Phân tích Chí phèo học sinh giỏi

Tuyển chọn những bài văn hay, nâng cao phân tích chí phèo học sinh giỏi. Với những bài văn mẫu đặc sắc, chi tiết dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn tại các lớp chuyên và thi học sinh giỏi. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý Phân tích Chí phèo học sinh giỏi

1. Mở bài:

– Tác giả:

+ Tên thật Trần Hữu Vũ  (1917 – 1951), bút danh Nam Cao, quê Hà Nam.

+ Khiêm nhường, bề ngoài lạnh lung, ít nói nhưng có đời sống nội tâm phong phú, nghiêm khắc đấu tranh với bản thân để vươn tới lối sống cao đẹp. Ông thường hổ thẹn với những gì tầm thường, thấp kém của mình. Ông có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, gắn bó sâu nặng với quê hương, với con những người nghèo khổ.

– Tác phẩm:

+ Nhan đề: ban đầu có tên “Cái lò gạch cũ”, sau đó nhà xuất bản đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi”, cuối cùng khi in lại trong tập “Luống cày”  (1945), tác giả đổi tên là “Chí Phèo”.

Nhan đề có tính khái quát thể hiện đầy đủ số phận một con người.

+ Hoàn cảnh sáng tác:

Truyện được Nam Cao sáng tác năm 1941.

Nam Cao dựa vào “người thật, việc thật” ở làng Đại Hoàng, rồi hư cấu thêm để viết tác phẩm này.

– Giới thiệu nhân vật Chí Phèo

2. Thân bài:

Hình tượng nhân vật Chí Phèo:

* Sự xuất hiện độc của hình tượng Chí Phèo:

– Nam Cao đã mở đầu câu chuyện bằng hình ảnh Chí Phèo vừa đi chửi: “Chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa nào đã sinh ra hắn”

* Ý nghĩa tiếng chửi:

– Đó là phản ứng của một người đau đớn, bất mản với đời.

– Chửi bới là con đường để giao tiếp với cộng đồng nhưng chỉ có mấy con chó đáp lại.

=> Chí Phèo đã bị gạt bỏ ra khỏi thế giới loài người, không còn tồn tại ở cái làng này nữa.

Quá trình tha hóa:

– Trước khi đi tù:

+ Lúc nhỏ mồ côi được mọi người truyền tay nhau nuôi.

+ Lớn lên Chí Phèo đi ở cho nhiều nhà.

+ Năm 20 tuổi làm canh điền cho bá kiến.

+ Cảm thấy nhục khi phải bóp chân cho bà Ba.

+ Chí Phèo từng có ước mơ: “Hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”.

– Sau khi ra tù:

+ Nhân hình:

> Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn.

> Cái mặt thì đen mà rất cơng cơng

> Hai mắt gườm gườm trông gớm chết

> Ngực và tay đầy những nét chạm trổ

+ Nhân tính:

> Triền miên trong cơn say.

> Rạch  mặt ăn vạ.

> Gây gỗ cướp giật.

> Làm tay sai cho bá kiến.

=> Trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, hung tợn, một kẻ lưu manh hóa.

Cuộc gặp gỡ với Thị Nở:

– Thị Nở đã khơi dậy bản năng của một gã đàn ông như Chí Phèo.

– Thị nở đã đánh thức nhân tính trong con người Chí.

+ Lần đầu tiên trong cuộc đời, Chí Phèo cảm nhận được âm thanh cuộc sống.

+ Lần đầu tiên trong cuộc đời, có bàn tay của một người phụ nữ chăm sóc hắn, nấu cháo cho hắn ăn.

+Chí Phèo nghĩ Thị Nở sẽ mở đường cho hắn sẽ trở về với cuộc sống lương thiện trước đây.

* Sự khước từ của Thị Nở:

– Sự ngăn cản của bà cô Thị Nở, Thị Nở đã từ chối Chí Phèo làm thiêu trụi những ước mơ, niềm vui và hạnh phúcvừa lóe lên trong lòng Chí, đẩy Chí vào bước đường cùng không lối thoát.

=> Chí Phèo rất đau khổ và tuyệt vọng: sinh ra là người nhưng không được làm người.

* Giết Bá Kiến và tự sát:

– Khao khát được trở về với cuộc sống lương thiện trước kia, không thực hiện được, Chí tuyệt vọng tìm đến rượu nhưng càng uống càng tỉnh, nhận ra kẻ thù của chính mình là Bá Kiến. Chính Bá Kiến đã khiến hắn từ một người lương thiện được nữa.

=> Chí Phèo tìm đến Bá Kiến, giết Bá Kiến và tự sát.

=> Cái chết của Chí Phèo là một cái chết bi thảm của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát, Chí chết khi đang trở về trên ngưỡng cửa lương thiện. Đó là bản án tố cáo chế độ xã hội thực dân một cách gay gắt.

3. Kết bài:

Cảm nhận của bản thân về nhân vật Chí Phèo.

Phân tích chí phèo học sinh giỏi – Bài mẫu 1

          Trong “Trăng sáng” Nam Cao đã viết: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Ông tự thoát ly với thứ văn chương lãng mạn thi vị hóa cuộc sống, ông chọn cho mình con đường đến với đời sống lầm than của người dân lao động. Là người cầm bút, ông không được trốn tránh hiện thực mà phải miêu tả được hiện thực, phải diễn tả được tiếng lòng đau khổ của quần chúng. “ Chí Phèo” đã ra đời với mục đích ấy. Tác phẩm ra đời năm 1941, ban đầu có tên “ Cái lò gạch cũ”, sau đó nhà xuất bản đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi” và đến cuối cùng khi in trong tập “Luống cày”, tác giả đã đổi tên là “ Chí Phèo”. Và hình tượng nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm của ông đã tạo nên một tiếng vang lớn và đi sâu vào lòng người đọc, Chí Phèo như trở thành nhân vật đại diện cho những người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội thời ấy với cả cuộc sống trải dài trên một tấm bi kịch.

          Không gian làng Vũ Đại đóng kín, chật hẹp với những luật lệ, hủ tục đã vùi dập và tước đoạt đi quyền làm người của một con người mang tên Chí Phèo. Đứa con làng Vũ Đại đã xuất hiện lần đầu tiên trước mắt người đọc không phải bằng xương bằng thịt mà lại bằng tiếng chửi, hắn “Chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa nào đã sinh ra hắn”. Tiếng chửi như hé lộ một cuộc đời đau thương của một con người nhận biết được bi kịch của chính mình nhưng lại đầy bất lực, Chí Phèo như đang cố vùng vẫy để thoát ra nhưng vô vọng. Với Chí, nó là con đường giao tiếp duy nhất của hắn với cộng đồng nhưng cay đắng thay, khi đáp lại những uất ức, bất mãn của hắn lại là “ tiếng chó cắn lao xao”. Tiếng chửi – tiếng kêu tuyệt vọng của một con người cô đơn, khát khao được giao tiếp dẫu là cách hạ đẳng nhất nhưng người dân Vũ Đại đã quen coi hắn là quỷ dữ mất rồi…Chí Phèo sống một cuộc sống bị gạt bỏ ra khỏi thế giới loài người, và cuộc đời đắng cay đau khổ ấy sẽ còn đi đến đâu, sẽ như thế nào đi nữa vẫn còn là một ẩn số và Nam Cao sẽ chính là người đưa ta chiếc chìa khóa giải mã nó.

          Cuộc đời Chí Phèo trải dài trên một tấm bi kịch, bi kịch là một đứa con hoang bị bỏ rơi, bi kịch tha hóa, lưu manh. Cuộc đời, ai chẳng khao khát một tuổi thơ êm đềm trong vòng tay cha mẹ cơ chứ, thế nhưng thượng đế lại ban cho Chí Phèo một cuộc đời đầy nghiệt ngã, thượng đế đã tạo ra một con người không nguồn gốc, không nơi nương tựa, không tương lai. Hắn được cưu mang bởi những con người nghèo khổ, được người này đến người khác truyền tay nuôi nấng mà lớn lên. Rồi đến năm 20 tuổi, hắn đi làm canh điền cho Bá Kiến, là một con người giàu lòng tự trọng, biết ghét những con người đáng khinh nên khi bị bà Ba bắt phải bóp chân cho mình, hắn cảm thấy nhục, vừa làm lại vừa run, làm một việc đáng khinh chẳng biết làm sao tránh được, hắn đành chấp nhận làm trong sự cưỡng ép. Tuy vậy, đây chính là khoảng thời gian tương đẹp nhất trong cuộc đời Chí, bởi đó là quãng đời hắn dám ước mơ, dám suy nghĩ về tương lai sẽ tương đẹp, như bao người, hắn có những ước mơ đầy giản dị, yên bình  “hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ, . Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Nhưng thật đau đớn khi cái xã hội bất nhân ấy đã bóp chết ước mơ đó của Chí khi vừa chớp nở. Một cơn ghen của lão Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo đi vào nhà tù thực dân, Tại nơi đây đã biến một con người hiền lành, chất phát thành một tên lưu manh, tội đồ.

          Bảy, tám năm sau, Chí ra tù với một nhân dạng chẳng ai ngờ tới và cũng chẳng ai nhận ra. Anh canh điền ngày nào giờ đã biến mất, thay vào đó, hiện ra trước mắt người đọc một tên lưu manh gớm ghiếc, cái đầu hắn trọc lóc, cái răng thì cạo trắng hớn, cai mặt thì lại đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết, ngực và tay đầy những nét chạm trỗ. Thật sự rất đáng sợ dù chỉ mới tưởng tượng qua. Và đến cả nhân tính đẹp đẽ ngày nào, giờ đây cũng bị xã hội giết chết, hắn giờ trở thành một kẻ chìm ngập trong cơn say rượu triền miên, hắn trở thành tay sai cho Bá Kiến – kẻ đã từng là nguyên nhân chính khiến hắn trở nên như bây giờ, mọi thứ ở Chí Phèo đã bị xã hội phong kiến ép đến mức phải quay lưng lại với làng Vũ Đại, nó hoàn toàn đối lập với nhân dân lao động cần cù, chịu khó lúc bấy giờ. Từ một người nông dân hiền lành ngày nào, giờ đây ai có thể nhận ra đây là Chí Phèo năm ấy cơ chứ, Chí bây giờ chẳng sống bằng tình thương trong vòng tay của người dân nghèo khó làng Vũ Đại nữa, hắn bắt đồng cuộc sống bằng rượu, bằng máu và nước mắt của những con người lương thiện. Chưa bao giờ hắn thật sự tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi “những cơn say của hắn tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang”. Nam Cao xót thương cho nhận vật do chính mình tạo ra và cũng như đang xót thương cho những kiếp người lúc bấy giờ, bị chính cái xã hội mình đang sống tha hóa dần bản tính lương thiện vốn có.

          Nhịp điệu thời gian trong Chí Phèo là sự gối đầu chồng chéo các sự kiện, tạo nên một nhịp điệu gấp khúc đầy đau đớn, xót xa. Chí đã bị đẩy vào tù, khi ra tù thì trở thành tay sai cho Bá Kiến, Và giờ may mắn thay, Chí gặp Thị Nở – kim chỉ nam đưa Chí trở về cuộc đời là con người của mình. Vậy, mối duyên nơi bụi chuối sau một đêm sau này có thật sự sẽ là hồi kết cho tấm bi kịch đời Chí?

          Lần đầu tiên trong cuộc đời Chí tỉnh dậy. Chợt nhận ra bên ngoài căn lều, âm thanh cuộc sống tràn đầy. Nam Cao đã dành ra một khoảng lặng để Chí cảm nhận về cuộc sống tươi đẹp mà trước kia hắn không hề nhận ra “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng nói của những người đi chợ. Anh thuyền chày gõ mái chèo đuổi cá”. Chí muốn sống một cuộc sống lương thiện. Lần đầu tiên trong cuộc đời, hắn được bàn tay của một người phụ nữ chăm sóc, nấu cháo cho hắn ăn. Hắn cho rằng chỉ có Thị Nở mới có thể mở đường cho hắn sẽ trở về với cuộc sống lương thiện trước đây. Nam Cao đã không trách giận nhân vật của mình, ông nhận ra được chỉ cần một chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mạnh mẽ, tha thiết. Chí sống những ngày tiếp theo cùng Thị Nở, một sự lương thiện đến lạ. Bản tính con người ngày nào bị khuất lấp sau những ngày rạch mặt ăn vạ, đập đầu, chém giết chửi bởi bây giờ bỗng sống lại “Hắn không kinh rượu nhưng cố uống cho thật ít. Để cho khỏi tốn tiền, nhưng nhất là để tần tảo yêu nhau”. Chí tỏ tình một cách trân trọng nhất, tình tứ nhất như bao gã đàn ông “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”, Chí dùng hết sự chân thành của mình để bày tỏ với Thị “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ? ” lời bày tỏ hiền lành, ngờ nghệch, hồn nhiên của một người biết yêu nhưng cũng đầy tội nghiệp, hắn cảm nhận được sợi dây hạnh phúc rất mong manh, con người khốn khổ ấy trong phút làm người ít ỏi vẫn dự cảm được những điều bất hạnh phía trước.

          Và đỉnh điểm của bi kịch chính là lúc này đi, hắn cự tuyệt quyền làm người của chính mình. Một hạnh phúc nhỏ bé, chớm nở này đây đã bị chính cái xã hội vô nhân tích lúc bấy giờ giết chết. Sự ngăn cản của bà cô Thị Nở như một gáo nước lạnh tạt vào ngọn lửa đang cố sáng lên trong cuộc đời của Chí, Thị Nở cũng phải đành từ chối Chí Phèo. Tất cả, tất cả đã làm thiêu trụi những ước mơ, niềm vui và hạnh phúcvừa lóe lên trong lòng Chí, đẩy Chí vào bước đường cùng không lối thoát. Rồi Chí lại tìm đến rượu, hắn cầm dao đi trả thù cho những nỗi uất hận trong lòng hắn, hắn dự định rẽ vào nhà Thị Nở nhưng thứ gì đó đã khiến hắn phải rẽ vào nhà lão Bá Kiến. Nam Cao đã từng bình luận “Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm”. Đó có lẽ chính là nguyên nhân khiến Chí rẽ sang hướng nhà Bá Kiến, Chí chỉ thẳng vào mặt Bá Kiến, hắn đòi cho mình quyền làm người nhưng chính Chí cũng biết rằng đó rất vô vọng “Ai cho tao lương thiện…Tao không thể là người lương thiện nữa”. Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến sau đó để trả thù cho tất cả bi kịch đời mình. Giết Bá Kiến, Chí không thể tiếp tục tồn tại trong một cộng đồng tuyệt đối không ai dám thừa nhận hắn. Chí đành chọn cách kết liễu đời mình. Nếu trước đây, để tồn tại thì hắn đã phải bán bộ mặt và linh hồn cho quỷ dữ, thì giờ đây khi linh hồn trở về, Chí đã phải đổi lấy cả sự sống của mình.

          Cái chết của Chí Phèo là một cái chết bi thảm của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát, Chí chết khi đang trở về trên ngưỡng cửa lương thiện. Đó như bản án tố cáo chế độ xã hội thực dân một cách gay gắt mà Nam Cao muốn truyền đạt.

          Nam Cao đã khiến cho người đọc phải ám ảnh bằng chính nhân vật của mình. Là  đứa con của quỷ dữ nhưng họ cũng đã từng là một con người, họ cũng biết yêu, biết buồn, biết hờn, biết ghen tuông. Nam Cao đã soạn thảo rất thành công một bản án về tội ác của chế độ nửa thực dân nửa phong kiến đã đàn áp, bóc lột nhân dân đến mức nào. Bên cạnh đó, ông cũng đã kịp thời trân trọng và phát hiện vẻ đẹp trong chính nhân vật của mình – Chí Phèo, để đến cuối cùng, sau một vòng tròn, ông đã cho họ một kiếp người mới, chắc chắn sẽ tốt hơn, hạnh phúc hơn, xứng đáng với bản tính tốt đẹp của mình.

Phân tích chí phèo học sinh giỏi – Bài mẫu 2

          Nhà văn Nga M.Gorky có nói: “Nghệ sĩ là con người biết khai thác những ấn tượng riêng – chủ quan – của mình, tìm thấy trong những ấn tượng đó cái có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng.” Trong nền văn học hiện đại có rất nhiều nhà văn đã làm được điều đó. Một trong những nhà văn tiêu biểu, đặc sắc nhất viết về con người và nỗi đau không chỉ về vật chất mà còn nỗi đau tinh thần là nhà văn Nam Cao. Những truyện ngắn của ông luôn lấy hiện thực làm gốc, lấy con người làm trung tâm để miêu tả. Sự nghiệp văn học hiện thực của Nam Cao tuy tới muộn hơn so với lúc bấy giờ nhưng đã để lại tiếng vang lớn cho nền văn học nước nhà. Nhưng xuất sắc hơn cả phải kể tới Chí Phèo của Nam Cao. Chí Phèo viết về đoạn cuối cùng của cuộc đời người nông dân tên Chí Phèo bị xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy vào bước đường cùng để rồi chọn cái chết để tự giải thoát chính mình.

          Mở đầu tác phẩm người ta chỉ nghe thấy tiếng chửi của Chí Phèo, của một kẻ say rượu triền miên, của một con quỷ dữ. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn,…Nhưng nếu đi ngược lại về quá khứ, cái ngày mà Chí Phèo mới sinh ra. Chí Phèo từ khi sinh ra đã trở thành đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ “ trần truồng và xám ngắt” được người đi thả ống lươn nhặt về và chuyền tay cho người làng nuôi, từ một bà góa mù, một bác phó cối, rồi khi bác phó cối này mất thì Chí lại bơ vơ, không nơi nương tựa và “ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ” . Năm 20 tuổi, Chí đi làm canh điền cho nhà lí Kiến. Ngày ấy, anh Chí là một thiếu niên sức dài vai rộng, chăm chỉ làm nụng. Mặc cho một tuổi thơ mồ côi cha mẹ, sống nay đây mai đó, Chí Phèo một thời tuổi trẻ vẫn hiện lên là con người mộc mạc, chất phác, dám mơ ước và có lòng tự trọng. Chí Phèo đi làm canh điền cho nhà lí Kiến, một lần bị bà Ba gọi lên bóp chân cho bà, hắn chỉ thấy nhục, hắn nhận thức được đâu là tình yêu, đâu là thói dâm ô, lẳng lơ ong bướm. Hắn mang trong mình một tâm hồn trong sáng, sự lương thiện, hiền lành mà bất kì người làng Vũ Đại nào lúc bấy giờ cũng phải công nhận, hắn “ hiền như cục đất”. Tuổi trẻ của hắn cũng đẹp, cũng có ước mơ và những khao khát muốn thực hiện, nhưng chính xã hội lúc bấy giờ không cho hắn cái quyền giản đơn ấy. Sau lần ghen tuông của lí Kiến, Chí Phèo bị giải huyện rồi bị đưa vào tù. Bước ngoặt cuộc đời của hắn cũng bắt đầu từ đây.

          Sau khi ra tù, Chí Phèo đã thực sự thay đổi, khiến người làng Vũ Đại không ai nhận ra hắn. Chí Phèo “ như thằng sắng cá, cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”, rồi thì “hắn mặc quần nái với cái áo Tây vàng, phanh ngực ra đầy những nét chạm trổ rồng, phượng,…”. Thực lòng “ trông gớm chết!”. Hắn đã thay đổi, thay đổi nhân hình, thay đổi cái dáng vẻ mộc mạc, thuần chất xưa kia bằng cái vẻ gớm ghiếc. Nhưng đó là sự thực. Người ta vào tù để cải tạo, để thay đổi tốt hơn, Chí Phèo thì ngược lại. Chí Phèo không chỉ thay đổi về nhân hình mà hắn còn thay đổi cả về nhân tính. Hắn về rồi lại bắt đầu uống rượu, người ta thấy hắn uống ở ngoài chợ từ lúc sáng sớm cho đến xế chiều. Hắn uống say khướt rồi xách một vỏ chai rượu đến nhà bá Kiến, nhưng cụ bá nào có ở nhà. Chí Phèo chửi nhau với lí Cường, với mấy con chó dữ nhà cụ bá. Hắn trở nên lưu manh hóa, liều lĩnh và rạch mặt ăn vạ kẻ đã đẩy mình vào tù. Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi, hắn chẳng còn cái vẻ hiền lành ngày trước mà đã trở thành một con người khác, lúc nào cũng trong cơn say triền miên. Thế rồi, cụ bá lại nắm được thóp của hắn, bá Kiến dỗ ngon dỗ ngọt biến Chí Phèo trở thành tay sai của mình. Chí Phèo ăn, ngủ và làm những việc người ta sai khiến trong lúc say và hắn cũng trở thành tay sai của bá Kiến- kẻ thù của mình trong lúc say. Chí Phèo kẻ lưu manh hóa đã bị bá Kiến lợi dụng trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Rồi năm tháng trôi đi, Chí Phèo trở thành người không tuổi. Trong sổ của làng không có tuổi hắn, không có tên hắn. Chí Phèo đã trở thành kẻ không được xã hội loài người công nhận, hắn mất hết nhân hình và nhân tính. Hắn gây ra biết bao tai họa, gieo rắc nỗi đau, làm chảy bao nhiêu máu và nước mắt của những con người lương thiện.Hắn đã đi đến cùng cực của sự tha hóa và biến chất, Chí Phèo không còn là Chí Phèo của ngày xưa, không còn lương thiện. Hắn đã đánh mất lương tri, nhân tính vốn có của mình, khiến cho cả làng Vũ Đại, cả xã hội xa lánh và tước đi quyền làm người.

          Một lần trong buổi tối sáng trăng, sau khi được uống rượu với Tự Lãng, hắn trở về túp lều ven sông định bước xuống tắm, tình cờ nhìn thấy Thị Nở đang nằm ngủ. Thị là người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng. Sau cuộc gặp gỡ ấy, linh hồn, nhân tính và lương tâm của Chí Phèo đã sống dậy. Thị Nở tuy xấu xí nhưng thị có thứ mà người khác không có, ấy chính là tình thương. Tình thương giữa người với người làm trái tim Chí Phèo như sống dậy. Tình thương ấy đánh thức phần người bên trong con người Chí bấy lâu, đã đưa Chí Phèo ra khỏi những cơn say triền miên. Hắn chưa bao giờ tỉnh như lúc này. Đầu tiên là hắn tỉnh rượu, hắn tỉnh để sống và tỉnh để yêu. Hắn mơ hồ buồn, cái mơ hồ rất đỗi nhẹ nhàng, nhưng thực là hắn không mơ, hắn đã biết sợ rượu. Không chỉ có vậy, Chí Phèo còn tỉnh cả về nhận thức và tâm lí. Hắn nghe được những âm thanh bên ngoài, tiếng chim hót ngoài kia, tiếng cười nói của những người đi chợ hay tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh bình dị, hàng ngày, đến hôm nay hắn mới nghe thấy. Lòng mơ hồ buồn ấy đã đưa hắn vềquá khứ, hiện tại và tương lai. Hắn nhớ về những ước mơ, khao khát thời trai trẻ, được sống một cuộc sống bình dị, có vợ, có chồng và những đứa con. Đang lúc suy nghĩ miên man thì thị Nở bưng bát cháo hành đến. Nồi cháo hành của thị làm Chí Phèo từ ngạc nhiên rồi chuyển qua xúc động. Hắn ngạc nhiên bởi lẽ từ xưa tới nay, hắn chưa thấy ai tự nhiên cho hắn cái gì. Hắn xúc động vì hắn chưa được chăm sóc bao giờ. Chí Phèo ăn một cách ngon lành bởi bát cháo là hương vị của tình yêu thương, của hạnh phúc mà lần đầu tiên hắn có. Chí Phèo bỗng trở thành một con người hiền lành. Tình yêu đã làm thức tỉnh bản chất lương thiện bên trong con người Chí. Hắn muốn trở về cuộc sống của một con người bình thường, lương thiện và chắc chắn thị Nở sẽ là người mở ra con đường ấy cho hắn.

          Họ ở với nhau được năm ngày, đến ngày thứ sáu, bà cô thị Nở xa về. Bà đã xỉ vả mắng nhiếc thị vì đã biết được chuyện giữa thị với Chí Phèo. Thế rồi, thị lại tìm đến Chí, mắng nhiếc Chí. Chí Phèo lại uống rượu, nhưng càng uống càng tỉnh. Hắn ôm mặt khóc rưng rức rồi hắn lại uống, uống đến khi say mềm. Chí Phèo xách dao đi, hắn vừa đi vừa chửi và dọa giết “nó”. Hắn nghĩ là một chuyện, nhưng hắn lại xách dao đến nhà bá Kiến. Chí Phèo đến nhà bá Kiến, hắn đòi quyền làm người, đòi quyền được sống như những con người bình thường, có cuộc sống bình dị và có một gia đình nho nhỏ. “ Ai cho tao lương thiện? Tao không thể làm người lương thiện được nữa rồi!” tức thời, hắn rút dao ra đâm chết bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình. Với Chí Phèo, niềm tin lương thiện còn cao hơn cả khao khát cuộc sống. Thế là Chí Phèo chết, một kiếp người nông dân đau khổ, bị tha hóa, bị lưu manh hóa đã khép lại. Nhưng không biết ngoài kia còn có bao nhiêu con người như thế.

          Nghe tin hai cái chết, cả làng Vũ Đại nhao nhao lên, họ bàn tán, họ hả hê. Còn thị Nở lại nghĩ đến Chí Phèo “ sao có lúc nó hiền như đất”, rồi thị nhớ lúc ăn nằm với hắn, nhìn bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng mình. Thị nghĩ nếu mình có chửa mà Chí Phèo chết rồi thì thị phải làm sao, đột nhiên trong đầu thị hiện ra cái lò gạch cũ. Hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện đầu truyện và cuối truyện chính là sự liên tục tiếp diễn của nhiều số phận con người nghèo khổ, không có chỗ nương thân, không được xã hội công nhận, không được làm con người mà phải tìm đến cái chết để giải thoát.

          Chí Phèo mang một chủ đề hẹp đã được khai thác trước đó về nỗi khổ của người nông dân, nhưng cái độc đáo của Nam Cao là khai thác sâu hơn sự đau khổ về mặt tinh thần khi con người không được công nhận là người. Truyện ngắn đã phản ánh bộ mặt nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, khẳng định bản chất đẹp đẽ của con người khi bị cướp đi cả nhân hình và nhân tính. Truyện ngắn cũng cho thấy tài năng bậc thầy của Nam Cao khi sử dụng đan xen ngôn ngữ của người kể chuyện và nhân vật làm cho độc giả hiểu, đồng cảm hơn với nhân vật. Một trong những biệt tài mà Nam Cao sử dụng chính là miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật từ Chí Phèo cho tới thị Nở, đặt nhân vật của mình trong những hoàn cảnh điển hình để bộc lộ tính cách và phẩm chất của họ. Bằng ngôn ngữ tự nhiên, giản dụ, diễn đạt độc đáo, sử dụng nhiều khẩu ngữ quần chúng đã tái hiện đầy đủ mà sâu sắc xã hội cũng như nỗi đau khổ của con người trong xã hội thực dân nửa phong kiến.

          Chí Phèo đã trở thành một bản tố cáo đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến không cho người ta cái quyền làm người, tước đoạt đi sự lương thiện vốn có, đẩy người nông dân vào cảnh lầm than, tha hóa, lưu manh hóa. Nhưng sau tất cả, tình yêu thương giữa người với người vẫn nở hoa, vực dậy con người từ trong đau khổ. Nam Cao đã xuất sắc chinh phục những con người yêu sự thật, làm nảy nở trong lòng người những tình thương mãnh liệt, đậm sâu. Và nhà văn – người nghệ sĩ chân chính khi dám sáng tạo, dám đem đến những đề tài cũ mà mới, dùng đôi mắt mới để nhìn mảnh đất cũ sẽ luôn tồn tại trong lòng độc giả, biến độc giả trở thành tri âm, tri kỉ của mình, gieo những hạt giống đẹp đẽ vào vườn hoa văn học, vườn hoa cuộc đời.

Phân tích chí phèo học sinh giỏi – Bài mẫu 3

          Là một nhà văn ngắn liền với người nông dân Việt Nam những có lẽ tác phẩm để lại cho ông nhiều tiếng vang nhất phải kể đến tác phầm Chí Phèo, một nhân vật điển hành cho kiếp người khốn khổ la nạn nhân của xã hội cường hào ác bá lúc bấy giờ. Trong tác phẩm nhà văn cho nhân vật của mình bước ra với những bước đi ngật ngưỡng đầy nỗi đau và những ám ảnh khiến cho người đọc có rất nhiều băn khoăn về nhân vật.

          Cũng ra đời cùng thời với Chí phèo cũng có rất nhiều bài viết của những tác giả khác nhau viết về làng quê Việt Nam, viết về người nông dân, nhưng người nông dân của Nam Cao xuất hiện mang mọt vẻ sầu bi đầy khốn khổ thể hiện nỗi đau đớn của những tâm hồn, nhân cách bị xúc phạm, bị hủy diệt. Nhưng qua đó, ông cũng kín đáo bênh vực và khẳng định nhân phẩm của những con người cùng khổ. Chí Phèo là nhân vật thể hiện rõ nhất cái nhìn mới mẻ của Nam Cao về người nông dân trước Cách mạng.

          Về xuất thân của Chí Phèo vốn là một thanh niên hiền lành, lương thiện nhưng đã bị bọn cường hào ở làng Vũ Đại đẩy vào bước đường cùng. Là đứa con hoang bị bỏ rơi từ lúc mới lọt lòng, Chí được một bác phó cối không con đem về nuôi. Bác phó cối chết, Chí tứ cố vô thân, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà khác. Không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi, Chí lớn lên như cây cỏ, chẳng được ai ban cho chút tình thương. Thời gian làm canh điền cho nhà lí Kiến, Chí được tiếng là hiền như đất. Dù nghèo khổ, không được giáo dục nhưng Chí vẫn biết đâu là phải trái, đúng sai, đâu là tình yêu và đâu là sự dâm đãng đáng khinh bỉ. Mỗi lần bị mụ vợ ba lí Kiến bắt bóp chân, Chí chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì. Cũng như bao nông dân nghèo khác, Chí từng mơ ước một cuộc sống gia đình đơn giản mà đầm ấm: Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thế nhưng cái mầm thiện trong con người Chí sớm bị quật ngã tả tơi và không sao gượng dậy được. Có ai ngờ anh canh điền chất phác ấy đã thực sự bị tha hóa bởi sự ghen ghét, tù đày, để rồi biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Vì ghen tuông vô lối, cho con nhà Kiến đã nhẫn tâm đẩy Chí vào tù và nhà tù thực dân đã nhào nặn Chí thành một con người khác hẳn. Đây là nguyên nhân trực tiếp tạo nên bước ngoặt đau thương và bi kịch trong cuộc đời Chí. Nhưng nguyên nhân sâu xa chính là xã hội đương thời với những thế lực bạo tàn luôn tìm cách vùi dập những người nông dân thấp cổ bé họng như Chí. Chí bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, lưu manh hóa là tất yếu.

          Ra tù, Chí biến thành một con người hoàn toàn khác trước, với một cái tên sặc mùi giang hồ là Chí Phèo: Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng đá… Cái đầu thì trọc lốc. Cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà lại rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc cái quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế. Chí đã trở thành một con người hoàn toàn khác, và mọi người dân xung quanh có những cách nhìn nhận khác nhau về Chí, họ không cò gọi anh là anh Chí như ngay xưa, mà họ đặt cho anh một cái tên là Chí phèo và anh có thêm một cái tật uống rượu và chuyên rạch mặt ăn vạ.

          Với nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã phản ánh chân thực và sinh động bi kịch bị hủy diệt tâm hồn và nhân phẩm của những người nông dân nghèo khổ. Chí Phèo đã sa lầy trong vũng bùn của sự tha hóa: Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dơ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn biết đâu hắn đã phá vỡ bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh. Và để rồi với một hình tượng khó thể để mọi người tiếp nhận và mọi người trong làng đã quay lưng lại với Chí, không ai cho Chí sự lương thiện, không ai giúp Chí quây trở lại làm anh Chí của người xưa, hiện lành tốt bụng biết phải trái đúng sai. Và chính cái sự tha hóa của Chí Phèo đã là tiếng nói phê phán tố cáo cái xã hội thối nát, biến những con người bần cùng của xã hội lại trở nên bần cùng thêm, khốn khổ thêm.

          Càng lấn sâu vào bi kịch tinh thần của nông dân, Nam Cao nhận ra vẻ đẹp ẩn chứa trong sâu thẳm tâm hồn họ. Chí Phèo bị bạo lực đen tối hủy diệt nhân phẩm nhưng trong đầu óc hắn vẫn le lói ánh lửa thiên lương và khát khao được làm người. Cái độc đáo của Nam Cao chính là ở chỗ tác giả đã để cho nhân vật Chí Phèo chênh vênh giữa hai bờ Thiện – Ác. Đằng sau bộ mặt dở người dở thú là nỗi đớn đau, vật vã của một kẻ sinh ra là người mà bị cự tuyệt quyền làm người. Trong cơn say, Chí Phèo cất tiếng chửi trời, chửi đời… Tiếng chửi của hắn như một thông điệp phát đi cầu mong có sự đáp lại nhưng cả làng Vũ Đại chẳng ai thèm chửi nhau với hắn. Rút cục, chỉ có ba con chó dữ và một thằng say rượu. Người ta coi hắn chẳng khác gì một con chó dại.

          Và tưởng chừng như Chí Phèo không thể nào thoát khỏi được cái nhìn ghẻ lạnh của mọi người nhưng may thay có một tấm lòng xuất hiện giúp anh tìm thấy được một phần thiên lương của mình hé mở cho anh một cuộc sống mới có niềm vui có niềm hạnh phúc. Và ở đây, nhà văn để cho nhân vật Thị Nở xuất hiện, dù là một người rất xấu, tính tình dở hơi, nhưng thiên lương lại hoàn toàn trong sáng chính vì vậy, Chí đã một lần may mắn được thức tỉnh và có mong muốn trở về làm người lương thiện. Hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở đã giúp cứu dỗi một tâm hồn, giúp hắn nhận ra rằng cuộc đời hắn chưa bao giờ được ăn một bát cháu hành nồng ấm hương vị tình người đến vậy. Chỉ bằng một chi tiết cho nhân vật phụ tác động tới nhân vật chính mà cuộc đời của Chí phèo đã bước sang một ngưỡng cửa mới, và hắn đã có suy nghĩ đi đòi lại thiên lương của mình.

          Và khi đó hắn tìm đến gia đình Bá kiến- bởi lúc này anh đã nhận rõ được rằng chính cha con nhà Bá Kiến đã đẩy cuộc đời anh từ một người hiện lành tốt bụng thành một kẻ lưu manh không nhà không cửa, và khiến cho cả xã hội đã quay lưng lại, không ai đón nhận Chí quay trở lại với xã hội. Và khi đến nhà Bá kiến tại đây kẻ xấu và người đòi lương thiện được tái hợp và kết cục bằng thảm cảnh là cái chết của cha con Bá Kiến và Chí phèo.

          Như vậy, qua nhân vật Chí phèo, cho ta thấy được ngòi bút sắc sảo của Nam sao khi tái hiện lại nhân vật của mình, bằng những hình ảnh bình dị bằng những câu từ hết sức mộc mạc chân thật của làng quê. Và qua đó, cũng thể hiện được mong muốn thoát khỏi những rằng buộc phong kiến, và cuộc chiến đòi lại công bằng cho tất cả mọi người.

          Với truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã đạt tới tầm cao của tư tưởng nhân đạo khi nhìn nhận và đánh giá người nông dân trước Cách mạng. Nhà văn không dừng ở hiện tượng bên ngoài mà đi sâu vào thể hiện bản chất bên trong của con người. Nam Cao cũng đã chứng tỏ bút lực già dặn của mình qua tài nghệ xây dựng hình tượng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Ý nghĩa xã hội của hình tượng Chí Phèo rất lớn và sức sống của nó cũng thật lâu dài. Và cũng chính từ đó, sẽ giúp cho những con người cũng bị đẩy vào thảm cảnh như Chí sẽ đứng dậy chống lại lật lại chế độ phong kiến góp phần xây dựng lên một xã hội công bằng hơn.

Phân tích chí phèo học sinh giỏi – Bài mẫu 4

          Tuy chỉ thực sự viết văn hơn mười năm, Nam Cao đã để lại khá nhiều sáng tác văn xuôi giá trị: hơn 60 truyện ngắn, một truyện vừa, một tiếu thuyết và vài vở kịch. Truyện của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám nêu bật nỗi băn khoăn đau đớn trước tình trạng con người bị hủy hoại dần mòn về nhân phẩm do cuộc sống nghèo đói, bế tắc. Bên cạnh đề tài về người trí thức nghèo, hình ảnh người nông dân bị áp bức, thậm chí bị lưu manh hóa do tội ác của bọn cường hào, địa chủ đã được thể hiện thật sâu sắc trong một truyện ngắn nổi tiêng của ông: Chí Phèo.

          Ngay từ khi ra đời, Chí Phèo là một đứa con hoang, bị bỏ rơi trong một lò gạch cũ. Được dân làng nuôi, Chí Phèo lớn lên như cây cỏ. tuổi thơ hết di ở nhà này lại di ở nhà nọ, tuổi thanh niên ra sức làm thân trâu ngựa cho nhà lí Kiến. Vì một chuyện ngờ ghen vỞ vẩn, lí Kiên đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù. Sau bảy, tám nám biệt tích, trơ về làng, Chí Phèo đã hoàn toàn biên đổi. Ngoại hình thật kinh tớm, cái dầu thì trọc lốc, cái răng cạo tráng hớn, cái mặt thì đen mà rất cong cơng, hai mất gườm gườm trông gớm chết!

          Chí Phèo chuyên dập đầu, rạch mật và đâm chém người cho nôn cái mật hấn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gi, nó vằn dọc vần ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo.

          Người cô nông ấy hoàn toàn bị tước đoạt nhân hình, biến thành một loại nứa người nửa vật:… nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ.

          Từ lúc trở về làng, Chí Phèo hoàn toàn bị tha hóa, hành động như người mất trí. Bao nhiêu việc ức hiếp pha phách, dâm chém, mưu hại, ngươi ta giao cho hắn làm! Trong cơn say, Chí Phèo hành động tàn bạo như một con quỉ dữ, hoàn toàn mất nhân tính. Những còn say của hán tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say,… uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận (…) Hắn biết dâu hắn đã phá hao nhiêu cơ nghiệp, dập nát hao nhiêu cảnh yên vui, dạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện.

          Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá, thậm chí bị hủy hoại hoàn toàn của Chí Phèo, bản chất lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn lo lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng khi gặp cơ hội. Lúc được thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay là giật cướp mới có.

          Tình cảm chân thật của thị Nở đã khơi dậy ý thức và lương tâm cứa Chi Phèo. Từ lúc này, anh mới ý thức được tình trạng tha hóa và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đời sống nội tâm của anh.

          Sau khi được thị Nở chăm sóc, lần đầu tiên khi tỉnh giác, Chí Phèo bâng khuâng nghe tiêng chim hót, tiếng cười nói của những người di chợ thì niềm ao ước có một gia đình nho nhỏ bừng lôn. Hắn có thể t’wi bạn dược, sao lại chỉ gây kẻ thù?

          Bản chất tốt đẹp của người lao động tỉnh thức trong lòng anh: Trời ơi! Hán thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! (…) Họ sẽ lại nhận hấn vào cái xã hôi bàng phảng, thăn thiện của những người lương thiện…

          Chí Phèo tha thiết muôn trở về với mọi người, nhưng tất cả làng Vũ Đại đều sợ hãi xa lánh anh. Thị Nở lại “cắt dứt” với Chí Phèo. Anh lại rơi vào tình thế hoàn toàn tuyệt vọng: sông lương thiện thì không được chấp nhận, làm lưu manh như cũ thì không thể và cũng không muôn.

          Những lời lẽ cuối cùng của Chí Phèo bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm đó: Tao muốn làm người lương thiện (…) Không dược! Ai cho tao lương thiện? Làm thê nào cho mất dược những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện dược nữa. Biết không!

          Chí Phèo đã đâm chết bá Kiên, kẻ đã gây ra bi kịch đời anh, rồi tự sát.

          Nhân vật Chí Phèo được xây dựng thành công: vừa có nét khái quát, vừa có cá tính. Người cố nông đó đã bị hủy hoại thân hình vừa bị tước đoạt cả nhân tính. Nhân vật được miêu tả sâu sắc từ chân dung đến tính cách, từ bộ mặt đến những diễn biên tâm lí, bằng biện pháp nghệ thuật miêu tả độc đáo.

          Tác phẩm Chí Phèo mang giá trị nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, thể hiện ở tấm lòng yêu thương, trân trọng của Nam Cao đối với những người khôn khổ, tác gia phát hiện những phần sâu kín nhất trong tâm hổn họ những gì còn lại của tinh người, lòng khát khao hạnh phúc, được yêu thương, nhất là quyền được làm người lương thiện.

          Chí Phèo là tiếng kêu cứu thiết tha của những người bất hạnh: hãy bảo vệ và đấu tranh cho quyền được làm người của những con người lương thiện, đê họ được sông hạnh phúc, không còn những thế lực đen tối của xã hội, đẩy họ vào chỗ mất cả nhân hình lẫn nhân tính, đầy bi kịch xót xa…

Phân tích chí phèo học sinh giỏi – Bài mẫu 5

          Tồn tại và phát triển chỉ trên dưới mười lăm năm nhưng trào lưu văn học hiện thực phê phán đã sáng tạo được nhiều hình tượng điển hình giàu sức sống. Trong gia đình những nhân vật điển hình này, Chí Phèo xuất hiện như một gương mặt nổi bật.

          Truyện Chí Phèo ghi nhận thành công xuất sắc nhất của Nam Cao về đề tài người nông dân, cũng là một trong những đỉnh cao nhất của trào lưu hiện thực phê phán. Thành công của hình tượng Chí Phèo chứng tỏ tài năng nghệ thuật độc đáo của Nam Cao, kết tinh giá trị hiện thực lớn lao và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm này.

          Bối cảnh hiện thực của truyện ngắn Chí Phèo là xã hội nông thôn Việt Nam xác xơ nghèo đói những năm bốn mươi. Trong không khí tối sầm này, không ít người nông dân bị xô đẩy vào con đường bần cùng, lưu manh, không ít người phải điên khùng, liều lĩnh mà tồn tại. Tính cách Chí Phèo mang ý nghĩa điển hình cho lớp người ấy trong thời buổi xã hội ấy.

          Bước vào tác phẩm ta bắt gặp ngay Chí Phèo ngất ngưởng vừa đi vừa chửi. “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi…”. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao để Chí Phèo xuất hiện bằng tiếng chửi. Chí Phèo chửi ai? Chí Phèo trời, chửi đời nghĩa là y đối lập với tạo hóa, với xã hội. Chí Phèo chửi cà làng Vũ Đại nghĩa là y đối lập với quê hương. Chí Phèo chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn nghĩa là y đối lập với tất cả (vì có đứa nào chửi nhau với hắn đâu!). Chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn để hắn phải khổ đến nỗi này nghĩa là Chí Phèo tự đối lập lại nguồn gốc, sự tồn tại của mình. Những mong tìm mối dây liên hệ với xã hội chỉ bằng tiếng chửi mà không thể có. Chí Phèo tồn tại như một con vật. Ấy là một kẻ lưu manh, liều lĩnh trong tình cảnh cô độc tuyệt đối. Ngay từ khi được sinh ra, Chí Phèo đã bị ném khỏi nhà,cuộc sống, chỉ trông mong vào lòng trắc ẩn của kẻ qua đường. Trong làng Vũ Đại, Chí Phèo là “một thằng cùng hơn cả dân cùng; không cha không mẹ, không thước đất cắm dùi”. Cả đời Chí Phèo “chưa bao giờ được chăm sóc bởi một bàn tay đàn bà”, đến nỗi mơ ước chung sống với một người phụ nữ xấu đến ma chê quỷ hờn cũng không đạt được. Chí Phèo tồn tại trong sự khinh rẻ và ghê sợ của mọi người. Và Chí Phèo chết đi cũng trong sự cô độc. Không gì độc, tủi nhục hơn khi chết mà không được lấy một giọt nước mắt, chết mà người ta mừng! Mong ước trở lại làm người của Chí Phèo đã bị cự tuyệt, bị xã hội từ chối phũ phàng. Số phận khốn khổ ấy của Chí Phèo tiêu biểu cho số phận của cả một lớp người cố cùng dưới đáy xã hội cũ.

          Hiện tượng Chí Phèo vô cùng độc đáo nhưng không phải ngẫu nhiên, cá biệt. Thông qua tính cách điên khùng, số phận bi thảm của Chí Phèo, tác phẩm đã khái quát lên quy luật tha hóa con người nghiệt ngã của xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái gì đã đẩy Chí Phèo vào con đường tội lỗi? Ai đã biến Chí Phèo thành con quỷ dữ làng Vũ Đại?

          Cái con quỷ dữ ấy đã từng có một thời gian làm người hiền lành, lương thiện. Từ tuổi thơ “bơ vơ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà khác” đến tuổi thanh niên “làm canh điền cho ông Lí Kiến” Chí Phèo sống cuộc đời lao động cực khổ của người cố nông ở nông thôn. Anh nông dân hiền lành ấy đã từng mơ ước một cuộc sống hạnh phúc giản dị trong lao động. Tuy còn trẻ trung, anh cũng phân biệt được tình yêu chân chính với thói dâm dục xấu xa; bị bà Ba gọi lên bóp chân, anh “chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”. Nhưng bản chất trong trắng, lương thiện của người nông dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực dân ra sức bóp chết. Chí Phèo vô cớ bị đẩy đi ở tù và bảy, tám năm sau về làng, hắn đã thành người khác hẳn.

          Về giữa cái làng Vũ Đại chật chội mà bao thế lực xâu xé nhau, một thước đất cấm dùi không có, Chí Phèo biết làm gì để sống. Không thể hiền lành mà muốn sống – oái oăm thay – phải cướp giật, ăn vạ, đâm chém. Muốn thế phải liều lĩnh, phải gan góc. Những thứ ấy Chí Phèo tìm ở rượu. Và Chí Phèo luôn luôn say, “hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm”. Người ta đây chính là Bá Kiến – kẻ ăn tiên chỉ làng Vũ Đại, kẻ lọc lõi, gian ngoan vô cùng trong nghề bóc lột. Chúng ta còn nhớ lần thứ nhất Chí Phèo đến nhà Bá Kiến sau hôm đi ở tù về. Dẫu bằng tiếng chửi, bằng vỏ chai rạch mặt ăn vạ, dù sao lần này Chí Phèo còn đến đế trả thù, còn mường tượng ra kẻ thù. Nhưng đến khi từ nhà cụ Bá về với tâm trạng thỏa thuê, với đồng bạc trong tay, đặc biệt từ lần đòi được nợ ở nhà đội Tảo (nhờ sự may mắn tình cờ) thì Chí Phèo đã dần trở thành công cụ mù quáng trong tay Bá Kiến. Chí Phèo đã bán đi cả nhân phẩm lẫn nhân hình để tồn tại và tồn tại như một con vật. Hiện tượng Chí Phèo tiêu biểu cho sự tha hóa phổ biến trong xã hội tàn phá ghê gớm con người. Khi những người nông dân vốn lương thiện mà dốt nát, tăm tối bị rơi vào tình trạng bần cùng hóa thì dễ uất ức mà trở thành những “kẻ cô’ cùng liều thân”. Gặp kẻ thống trị xảo quyệt, sự liều thân cô độc này rất dễ bị lợi dụng, mua chuộc để biến thành sự phá hoại mù quáng. Rốt cuộc, họ lại trở thành “đày tớ tay chân” cho kẻ tử thù. Đó là một quy luật đầy mỉa mai, chua xót trong xã hội cũ. Sức mạnh phê phán, ý nghĩa điển hình của hình tượng Chí Phèo chính là ở chỗ đó.

          Một hình tượng điển hình đầy sức sống bao giờ cũng là một “con người này” (theo cách nói của Hêghen). Ấy là một cá tính độc đáo, rõ nét, một gương mặt không thể lẫn. Hình tượng Chí Phèo vừa mang tính khái quát cao, tính phổ biến sâu rộng đồng thời mang những nét riêng độc đáo. Mấy ai có “lai lịch” lạ lùng như Chí Phèo. Mấy ai lớn lên với cảnh ngộ tội nghiệp như con người này. Chí Phèo là một cuộc đời rất riêng ngay từ khi sinh ra, lớn lên cho đến lúc chết đi. Chí Phèo độc đáo từ ngoại hình đến tiếng chửi, đến cách hành động. Một bộ mặt không hẳn ra con người; không hẳn ra con vật, đầy những vằn ngang vạch dọc do những lần đâm chém, cào rạch ăn vạ. Một lối chửi rủa điên khùng, uất ức thật … Chí Phèo. Cũng thật Chí Phèo từ cách uống rượu đến lối toan đốt quán khi không được uống chịu, thậm chí đến lô’i “ướm lời” với Thị Nở và cách đâm chém kẻ thù rồi tự kết liễu đời mình. Hình tượng Chí Phèo gây ấn tượng thật sâu đậm đối với người đọc. Mặt tiêu biểu, khái quát của số phận Chí Phèo bộc lộ qua những nét cụ thể, độc đáo của y; ngược lại, những nét riêng, độc đáo trong tính cách Chí Phèo phản ánh sinh động cảnh ngộ, số phận của một lớp người.

          Nhưng sự kết hợp biện chứng, hài hòa giữa hai mặt tính chung và tính riêng ở hình tượng Chí Phèo không chỉ thể hiện ở trên. Xây dựng hình tượng Chí Phèo, Nam Cao đã phát hiện ra và hết sức trân trọng bản chất lương thiện ở người nông dân nghèo khổ. Phần sau tác phẩm, nhân vật này được thể hiện cho một tính cách người đang hồi sinh. Trên phương diện này, Chí Phèo điển hình cho số phận bi thảm và sự vùng dậy phản kháng quyết liệt, tuyệt vọng nhưng rất đáng quý trọng ờ người lao động bị áp bức.

          Năm ngày chung sống với Thị Nở như tia sáng lóe lên trong cuộc đời tối tăm dằng dặc của Chí Phèo để rỗi vụt tắt ngấm đưa anh ta vào cõi chết. Cuộc gặp gỡ tình cờ với Thị Nở (hai duyên số kì lạ dưới bàn tay xếp đặt khéo léo của ông mối Nam Cao) không chỉ khơi dậy bản năng sinh lí của gã đàn ông mà quan trọng hơn, đã đánh thức người cô’ nông lương thiện bấy lâu nay bị vùi lấp trong con quỷ dữ Chí Phèo. Phần viết về quá trình hồi sinh cảm động của Chí Phèo và bi kịch đau đớn trong cõi tinh thần sau đó ờ anh ta trở thành những trang hay nhất của kiệt tác Chí Phèo. Nó là bài ca về sức mạnh kì diệu của tình người, của tình yêu. Sự chăm sóc ân cần của Thị Nở, bát cháo hành nóng hổi của Thị Nở thật sự đã mang hương vị ngọt ngào của tình yêu khiến cho Chí Phèo lại biết khóc, biết cười như một con người. Thị Nở đâu chỉ là tình yêu mà chính là con đường sống, là chiếc cầu dẫn Chí Phèo trở lại cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của loài người. Có hiểu hết niềm vui hồi sinh ờ Chí Phèo, có hiểu hết vai trò quan trọng của Thị Nở như thế ta mới càng thấm thía nỗi đớn đau, tuyệt vọng của Chí Phèo khi chiếc cầu kia đột ngột bị “rút ván”. Khi bị Thị Nở đột ngột “trở mặt”, Chí Phèo ban đầu chưa thể hiểu bởi anh ta đang “say” với nguyện ước trở lại làm người. Khi chợt hiểu ra, Chí Phèo vơ lấy rượu uống. Nhưng thật lạ, lúc này càng uống lại càng tỉnh, “Tỉnh ra, chao ôi, buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo nành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức …”. Có lẽ, trong cuộc đời hơn bốn mươi năm của Chí Phèo chỉ có một lần khóc như thế! Người đàn ông khốn khổ đến lúc này mới được hưởng hương vị cháo hành thì chẳng thể nào quên … Không thể quay lại làm quỷ dữ nữa, Chí Phèo đành đi đến cái chết. Nhưng trước khi chết, phải trả thù kẻ thù đích thực của mình! Rốt cuộc, một Chí Phèo tỉnh đã giết chết một Chí Phèo say. Chí Phèo bằng xương bằng thịt đã chết nhưng còn lại trong lòng người đọc là một Chí Phèo đang lớn tiếng đòi quyền sống, đang dõng dạc đòi quyền lương thiện. Diễn tả quá trình hồi sinh rồi bị cự tuyệt quyền làm người để đi đến hành động trả thù, tự sát quyết liệt ở nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã thể hiện một cái nhìn nhân đạo sâu sắc về con người.

          Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, Chí Phèo là một hình tượng vô cùng độc đáo. Cuộc đời đầy đau thương, tủi hận của Chí Phèo điển hình cho số phận bi thảm của tầng lớp nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa không lối thoát trong xã hội cũ, của những người cùng khổ, tăm tối dưới ách áp bức tàn bạo, xảo quyệt của giai cấp thống trị. Với hình tượng văn học điển hình bất hủ này, Nam Cao đã lớn tiếng vạch trần bản chất tàn bạo của thứ guồng máy xã hội đè nghiến, hủy hoại con người, đồng thời thể hiện một niềm tin sâu sắc vào bản tính tốt đẹp của con người.

Phân tích chí phèo học sinh giỏi – Bài mẫu 6

          Khi nhận định về các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Hoành Khung cho rằng: “Trong mảnh sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao, có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn để” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất”. Và nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là một nhân vật “có vấn đề” như thế, nhưng chính những lời văn mà tác giả viết về nhân vật này và những bi kịch mà y phải chịu đựng đã thể hiện được giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm mà Nam Cao muốn gửi gắm qua nhân vật này.

          Chí Phèo có một tuổi thơ thật bất hạnh: Ngay từ khi chào đời, Chí Phèo đã là một đứa con hoang, bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ và không biết cha mẹ mình là ai. Chí lớn lên nhờ sự đùm bọc, cưu mang của dân làng. Lớn lên Chí đi ở hết nhà này đến nhà nọ. Cứ như thế, Chí lớn lên bình yên giữa những người dân nghèo khổ nhưng hiền lành. Chí cũng có ước mơ riêng của mình, đó là có một gia đình nho nhỏ “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”. Đến năm hai mươi tuổi, Chí trở thành một chàng trai có vẻ đẹp toàn vẹn từ ngoại hình mạnh khỏe cho đến nội tâm hiền lành. Nhưng rồi Chí đi làm cho nhà Bá Kiến và cũng chỉ vì chuyện ghen tuông vớ vẩn Chí bị đẩy vào tù, sau bảy, tám năm biệt tích trở về làng giờ đây Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi từ ngoại hình cho đến tính cách. Ngoại hình của Chí thật đáng sợ: cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết. Ngoại hình ấy ẩn chứa một tính cách đã hoàn toàn thay đổi, không còn tính cách “lành như đất” nữa mà giờ đây hắn chuyên đi đập đầu, rạch mặt ăn vạ, hắn lấy rượu để bầu bạn với mình và rồi trong cơn say hắn đến nhà Bá Kiến để trả thù nhưng kết quả của cả hai lần là hắn đã bị Bá Kiến “ru ngủ” bằng rượu, thịt và tiền. Và rồi từ đó, Chí rơi vào trạng thái mất phương hướng, không biết ai là kẻ thù của cuộc đời mình và lại tiếp tiếp tục rơi vào cái bẫy mà Bá Kiến đã giăng sẵn, hắn vào tù vì Bá Kiến và rồi khi ra tù lại tiếp tục biến mình thành tay sai cho chính kẻ thù của mình, còn gì nhục nhã hơn là điều đó.

          Cứ thế, cuộc đời hắn trượt dài trong những bi kịch, hắn không làm gì ngoài việc rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với cụ Bá. Cuộc đời hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện”. Cứ như thế đời hắn trượt dài, nhìn vào mặt hắn người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Cuộc đời hắn đã xem như là bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt hắn mỗi lần hắn đi qua. Ngay cả bản thân hắn cũng quên sự có mặt của hắn ở trên đời.

          Nhưng rồi người nông dân bị lưu manh hóa ấy cuối cùng cũng đã thức tỉnh. Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá ấy của Chí vẫn còn le lói một ánh sáng của lương tâm, lương thiện chỉ cần có cơ hội thôi là sẽ bừng sáng. Và Nam Cao đã cho Chí một cơ hội để ánh sáng ấy có dịp bừng lên, đó là cho Chí được gặp gỡ với Thị Nở. Chính cuộc gặp gỡ ấy, sự chăm sóc ân cần của Thị cùng bát cháo hành nóng hổi nghi ngút khói đã làm sống dậy bản chất lương thiện của Chí. Được Thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay nào hắn có thấy ai tự cho ai cái gì, hắn phải dọa nạt hay cướp giật mới có. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, hắn bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ và cùng với đó là khát vọng được sống một cuộc sống khác, được hòa nhập cùng mọi người, họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện. Hắn tự đặt ra câu hỏi cho mình: hắn có thể làm bạn được sao lại chỉ gây thù? Thị Nở chính là người mà Chí đặt niềm tin vào, Chí tin Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối giúp Chí trở về với cuộc sống đó.

          Nhưng rồi, khát khao sống một cuộc sống lương thiện của hắn vừa mới được nhen nhóm thì đã bị dập tắt. Chiếc cầu nối ấy đã bỏ hắn mà đi chỉ vì lời nói của bà cô: “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà lại phải lấy một thằng không cha, không mẹ chỉ biết rạch mặt ăn vạ”, bỏ lại Chí với nỗi đau khổ đến tột cùng, hắn đau xót nhận ra rằng sẽ chẳng còn chiếc cầu nào mang hắn về với cuộc sống của những người lương thiện nữa. Những lời lẽ cuối cùng đã bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm của Chí: “Tao muốn làm người lương thiện (…). Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!”.

          Và cuối cùng, bi kịch đã biến thành thảm kịch. Tột đỉnh của sự khổ đau đã biến thành tột đỉnh của sự căm thù, uất hận. Chí thấy kẻ thù trước mắt cướp đi tình yêu của hắn chính là bà cô Thị Nở nhưng trong sâu thẳm tâm hồn có lẽ hắn vẫn ý thức được ai mới chính là kẻ thù gây nên một chuỗi dài bi kịch của cuộc đời mình. Hắn xách dao đến nhà bà cô Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến, Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộc đời mình. Trong sự bế tắc đến tột cùng, Chí đã tự tìm ra lối thoát cho riêng mình, đó là cái chết, chết để kết thúc tất cả bi kịch của cuộc đời Chí.

          Nhân vật Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho số phận của người nông dân trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Nam Cao đã thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng của mình đối với những người có số phận bất hạnh. Ở sâu thẳm trong tâm hồn họ chính là sự khát khao hạnh phúc, được yêu thương và sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *