của tình yêu. Đến với hai khổ thơ tiếp theo là nói đến sóng và hành trình tìm kiếm nguồn cội của tình yêu.

     Khổ ba, bốn trong bài là những dòng thơ nói về sóng và hành trình đi kiếm tìm nguồn cội của tình yêu:

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

     Nghĩ về “yêu”, nhà thơ Xuân Diệu có viết:

“Yêu là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu

Và cảnh đời là sa mạc cô liêu

Và tình ái là sợi dây vấn vít

Yêu, là chết ở trong lòng một ít”

     Với Xuân Diệu, “yêu là chết ở trong lòng một ít”. Với Xuân Quỳnh, bà gửi nghĩ suy về tình yêu qua hình tượng những con sóng. Nữ sĩ đưa ra một loạt các câu hỏi tu từ để từ đó gửi gắm những nghĩ suy, trăn trở: “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?, “Khi nào ta yêu nhau”. Những câu hỏi tu từ này vừa tái hiện hình ảnh những con sóng ngoài đại dương mênh mông lúc lắng xuống lúc lại trào lên mạnh mẽ, đồng thời nhà thơ cũng thầm kín muốn nhắc đến những con sóng lòng nơi người con gái đang yêu. Từ hình ảnh những con sóng, nhà thơ bắt đầu đưa ta đến hành trình tìm kiếm nguồn cội của tình yêu và thử lý giải bản chất, ý nghĩa sâu xa của tình yêu. Xuân Diệu trong bài thơ “Vì sao” từng viết:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

     Xuân Diệu – ông hoàng thơ tình Việt Nam còn cảm thấy bối rối trong việc khám phá và cắt nghĩa hai chữ “tình yêu”. Xuân Quỳnh cũng vậy, bà cũng gửi nỗi trăn trở ấy vào thơ, vào bài “Sóng” khi chân thành trả lời rằng: “Em cũng không biết nữa”. Thú nhận? Đúng, đó là một lời thú nhận về sự bất lực của con người trước hành trình tìm kiếm nơi khởi nguồn của tình yêu. Song, đó còn là một sự thức nhận. “Em”, hay có lẽ cũng chính là nhà thơ đã thức nhận ra một chân lý: tình yêu là một thứ gì đó vô cùng thiêng liêng, đẹp đẽ, con người chúng ta chỉ có thể lặng thầm ngắm nhìn, cảm nhận chứ chẳng thể cắt nghĩa được.

     Bài thơ “Sóng”, và đặc biệt là hình tượng sóng đã phần nào thể hiện được ngổn ngang những trăn trở, bâng khuâng trong lòng nhà thơ Xuân Quỳnh. Nữ sĩ ngẫm về tình yêu – thứ tình cảm muôn đời đẹp đẽ, thiêng liêng. Đó có thể là thứ tình cảm mang trong mình nhiều đối lập. Và đọc khổ thơ ba, bốn ta hiểu được tình yêu trong cảm nghĩ Xuân Quỳnh còn là một tình yêu đẹp chỉ có thể được cảm nhận mà không thể tìm kiếm cội nguồn và cắt nghĩa, lý giải được nó. Từ chân lý đó, người yêu văn chương, yêu thơ Xuân Quỳnh càng ấn tượng hơn với bài thơ “Sóng” và yêu mến cái nhìn nghệ thuật đầy tinh tế cùng cách thể hiện sinh động, sáng tạo của nhà thơ.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Bài mẫu 5

     Thơ Xuân Quỳnh dẫu có lắng nghe bao lần, ta vẫn nhận ra trong đó những thoáng mong manh lo sợ cùng nét đẹp của một hồn thơ nhạy cảm, giàu trực cảm. Và đó, chính là nét nữ tính rất riêng làm nên bản sắc của Xuân Quỳnh, mà trong Sóng, tác giả đã hóa thân trọn vẹn nhất điệu hồn ấy vào hai khổ thơ 3 và 4.

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?”

     Đứng trước biển khơi rộng lớn bao la, tâm hồn nhạy cảm tinh tế của một trái tim yêu bỗng dưng trào lên những xúc cảm mãnh liệt về người mình thương nhớ. Đồng thời, trạng thái ấy cũng phần nào khẳng định trái tim yêu tha thiết mãnh liệt của Xuân Quỳnh, ở bất cứ không gian và thời gian nào, nỗi nhớ luôn hiện hình luôn trực trào lên. Từ câu hỏi về cội nguồn của cơn sóng – biểu tượng của sự sống, sự vĩnh cửu, bất tận, nhà thơ cất lên nỗi băn khoăn về nguồn gốc của tình yêu. Đi từ thiên nhiên rộng lớn đầy những bí ẩn để gắn kết nó với nỗi niềm khắc khoải trong lòng người, quả nhiên, cách diễn đạt của Xuân Quỳnh đã làm mềm đi rất nhiều tính chất nghi vấn trong lời gõ cửa của trái tim.

     Đặc biệt, nếu để ý dấu phẩy ngăn cách ở câu thơ thứ hai chính là một cách làm “điệu thơ” rất có duyên của Xuân Quỳnh. Nó khiến câu thơ vốn đơn thuần mang tính chất tự sự, bỗng dưng được thổi hồn để mang chút ngập ngừng, âu lo vốn là nét đặc trưng của hồn thơ Xuân Quỳnh – một hồn thơ nhạy cảm, giàu trực cảm. Câu thơ đã đặt cả người được nhớ và người đang nhớ vào trong một mạch chảy, khiến cho cảm xúc thơ càng rạo rực, càng cho thấy tấm lòng của nhân vật trữ tình trong tình yêu.

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau?”

     Cắt nghĩa, lý giải về nguồn gốc của tình yêu đã từng có chàng thi sĩ Xuân Diệu với cặp mắt xanh non rờn biếc khẳng định: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu? Nhưng, nếu ngay khi vừa phủ định Xuân Diệu lại dí dỏm đưa ra câu trả lời của mình:

“Có khó gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

     Thì với Xuân Quỳnh chị không ham lí giải, phân tích dù trong lòng có bao bức xúc đòi tìm ra tận bể, để được thấu hiểu, để được đồng điệu. Điều mà nhà thơ muốn bộc bạch ở đây là sự thể hiện tự nhiên tựa như một lời giãi bày về mặt tình cảm hơn là thể hiện sự phân tích lý tính rạch ròi. Thậm chí, đó còn là lời thú nhận rất duyên dáng và đậm chất nữ tính của nhà thơ về sự bất lực khi không thể, cắt nghĩa, lý giải được bản chất của tình yêu nhiệm màu: em cũng không biết nữa. Cái lắc đầu rất nữ tính ấy hóa ra là ẩn dấu sau nó còn là sự thấu hiểu sâu sắc và nhận thức được rõ ràng tình yêu, tự nó là một cuốn từ điển riêng, là một chân trời mới lạ mà ở đó người ta chỉ có thể cảm nhận, không thể cắt nghĩa. Tình yêu là một địa hạt chứa đựng những triết lí của riêng nó, nó là câu chuyện của trái tim và đòi hỏi sự cảm nhận, lắng nghe, nó nằm ngoài sự xét đoán của lý trí. Tựa như trái tim yêu của Xuân Quỳnh đã dành tất cả sự chân thành tha thiết để mong thấu hiểu được những nội hàm huyền bí ở trong nó, nhưng nếu như tình cảm và cảm xúc có thể cân đo đong đếm và cắt nghĩa, người ta đã chẳng còn hứng thú bởi những điều mới mẻ, kì diệu mà tình yêu mang lại.

     Chính Ta-go trong bài thơ tình số 28 cũng đã bày tỏ:

“Trái tim anh lại là tình yêu

Nào ai biết được chiều sâu và bến bờ của nó

Em là nữ hoàng của vương quốc đó

Ấy thế mà em có biết trọn nó đâu”.

     Nhưng, nếu thơ Ta-go là tiếng nói hướng nội truy tìm bản thể để hướng tới những suy tưởng triết lý sâu sắc thì thơ Xuân Quỳnh hướng ngoại để hướng nội, nên ở đây tính chất triết lý suy tưởng được giấu bên ngoài vẻ hồn nhiên trực cảm, do đó dễ khơi gợi sự đồng điệu cảm xúc bên ngoài và đánh thức những suy tưởng bên trong độc giả.

     Chỉ với hai khổ thơ ngắn, nhưng cách diễn đạt nhỏ nhẹ cùng với những câu hỏi vừa như nghi vấn, vừa như giãi bày đã phần nào lột tả nét nữ tính, mềm mại trong hồn thơ Xuân Quỳnh. Đồng thời ở hai khổ thơ này, người đọc cũng thấy thêm một nét mới mẻ nữa của những trái tim yêu trong hành trình kiếm tìm, chinh phục, lí giải cội nguồn của tình yêu.

Phân tích khổ thơ 3 và 4 bài thơ Sóng – Bài mẫu 6

     Tình yêu là món quà vô giá mà thượng đế đã ban tặng con người. Đó là tiếng lòng đồng điệu giữa những tâm hồn khát khao yêu thương, đồng cảm, gắn kết trái tim lại với nhau. Có lẽ chính vì vậy mà tình yêu luôn là chủ đề muôn thuở trong thơ ca. Nhắc đến thơ ca tình yêu, bên cạnh những tên tuổi lớn như Puskin, Tago trên thi đàn thế giới, thì ta cũng không quên nhắc đến những tên tuổi lớn của nền văn học Việt Nam như Xuân Diệu, Nguyễn Bính,… Và đại diện cho tình yêu nồng nàn đằm thắm của người phụ nữ, không thể không nhắc đến Xuân Quỳnh. Nữ sĩ viết rất nhiều về tình yêu, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm phải kể đến bài thơ Sóng. Tác phẩm chính là tiếng lòng nhẹ nhàng nhưng cũng rất mạnh mẽ của người phụ nữ trong tình yêu, đặc biệt ở khổ 3 và 4 của bài thơ.

     Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Phạm Xuân Quỳnh, sinh năm 1922 mất năm 1980. Xuân Quỳnh từ nhỏ sống chung và được bà nuôi lớn. Chính những ngày tháng sống bên cạnh bà đã hun đúc cho Xuân Quỳnh một hồn thơ nhẹ nhàng đầy nữ tính.

     Nhắc đến Xuân Quỳnh người ta thường nghĩ ngay đến vai trò nhà thơ, nhưng ít ai biết được nấc thang đầu tiên Xuân Quỳnh đến với nghệ thuật là làm diễn viên múa. Xuân Quỳnh từng tham gia khóa học tại trường Bồi dưỡng những người trẻ viết văn (Khóa I) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Sau đó bà hoạt động tại các tờ báo lớn như báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam. Xuân quỳnh còn là ủy viên Hội Nhà văn Việt Nam.

     Bên cạnh sự nghiệp văn học, cuộc sống cá nhân của nhà thơ cũng đã có hạnh phúc. Tuy ở giai đoạn đầu, Xuân Quỳnh có một cuộc hôn nhân không trọn vẹn nhưng cuối cùng cô đã tìm thấy bên đỗ bình yên bên cạnh Lưu Quang Vũ. Thế nhưng trong một tai nạn định mệnh, đã cướp mất đi hai tài năng của văn học Việt Nam là Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.

     Nhắc đến sự nghiệp sáng tác của Xuân Quỳnh, bà đã để lại cho đời một hồn nhẹ nhàng đằm thắm. Sự nhẹ nhàng ấy thể hiện rõ ở cả hai phương diện sáng tác của Xuân Quỳnh là thơ viết về tình yêu và thơ viết về thiếu nhi. Trong bài thơ Sóng, ta vẫn thấy một Xuân Quỳnh nhẹ nhàng sâu lắng nhưng không kém phần dữ dội mãnh liệt. Mượn hình ảnh sóng nhưng Xuân Quỳnh đã khéo léo đan cài vào sự chuyển động của sóng là những trạng thái tình cảm, cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu.

     Mở đầu khổ 3 là một không gian rộng lớn bao la:

“Trước muôn trùng sóng bể”

     “Muôn trùng” ý chỉ số nhiều. Từ đó gợi mở không gian rộng lớn bao la. Biển vốn đã mênh mông nhưng giờ lại càng rộng lớn hơn gấp bội trong cách kết hợp “muôn trùng sóng bể”. Dường như chỉ có không gian rộng lớn mênh mông ấy, sóng mới có thể thỏa sức vẫy vùng. Trong không gian ấy, sóng mới có thể là chính mình sống thật với những suy nghĩ cảm xúc Và đó không chỉ là không gian hoạt động của sóng mà đó còn là không gian tâm tưởng của chính em.

     Trong không gian rộng lớn ấy, con người thường thấy mình nhỏ bé. Bởi lẽ mặt biển nhìn có vẻ êm đềm là thế nhưng bên dưới là sự vận động không ngừng của nước. Thời gian cũng thế. Nó cứ diễn ra chậm chạp con người không cảm nhận được. Nhưng từ giây phút này đã khác giây phút qua. Mọi thứ luôn vận động không ngừng. Trong sự vận động của thời gian ấy con người không thể làm được gì, không thể can thiệp được chỉ đành phó mặc cho thời gian xô đẩy. Con người không thể làm gì để thoát khỏi quy luật ấy nên chỉ đành ngậm ngùi chấp nhận như một lẽ tất yếu của cuộc sống.

     Dòng thời gian cũng như dòng nước cứ chảy mãi dường như vô thủy vô chung với cuộc đời này. Đó là vì sao đứng trước không gian rộng lớn bao la con người luôn ý thức được rõ ràng hơn bản thân mình. Xuân Quỳnh cũng vậy. Xuân Quỳnh cũng bắt đầu suy ngẫm về cuộc sống, suy ngẫm về tình yêu.

     Nếu ở hai khổ thơ đầu,

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày nay vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

     sự xuất hiện của nhân vật trữ tình “em” chỉ là sự xuất hiện gián tiếp, thì đến câu thơ này, nhân vật trữ tình đã trực tiếp xuất hiện

“Em nghĩ về anh em

Em nghĩ về biển lớn”

     Điệp cấu “em nghĩ về…” càng nhấn mạnh nỗi niềm. Nỗi niềm ấy, suy tư ấy không phải của ai, không thay ai nói mà đó là nỗi niềm của riêng một mình Xuân Quỳnh, của chỉ riêng Xuân Quỳnh mà thôi.

     Bài thơ mượn hình ảnh của sóng, đáng lẽ phải là “sóng nghĩ về” nhưng Xuân Quỳnh lại trực tiếp nói lên nỗi lòng mình. Dường như em và sóng đã hòa vào làm một. Nói về sóng nhưng thực chất là nói về tình cảm của em dành cho anh. Cảm xúc trào dâng không sao dừng lại được như những đợt sóng dâng cao vỡ òa trong cảm xúc, để rồi từ đó mà tan ra vô vàn tình cảm.

     Đứng trước không gian rộng lớn ấy, đáng lẽ điều đầu tiên hoặc đối tượng đầu tiên phải nghĩ đến đó chính là bản thân. Nhưng với Xuân Quỳnh thì không. Điều đầu tiên hiển hiện trong tâm trí của em đó là anh. Chỉ có anh mà thôi. Anh luôn là điều đầu tiên em nghĩ đến, là ưu tiên hàng đầu và dường như đây đã đi sâu vào tiềm thức của em. Một khi đã đi vào tiềm thức thì ta cũng hiểu được tình cảm ấy phải sâu đậm đến dường nào. Nghĩ đến anh rồi mới nghĩ đến em. Vậy nghĩ gì về anh nghĩ gì về em nghĩ gì về chúng ta. Có lẽ câu trả lời đích xác chỉ có thể em mới có thể trả lời được mà thôi.

     Tuy không nói nhưng dường như ta vẫn cảm nhận được điều mà nhân vật “em” đang nghĩ gì lúc này. Đó là xoay quanh chuyện tình yêu của anh và em. Chuyện tình mình liệu có thành? Liệu anh có yêu em thật lòng sâu đậm như cách em yêu anh không? Liệu tình mình có đi đến cái đích cuối cùng của hạnh phúc hay chỉ lại là một sự dở dang?… Biết bao nhiêu lo âu. Vì vậy mà không hề vô lý khi các tác giả dân gian thường khắc họa nỗi lòng của cô gái trong tình yêu với biết bao nhiêu bộn bề lo toan như:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề”

                               (Ca dao) 

     Hay những lời tâm sự:     

“Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

Em thương anh không dám nói ra

Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

Anh với em cũng muốn kết đôi

Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.”

                      (Ca dao)

     Từ chuyện của em và anh đột nhiên lại chuyển sang chuyện của sóng nước:

“Từ nơi nào sóng lên”

     Sự chuyển đổi này có vẻ vô lý nhưng xét về quy luật của tâm trạng thì nó lại không vô lý chút nào. Bỏ lửng những dòng suy nghĩ về chuyện tình của anh và em về đích đến của mối tình này, để từ đó hướng đến cội nguồn của tình yêu. Mạch cảm xúc cứ trào dâng, mãi không thôi. Câu hỏi có vẻ ngây ngô “từ nơi nào sóng lên” còn chứa đựng nhiều hơn thế. Đi tìm quy luật của sóng biển cũng chính là tìm kiếm quy luật của tình yêu.

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu”.

     Câu hỏi “từ nơi nào sóng lên” đã được diễn giải thuật thuyết phục. Sóng được tạo thành nhờ sự chuyển động của gió trên mặt nước. Vậy khúc mắc đầu tiên đã được gỡ bỏ. Nhưng liệu trái tim có thôi băn khoăn không. Câu trả lời là không. Nối tiếp sự lí giải đó lại tiếp tục là một câu hỏi “gió bắt đầu từ đâu”. Câu hỏi như muốn đi sâu hơn vào cái gốc rễ cội nguồn của sóng hay của chính tình yêu mà lòng em đang thổn thức.

     Nếu cứ kéo dài mãi liệu có thể đi đến tận cùng nguồn gốc không. Câu trả lời là không bởi lẽ cứ một vấn đề được giải đáp thì một vấn đề khác lại nảy sinh. Nên ta nhận lại được một cái lắc đầu mỉm cười duyên dáng trước lời tự hỏi đó.

“Em cũng không biết nữa”

     Cái lắc đầu đầy đằm thắm. Thật ra nếu trên góc độ lý trí khoa học thì hoàn toàn có thể lý giải được nơi khởi phát của gió – đó là sự chuyển động của không khí. Nhưng em đã từ chối suy nghĩ từ chối trả lời. Bởi lý trí lúc này chẳng có ý nghĩa gì chẳng là gì cả so với trái tim đang lỗi nhịp vì tình yêu. Đó không chỉ là cái lắc đầu không biết gió xuất phát từ đâu mà còn là cái lắc đầu vì:

“Khi nào ta yêu nhau”

     Câu hỏi này cũng là câu hỏi muôn thuở trong tình yêu. Tình yêu là gì? Vì sao anh yêu em? Khi nào thì ta yêu nhau. Những câu trả lời này nếu để trả lời một cách lý trí thì thật khó để tìm ra đáp án. Nhưng có lẽ rằng câu hỏi này chỉ có thể trả lời bằng trái tim, trái tim yêu thương sẽ chấp nhận mọi câu trả lời mà nó muốn nghe, từ những người mà nó muốn nghe…

     Em không biết khi nào tình ta bắt đầu, không phải vì em không yêu anh, cũng chẳng phải vì tình yêu ta chưa đậm sâu. Mà vì trái tim em không cần bất kỳ lời giải thích nào, bởi lẽ em biết mình yêu anh thế là đủ rồi.Tình yêu là thế càng đi tìm câu trả lời thì càng bế tắc. Bởi lẽ tình yêu là chuyện của trái tim của cảm xúc như Xuân Diệu đã từng cắt nghĩa tình yêu như sau.

“Làm sao định nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

                        (Vì sao – Xuân Diệu)

     Và em cũng chẳng biết tình mình bắt đầu khi nào, em chỉ biết mình đã yêu anh khi con tim rung động. Đó là giây phút tình yêu em dành cho anh chớm nở. Em cũng không cần quan tâm bởi lẽ điều em cần hiện tại là được sống trong tình yêu của anh, là hiện tại và tương lai của chúng ta sau này. Đi tìm về quy luật tình yêu để trân quý hiện tại hơn. Nhìn vào nó không phải để bới móc, oán trách mà nhìn vào để thêm yêu giây phút cạnh bên nhau.

     Bằng việc sử dụng hình ảnh sóng, Xuân Quỳnh đã thật tinh tế trong việc đan cài vào đó tình cảm của trái tim. Thể thơ năm chữ gợi nhiều cảm xúc kết hợp với với các hình ảnh gợi tả dã tạo nên một nét nghĩa độc đáo cho bài thơ. Sự thành công ấy còn đến từ ngôn ngữ trần thuật có sự xen lẫn giữa giọng kể và giọng tâm tình. Người đọc đôi lúc có cảm tưởng sóng và em tuy hai mà một, cả hai đã hòa vào nhau.

     Chỉ với hai khổ thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng ta vẫn cảm nhận được nỗi niềm của người phụ nữ trong tình yêu. Đó là một tình yêu đằm thắm thiết tha nhưng không kém phần nồng hậu da diết. Đây cũng chính là một hồn thơ đầy thiên tính nữ. Gieo vào lòng người những xúc cảm nhẹ nhàng về tình yêu nhưng cũng đủ lắng đọng để ta phải chiêm nghiệm.

—/—

Với  các bài văn mẫu Phân tích khổ 3, 4 bài thơ Sóng (Dàn ý + 6 bài mẫu) do Wikichiase sưu tầm và biên soạn trên đây, hy vọng các em sẽ có thêm những góc nhìn mới mẻ và có cái nhìn tổng quát hơn về  tác phẩm. Chúc các em làm bài tốt!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *