Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Văn mẫu 12 hay nhất

Tuyển chọn dàn ý và bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt. Các bài văn mẫu 12 được biên soạn tổng hợp từ các bạn học sinh trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!

Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt

Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt (ngắn gọn, hay nhất)

I. Mở bài

– Kim Lân sáng tác không nhiều, cả đời cầm bút của ông chỉ để lại vẻn vẹn hai tập truyện ngắn: “Nên vợ nên chồng” (1955), “Con chó xấu xí”(1962). Mặc dù sáng tác ít nhưng các tác phẩm của ông đều sáng giá trong nền văn học hiện đại. Ông là minh chứng sống cho chuyện:

“Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”

“Vợ nhặt” của Kim Lân là mảng đề tài người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Dù bị cái đói, cái nghèo quật ngã nhưng vẫn mang một vẻ đẹp của tình người, của sự sống. Nhân vật cô vợ nhăt trong tác phẩm tiêu biểu cho vẻ đẹp khuất lấp của người phụ nữ Việt Nam, điều đó thể hiện tinh tế trong diến biến tâm trạng của nhân vật vợ nhặt

II. Thân bài

1. Khái quát về cô vợ nhặt

– Khái quát dẫn dắt vào đề

+ Thân phận: cô vợ nhặt, không tên, không tuổi,..

+ Nhân hình: tập trung phân tích tác giả miêu tả mặt, ngực, quần áo.

+ Tính cách

2. Diến biến tâm lý nhân vật cô vợ nhặt

a) So sánh, mở rộng để thấy cùng viết về cái đối nhưng mỗi nhà văn có một hướng đi riêng:

– Nam cao nói về cái đói -> nổi bật hiểm họa, hủy hoại nhân tính con người

– Kim Lân mượn cái đổi -> làm sáng cái tình

+ Chặng 1: Ngượng ngùng xấu hổ.

+ Chặng 2: Lo âu, buồn tủi, xót xa

+ Chặng 3: Vui, hạnh phúc

+ Chặng 4: Dịu dàng, đôn hậu trở lại và có dự cảm đổi đời.

3. Vai trò của cô vợ nhặt đối với tác giả, tác phẩm.

Lời văn:

     Đọc tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài người đọc khó có thể quên hình tượng một cô Mị sống trong tột cùng, đau khổ, bất hạnh, bởi các thế lực cường quyền, thần quyền ở miền núi Tây Bắc trà đạp biens thành con dâu gạt nợ. Còn hình tượng người phụ nữ vợ nhặt trong trang văn của Kim Lân để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc về hình tượng người phụ nữ bất hạnh trong nạn đói và khát vọng sống vươn lên của Thị.

     Người vợ nhặt bước ra từ trang sách của Kim Lân tựa nhưa một loài cỏ dại trước xa mạc cuộc đời, như ngọn nến lay lắt trong cơn bão giông. Khi đề cập đến thân phận nhân vật này, nhà văn Kim Lân không đặt cho nhân vật một cái tên cụ thể nào cả mà gọi một cách phiếm định: thị, có lúc là người đàn bà, … Việc nhà văn không đặt tên cho nhân vật của mình không phải ngẫu nhiên, vô tình mà là ẩn ý của tác giả: ông muốn nhấn mạnh rằng thị chỉ là một trong vô số những người phụ nữ năm đói mà thôi. Như vậy cách gọi đó khiến nhân vật vừa hiện ra cụ thể, vừa khái quát. Thị không tên, không tuổi, không quê quán, không chốn nương thân, xộc xệch về nhân hình. Chỉ bằng vài ba nét phác họa, Kim Lân đã tái hiện chân dung người vợ nhặt khá rõ: “thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai hố mắt” và “cái ngực gầy lép”. Có lẽ Kim Lân đã phát huy một cách hiệu quả sức mạnh của bút pháp “tả chân” – một trong những yếu tố nghệ thuật mang dấu ấn thi pháp của khuynh hướng hiện thực, để khắc sâu, tô đậm chân dung thê thảm của người phụ nữ – nạn nhân năm đói.

     Người vợ nhặt xộc xệch cả về mặt nhân tính. Chị ta xuất hiện trong nhưng trang văn đầu tiên như một kẻ trơ tráo, táo bợ, liều lĩnh: chỉ cần mấy câu hò tầm phơ tầm phào và bốn bát bánh đúc, cô đã theo không Tràng về làm vợ. Vịn vào câu hò như một lời hứa hẹn thật. Thế nên gặp lại hai lần sau vài ngày, người đàn bà ấy mới tự cho mình cái quyền sưng sỉa, trách móc, cong tớn: “điêu, người thế mà điêu. Hôm ấy leo lẻo cái mồn hẹn xuống thế mà mất mặt”. Ta không thể quên được hình ảnh đôi mắt trũng hoáy của thị sáng lên khi xà xuống ăn bốn bát bánh đúc…Dường như với người đàn bà ấy danh dự và lòng tự trọng là cái gì đó quá xa xỉ cho nên dễ dàng gạt sang một bên để được ăn, để được sinh tồn. Có thể nói, chỉ bằng những cử chỉ, hành động của nhân vật, nhà văn Kim Lân đã làm hiện rõ hình ảnh một người đàn bà trơ tráo, táo tợn, liều lĩnh. Tính cách ấy chỉ là sản phẩm của một cuộc sống nghèo đói, vất vương, lang thang lề đường xó chợ chứ không phải bản chất của người phụ nữ này.

     Viết về đề tài cái đói, cái nghèo, không chỉ riêng mình Kim Lân, mà những trang văn của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan giai đoạn sáng tác trước cách mạng cũng đề cập đến nhiều như Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), đặc biệt là những tác phẩm của Nam cao như “Một bữa no” hay “Trẻ con không được ăn thịt chó”. Nhưng dường như các nhà văn này mới chỉ xoáy vào hiểm họa: cái đói cướp đi sinh mệnh con người, đẩy con người vào bước đường cùng, hoặc cái đói có nguy cơ ghì xát con người xuống mặt đất. Ngòi bút Kim Lân tiếp nối góc nhìn ấy song còn đem đến cho người đọc một góc nhìn khác đầy chất nhân văn cao cả. Đó là cái đói có thể hủy hoại, tước đoạt những vẻ đẹp giàu chất nữ tính nhất ở người phụ nữ, nhưng, họ vẫn không mất đi niềm tin vào cuộc sống, ánh sáng ở tương lai. Hay nói một cách khác, Kim Lân mượn cái đói để làm nổi bật vẻ đẹp của tình người. Điều này thể hiện rõ ở tâm trạng của người vợ nhặt.

     Cũng giống như Tràng, diễn biến tâm trạng của người vợ nhặt cũng trải qua bốn chặng. Đầu tiên là ngượng ngùng, xấu hổ. Từ khi rơi vào tình cảnh theo không Tràng làm vợ, cô vợ nhặt trên đường theo Tràng về bộc lộ rõ nét tâm lý ngượng ngùng, xấu hổ. Bên cạnh dáng vẻ phởn phơ, tự đắc của Tràng, thì cái vẻ thèn thẹn của người vợ càng lộ rõ. Thậm chí trước lời bàn tán của dân xóm ngụ cư, thị “ngượng ngùng chân nọ díu evào chân kia, thị chỉ dám càu nhàu ở trong miệng”, càu nhàu khẽ đến mức Tràng đi bên cạnh mà không nghe rõ. Ra thế, những nét đanh đá, chỏng lỏn, sống sượng không phải là bản chất mà là sản phẩm của hoàn cảnh năm đói, vẫn còn đó nguyên vẹn trong chị vẻ thuần hậu của người phụ nữ lao động thôn quê.

     Trên đường gần về nhà Tràng, người vợ nhặt rơi vào tâm trạng lo âu, phấp phỏm, điều này được thể hiện rõ qua những câu hỏi dồn dập của thị với Tràng: “Nhà có ai không?”, “Sắp đến chưa?”,”Sao lâu thế?”….Bởi chị theo không Tràng là bất đắc dĩ, là để tránh cái đói quay quắt, không biết những gì đang đợi chị ở phía trước cho nên trong lòng lo lắng, bất an. Rồi khi trông thấy gia cảnh nhà Tràng chỉ là một “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổm nhổm những bụi cỏ dại”, người vợ nhặt không nén nổi tiếng thở dài ngao ngán. Khi bước vào nhà, chị đứng khép nép tay vân vê tà áo rách, mặt bần thần. Nhà văn Kim Lân dã miêu tả thật tinh tế tâm lý của người vợ nhặt khi rơi vào tình huống theo không Tràng về làm vợ.

     Kim Lân rất tinh tế, chỉ điểm thoáng qua vài biểu hiện thất vọng ở người phụ nữ rồi ông chuyển sang một nét nhân bản hơn; không tránh được cái đói, cái rách, không tránh được cái nghèo, cái khổ, người vợ nhặt đã tìm được một điểm tựa tinh thần. Đó là mái ấm gia đình. Vì vậy có những lúc người vợ nhặt bộc lộ niềm vui, phấn chấn, hạnh phúc qua ngôn ngữ và cử chỉ thân mật như mắng Tràng “hoang nó vừa vừa chứ”…” chỉ được cái thế là nhanh. Dơ!”. “Đồ khỉ gió”. Có lúc khặm mặt lại, lườm Tràng một cách tình tứ. Cái lườm của cô vợ nhặt gợi cho ta nhớ đến câu nói nổi tiếng của Nam Cao trong kiệt tác Chí Phèo: “Người đàn bà dù xấu đến đâu, khi yêu cũng lườm”. Cái lườm của người vợ nhặt ở đây quả là đã vượt len trên cái đói, cái khát để đi đến một niềm hạnh phúc rất đời thường.

     Được sống trong tình thương ấm áp của gia đình bà cụ Tứ, người vợ nhặt đã có được những thay đổi rõ nét: dịu dàng, đôn hậu trở lại, cùng bà mẹ chồng “xăm xắn” quét dọn vườn tược, nhà cửa. Việc quét dọn nhà cửa trong những ngày tháng ấy xét về mặt kinh tế thì vô nghĩa nhưng nó lại có ý nghĩa to lớn về mặt giá trị tinh thần nhân văn. Tràng, cô vợ nhặt, bà cụ Tứ không chấp nhận lối sống tạm bợ qua ngày, họ vẫn hướng tới một cuộc sống bền vững, tốt đẹp hơn. Sự thay đổi của cô vợ nhặt cũng khiến Tràng không khỏi ngạc nhiên: ” nom Thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh.” Không chỉ vậy, cô vợ nhặt còn có những dự cảm tốt đẹp về tương lai. Cuối tác phẩm, cô vợ nhặt nhắc đến truyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo. Câu chuyện tưởng vu vơ này nhưng lại bộc lộ một dự cảm đổi đời, một cuộc thay đổi số phận trong đó có người vợ nhặt.

     Cô vợ nhặt xuất hiện trong tác phẩm của Kim Lân như một ngọn nến leo lắt trước cơn bão giông tố của cuộc đời, nhưng có một vai trò rất lớn đối với các nhân vật trong tác phẩm. Đầu tiên đối với dân xóm ngụ cư, Tràng và người vợ nhặt đã khiến cho cả xóm ngụ cư ngạc nhiên “những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên”. Họ bàn tán, thở dài, lại khẽ thì thầm, rồi bỗng lại cười lên rung rúc. Tràng và người vợ nhặt đi đến đâu “có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của dân xóm ngụ cư, nhen nhóm cho họ niềm tin và hy vọng. Cô con dâu cũng đem đến niềm vui, hạnh phúc cho người mẹ chồng. Lúc đầu, bà cũng như những người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên với những câu hỏi dồn dập. Hàng ngày gương mặt bà cụ Tứ bủng beo, u ám, hôm nay rạng rỡ hẳn lên, bà nhẹ nhõm tươi tỉnh khác ngày thường. Ảnh hưởng lớn nhất của cô vợ nhặt là đối với Tràng. Thiếu thị Tràng vẫn chỉ là Tràng của ngày xưa ấy: ngây dại và đau khổ. Tràng đã có những biến đổi trong tâm lý, trong tư tưởng, biết yêu thương, biết lo cho gia đình nhỏ của mình và biết nghĩ đến tương lai. Tràng muốn làm trụ cột cho gia đình bé nhỏ ấy, để mẹ, để Thị có thể nương tựa vào. Thị đã thổi một luồng gió mới đem đến cho Tràng ý thức và hạnh phúc.

     Cô vợ nhặt có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạp của tác phẩm. Qua số phận lay lắt của thị, Kim Lân tỏ lòng xót thương vô hạn những con người bất hạnh, mong manh như người vợ nhặt trong nạn đói khủng khiếp năm ất dậu 1945. Nhà văn gián tiếp tố cáo bọn thực dân, phát xít và tay sai đã tạo ra nạn đói, hạ thấp nhân phẩm của con người khiến thân phận họ rẻ rúng như cọng rơm, cọng cỏ. Quả là nhà văn đã đứng về phía nhân dân, về con người để lên án tội ác. Nhân vật cô vợ nhặt góp phần thể hiện thái độ trân trọng của tác giả trước những phẩm chất tốt đẹp của con người không bị bào mòn bởi cái đói, cái chết. Đó là niềm tin vào cuộc sống, khao khát hạnh phúc, dù nhỏ bé, bình dị, nhưng xúc động lòng người. Trong tác phẩm chưa có một cuộc cách mạng nào nổ ra nhưng hình ảnh những người đi cướp kho thóc Nhật mà người vợ nhặt đề cập đến góp phần khẳng định sức mạnh vùng lên của con người lao động trong thời đại mới.

III. Kết bài:

     Đặt hình tượng người vợ nhặt trong sáng tác viết về đề tài người phụ nữ Việt Nam, có thể thấy ngòi bút của Kim Lân càng có chung mối quan tâm đến số phận bất hạnh của ngườ phụ nữ như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Nhưng bằng sự sáng tạo rộng của một cây bút tài năng, Kim Lân đã cho ta thêm một góc nhìn hiện thực nhân đạo mới về người phụ nữ. Người phụ nữ trong sáng tác của ông bất hạnh không phải vì sưu cao, thuế nặng, cũng không khổ vì xấu ma chê quỷ hờn mà người phụ nữ bất hạnh vì nạn đói, vì một cuộc hôn nhân đầy éo le, ngang trái nhưng người vợ nhặt có khát vọng sống mãnh liệt. Thế mới biết hành trình sáng tạo văn chương có muôn nẻo ngả đường và chỉ có nghệ sĩ đủ bạn lĩnh như Kim Lân mới có những sáng tạo đặc biệt trên một đề tài tưởng chừng đã cũ.

Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt – Bài mẫu

     Một trong những thành công của Kim Lân trong tác phẩm này chính là nghệ thuật đặc tả tâm lý của từng nhân vật. Diễn biến tâm trạng của nhân vật Thị trong Vợ nhặt đã thể hiện được thành công đó trong ngòi bút của tác giả.

     Kim Lân đặt Thị trong hoàn cảnh của nạn đói khủng khiếp năm 1945

     Cái năm 1945 trong lịch sử dân tộc khi mà biết bao con người phải chết vì cái đói, vì miếng cơm manh áo. Chữ “tràn” đã được nhà văn sử dụng vô cùng đắt giá. Cái đói đã ập đến từng nhà, từng người mà não lòng đầy thê lương với những cảnh người sống mà “xanh xám như những bóng ma”

     Đó là cái không khí u ám với tiếng quạ kêu lên từng hồi, mùi ẩm mốc của rác rưởi cùng với cả mùi gây của xác người. Nhà văn Kim Lân đã đặc tả “khi mà cõi dương lởn vởn không khí ủa cõi âm” và ranh giới giữa sự sống và cái chết thì mong manh như sợi tóc.

     Chính trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, tưởng chừng người ta sẽ chết vì đói vì khát thì Tràng lại gặp được Thị. “Cái đói đã làm Thị tơi tả và biến dạng nhân cách”. Khi chưa được ăn thì nàng cong cớn, xưng xỉa, để rồi khi được ăn thì Thị quên hết cả sĩ diện, cả ý tứ để theo Tràng về sau lời rủ rê.

     Điều khác biệt là từ khi chấp nhận cùng Tràng trở về nhà, Thị đã thay đổi theo hướng tích cực. Thị tự nhận thức được rằng mình đã có nơi nương tựa, không phải trong mong được ăn qua ngày, Thị đã hoàn toàn thay đổi để trở thành một người đàn bà mẫu mực.

     Diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt qua tâm lý

     Nếu như trước đây Thị cong cớn, chao chat hay sưng sỉa nơi nhà kho quán chợ với Tràng, nhưng giờ đây gặp Tràng thì Thị lại ngượng ngịu, chân nọ ríu chân kia, rón rén, e thẹn, cái nón rách tàng tàng che khuất đi nửa mặt.  Vì sao Thị lại ngượng ngùng như vậy?

     Đó là vì Thị đang đối diện với lòng mình hay bởi sự tò mò của người dân trong xóm. Sự ngượng ngịu này còn bao gồm cả việc chấp nhận về chung một mái nhà với Tràng là chấp nhận dấn thân và cảnh đời xa lạ. Cái dáng điệu “thèn thẹn” có chưa ít nhiều niềm vui của người con gái mới về nhà chồng. Có thể thấy khi phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt, người ta thấy được sự tiến triển trong tâm lý của cô nàng này theo chiều hướng tích cực.

     Khi mới về nhà, Thị “mơm mớm ngồi méo giường” cho thấy cái sự chông chênh đầy rụt rè của Thị trong ngày đầu tiên về nhà chồng. Cô nàng được nhặt ấy đã phân vân biết bao. Thị theo Tràng về vì hoàn cảnh không đủ cái ăn, và rồi cố nén cái sự thất vọng khi thấy gia cảnh của chồng. Kim Lân đã thể hiện thật đặc sắc và chân thực hình ảnh Thị qua chi tiết “cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài”.

     Hơn nữa lúc ấy bà cụ Tứ – mẹ chồng của nàng còn chưa về. Liệu bà có chấp nhận Thị hay không? Rồi cái cảnh làm dâu sẽ trơ trụi như thế này sao?… Trong tâm trạng ấy, biết bao câu hỏi cứ hiện lên trong tâm trí của Thị. Diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong Vợ nhặt quả thật là phức tạp và đa chiều.

     Khi gặp mẹ chồng – bà cụ Tứ, Thị lại lúng túng chào “U đã về ạ” để rồi trước cái nhìn đăm đăm của mẹ chồng, Thị lại cúi xuống “tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Hình ảnh Thị khép nép đứng một chỗ thể hiện tinh tế cái tâm trạng của cô nàng vợ nhặt trong ngày đầu tiên về nhà chồng. Vừa tủi, vừa e thẹn ngượng ngịu của Thị đã được nhà văn diễn tả thật sâu sắc. Diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong Vợ nhặt cùng vì thế mà trở nên hấp dẫn cho câu chuyện.

     Cái tâm của nhà văn Kim Lân không chỉ dừng lại ở những nét phác thảo cái cuộc sống nghèo khổ, cái cảnh theo không về nhà chồng của Thị mà còn thể hiện đậm nét qua sự đầm ấm của một gia đình. Sau ngày về nhà chồng, Thị đã thay đổi. Sáng sớm Thị dậy quét nhà của sân vườn để rồi thấy cái gì đó khác lạ đầy mới mẻ. Và rồi chính Thị nhận ra cái hạnh phúc khi ở ngôi nhà này.

     Một ý tứ đẹp đẽ thể hiện ở việc Thị ý tứ và món cám đắng chát vào miệng. Nó thật khác biệt với sự lăn xả vào miếng ăn nơi đầu huyện của Thị trước đây, mà nguyên do cũng chỉ vì cái đói.

     Thị thắp lên ngọn lửa hi vọng cho hai mẹ con Tràng

     Người vợ nhặt đã mang đến cho ngôi nhà sự ấm áp của tình yêu gia đình, của tình cảm vợ chồng, của tình thương mà người con dâu dành cho người mẹ xa lạ. Sự chịu khó và chăm chỉ của Thị đã khiến cái mặt ủ ê của bà cụ Tứ tươi tỉnh hẳn lên. Còn chồng Thị – Tràng lại thấy căn nhà trở lên gắn bó lạ lùng. Từ chỗ bị cái đói khát ném ra ngoài đường, bỏ xa nhân cách vì miếng ăn, thì giờ đây chính Thị lại là người thắp lên niềm tin và hạnh phúc.

     Câu nói vô tình tưởng như tình cờ của Thị đã thắp lên điểm tựa tinh thần và niềm tin về tương lại tương sáng cho hai mẹ con Tràng – hình ảnh Việt Minh phá kho thóc của Nhật giữa tiếng trống liên hồi. Một tương lai tươi sáng rồi sẽ đến, hứa hẹn sự ấm no hạnh phúc của Thị, cho mẹ con Tràng và biết bao những người nông dân khác lúc bấy giờ.

     Có thể nói, diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong Vợ nhặt đã trải qua bốn giai đoạn. Đầu tiên là sự xấu hổ, phân vân và ngượng ngùng và tiếp theo là sự hạnh phúc. Hình ảnh Thị xuất hiện như ngọn đèn leo lắt trước cơn bão giông của cuộc đời, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

     Qua việc thể hiện và phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Thị trong Vợ nhăt đã cho thấy tấm lòng nhân đạo của nhà văn Kim Lân. Ông xót xa lo lắng và cảm thông cho những nhân vật của mình, cho những con người sống trong cái đói đeo đẳng của năm 1945. Qua đó, nhà văn cũng gián tiếp tố cáo xã hội loạn lạc, tố cáo bọn phát xít thực dân đã tạo ra nạn đói và hạ thấp thân phận cũng như nhân phẩm của con người.

     Kim Lân, cùng vì thế, đã đứng về phía nhân dân, ủng hộ cách mạng và chiến đấu vì mơ ước tự do, ấm no và hạnh phúc. Nhân vật Thị cũng góp phần cho thấy thái độ yêu mến và trân trọng của tác giả đối với những phẩm chất tốt đẹp của con người, mặc cho hoàn cảnh xô đẩy vẫn không hề bị bào mòn. Mặc dù trong tác phẩm chưa có hình ảnh nào về sự nổ ra của Cách mạng, nhưng trong tương lai gần kho thóc của Nhật sẽ thuộc về tay chúng ta, sức mạnh vùng lên của người nông dân sẽ bộc phát.

     Cũng như Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nam Cao, Ngô Tất Tố… nhà văn Kim Lân đã thêm một lần nữa tạo nên một hình ảnh sáng ngời về người phụ nữ Việt Nam. Việc phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong Vợ nhặt, nhà văn đã góp phần thể hiện quan điểm nhân đạo cao cả của mình đối với thân phân cũng như nhân phẩm của con người. Hi vọng thông qua bài viết các bạn đã nhận được những thông tin bổ ích.

—/—

Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Thị trong vợ nhặt do Wikichiase sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *