Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa – Văn mẫu 12 hay nhất

Câu hỏi: Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa

Lời giải:

         “Chiếc thuyền ngoài xa”của Nguyễn Minh Châu được sáng tác vào tháng 8/1983, lúc đầu được in trong tập “Bến quê”, sau đó có vinh dự được nhà văn dùng để đặt tên cho cả tập truyện ngắn, xuất bản năm 1987. Năm 1983, đó là một thời điểm khá đặc biệt khi cuộc chiến tranh chống Mĩ và tay sai đã kết thúc thắng lợi, chúng ta trở về muôn mặt của đời thường. Và cũng trong thời điểm này, cả dân tộc đang bước vào giai đoạn đổi mới, cho nên cuộc sống có nhiều điều bất ngờ thú vị, có sức hút đối với văn nghệ sĩ, trong đó có Nguyễn Minh Châu.

         “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu. Trong giai đoạn này, qua tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, nhà văn đã bộc lộ sự chuyển biến quan trọng trong sáng tác: từ phong cách mang đậm tính chiến đấu, chuyển sang cảm hứng thế sự, cảm hứng nhân sinh, ngòi bút của nhà văn hướng vào thể hiện con người trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và bình yên. “Chiếc thuyền ngoài xa” thực sự là một tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Đồng thời giúp nhà văn gửi gắm được những thông điệp nghệ thuật quan trọng.

Hoàn cảnh sáng tác Chiếc thuyền ngoài xa

Các em cùng Toploigiai tìm hiểu thêm về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

1. Tác giả Nguyễn Minh Châu 

a. Cuộc đời

         Nhà văn Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930. Quê gốc của ông tại làng Thôi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trước Cách mạng tháng Tám, ông từng tốt nghiệp bậc Thành Chung tại trường Kỹ nghệ Huế năm 1944-1945.Sau đó, ông tiếp tục học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Hà Tĩnh. Đến tháng 1 năm 1950, ông gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972.Ông mất ngày 23 tháng l năm 1989 tại Hà Nội.

b. Thành tựu văn học

         Hành trình văn học của Nguyễn Minh Châu khởi đầu bằng truyện ngắn Sau một buổi tập (1960) và khép lại với truyện vừa Phiên chợ Giát (1989). Ba thập kỷ – một hành trình không phải là dài so với những đồng nghiệp, đồng lứa như: Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Hồ Phương… , song với mười ba tập văn xuôi, một tập tiểu luận phê bình, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã để lại một sự nghiệp văn chương đủ sức vượt qua thời gian. Trong đó, đặc biệt phải kể đến các tác phẩm chính:

         – Cửa sông (tiểu thuyết, 1966);

         – Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970);

         – Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972);

         – Miền cháy (tiểu thuyết, 1977);

         – Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977);

         – Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982),

         – Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983);

         – Bến quê (truyện ngắn, 1985);

         – Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987);

         – Cỏ lau (truyện vứa, 1989).

         Có thể nói, nhà văn Nguyễn Minh Châu là nhà văn thuộc thế hệ sau, nhưng chỉ thông qua những sáng tác văn chương của ông, người đọc sẽ không quên nhắc đến một nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam. Nói như nhà văn Nguyễn Khải: “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này”.

Tóm tắt Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đặc sắc nhất.

         Chiếc thuyền ngoài xa là một câu chuyện gửi gắm nỗi niềm trăn trở giữa nghệ thuật và cuộc sống đạo đức. Phùng – một nhiếp ảnh đã đến vùng biển miền Trung để săn được những bức ảnh đẹp của thiên nhiên. Sau nhiều ngày chờ đợi, anh cũng đã có được bức ảnh đắt giá. Nhưng đằng sau bức ảnh ấy là một hiện thực mà Phùng phải suy ngẫm, người đàn bà bị chồng hành hạ và đánh đập nhưng lại không bỏ chồng vì cuộc sống của họ còn có nhiều điều người ngoài không thể biết được. Phùng nhận ra rằng luật pháp và chánh án cũng không thể giúp đỡ cuộc sống của người đàn bà này. Anh nhận ra giá trị sâu sắc về cuộc sống, rằng mình phải nhìn nhận sự vật nhiều chiều chứ không phải chỉ qua một cái nhìn đầy cảm quan từ vẻ bề ngoài của nó.

1. Các chi tiết nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa

a.  Tấm ảnh nghệ thuật trong bộ lịch cuối năm

         – Trước hết đó là một bức ảnh thuần nghệ thuật dành cho những nhà sành nghệ thuật: Một bức ảnh mang vẻ đẹp toàn mĩ, vốn là một cảnh đắt trời cho,kết tinh công phu và sự may mắn của người nghệ sĩ

         – Một bức ảnh về con thuyền được chụp từ ngoài xa với vẻ đẹp hài hoà giữa con người và cảnh vật. Một cảnh đẹp được ghi lại bằng một ấn tượng thuần tuý nghệ thuật. Một bức ảnh không chỉ đem đến một niềm hạnh phúc cho người sáng tạo mà còn đủ sức thuyết phục với cả những nhà sành nghệ thuật và có sức sống lâu bền ” mãi mãi về sau”…

         – Đằng sau bức ảnh nghệ thuật đó là một bức ảnh cuộc sống hiện thực trần trụi, lam lũ mà trung tâm là hình ảnh người đàn bà vùng biển cao lớn với dáng người thô kệch…bước những bước chậm rãi, bàn chân đặt trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông.

         – Chi tiết bức ảnh đã trở thành một cấu tứ cho truyện ngắn này.

 b, Giọt nước mắt người đàn bà hàng chài

         Thể hiện nỗi đau, sự bất lực của người vợ, người mẹ trong hoàn cảnh hết sức éo le: Trước đó, dù hứng chịu trận đòn roi trút xuống như lửa cháy, người đàn bà vẫn “cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy? Chỉ khi bị đứa con phát hiện, chứng kiến cảnh tượng đau lòng: Con đánh cha, cha đánh con, người đàn bà mới đau đớn bật khóc. Giọt nước mắt bật ra từ những xót xa, tủi nhục mà người đàn bà dồn nén, chất chứa bấy lâu trong lòng. Hơn hết, giọt nước mắt bật ra từ trái tim người mẹ: bất lực không thể bảo vệ được tâm hồn non nớt, thơ ngây của đứa trẻ, bất lực nhìn cái gia đình mà mình cố sức giữ gìn có nguy cơ tan vỡ…

         – Thể hiện nỗi đau, sự bất lực của người mẹ không thể bảo vệ được tâm hồn ngây thơ, trong sáng cho đứa trẻ

         – Giúp khắc hoạ tính cách, tâm lí nhân vật, thể hiện bi kịch của nhân vật và cho thấy chiều sâu tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Minh Châu.

c. Xương rồng luộc chấm muối

         Hình ảnh “xương rồng luộc chấm muối” được hiện lên trong lời kể của người đàn bà hàng chài với chánh án Đầu tại tòa án huyện. Qua lời kể này của người đàn bà đã cho ta thấy một cuộc đời lam lũ, bất hạnh và bươn trải của chính bà và cũng là số phận chung của những người sống cùng trong gia đình bà. “Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn” “đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật” đã gói gọn những khổ nhọc của một đời luôn bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Vì cuộc sống lúc nào cũng túng quẫn, hình ảnh “xương rồng chấm muối” của gia đình ấy, cũng đã hé mở nguyên nhân sâu xa của nạn bạo hành gia đình. Chính vì người chồng khổ quá, nên những lúc như vậy là xách bà ra đánh. Những cái đánh vũ phu và tàn nhẫn, những cái đánh như trút xuống, liên tiếp và đau đớn biết bao. Chi tiết đã cất tiếng nói về giá trị hiện thực, phản ánh cái đói cái nghèo của người dân miền biển nói riêng, và cũng là cái khốn khó chung của người dân Việt Nam thời hậu chiến. Và chi tiết cũng đã là một tiếng nói của ngòi bút nhân đạo sâu sắc, Nguyễn Minh Châu đã đi sâu vào bản chất để khắc họa nỗi lo âu, khắc họa về tình trạng nghèo đói, tối tăm cùng cực, và gốc rễ của nạn bạo hành gia đình cũng chính từ cái nghèo đói đó mà ra.

d. Bãi xe tăng hỏng 

         Bãi xe tăng hỏng – vật chứng chứng tỏ chiến tranh vừa qua chưa xa. Tuy chiến tranh đã qua, những người lính như Phùng đã cố gắng hết sức chiến đấu mang lại tự do cho nhân dân, mang lại độc lập cho đất nước, thế nhưng anh lại không thể giải phóng cho những người phụ nữ nghèo khỏi đói khổ, khỏi cảnh tượng bạo lực gia đình.

         Chiếc xe tăng giống như một vật chứng của chiến tranh đã hủy hoại khiến cả một đất nước rơi vào tình cảnh đói nghèo, mất mát. Nó cũng giống như nhân chứng, chứng kiến tất cả cuộc sống của người dân chài, chứng kiến cái vẻ đẹp yên bình và cả những hành động đánh đập vợ của ông chồng sau cái vẻ đẹp. Chiến tranh chưa bao giờ là tốt đẹp, hình ảnh chiếc xe tăng – vật biểu trưng cho chiến tranh cũng thế, chính nó đã tham gia vào việc che giấu hành vi bạo lực của ông chồng. Cảnh người chồng ra sức quật người vợ được diễn ra sau bãi xe tăng cũ, để tránh những đứa con phát hiện và khiến cho Phùng suýt nữa thì tin rằng tấm ảnh mà anh chụp được là 1 vẻ đẹp hoàn mĩ.

         => Nêu lên bài học: ngăn chặn “chiến tranh tâm hồn”, cuộc đấu tranh chống lại cái ác còn gay gắt và mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược.

2. Tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”

– Tóm tắt tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”:

         Nghệ sĩ Phùng đến ven biển miền Trung chụp những tấm ảnh đẹp cho cuốn lịch năm sau,anh thấy cảnh đẹp như tranh vẽ. Đó là bức tranh chiếc thuyền ngoài xa ẩn hiện trong bầu sương sớm. Cảnh đẹp đã làm anh ngây ngất,thăng hoa. Thấy “bối rối”,thấy “trái tim mình như có gì đó bóp thắt vào”. Nhưng khi chiếc thuyền lại gần bờ,anh lại chứng kiến đằng sau chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy là cảnh một người đàn ông đánh đập vợ,người vợ cam chịu,nhẫn nhục.

– Ý nghĩa tình huống truyện:

         Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ,nhà văn chỉ ra: cuộc đời chứa đựng nhiều điều nghịch lí,mâu thuẫn; không thể đánh giá con người,cuộc sống ở dáng vẻ bề ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu,phát hiện bản chất bên trong.

         Tình huống truyện mang ý nghĩa sâu sắc,thấm thía,nhấn mạnh mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời: “Nghệ thuật vị nhân sinh”.

3. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

a. Nghĩa tả thực:

         Chiếc thuyền là biểu tượng của bức tranh thiên nhiên đẹp và cuộc sống sinh hoạt của người dân làng chài “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ.”

b. Nghĩa biểu tượng:

         – Là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không gian sinh sống của gia đình người hàng chài. Cuộc sống gia đình đông con, khó kiếm ăn, cuộc sống túng quẫn là nguyên nhân làm cho người chồng trở nên cục cằn, thô lỗ và biến vợ thành đối tượng của những trận đòn. Những cảnh tượng đó, những thân phận đó nếu nhìn từ xa, ở ngoài xa thì sẽ không thấy được.

         – Vì ngoài xa nên con thuyền mới cô đơn. Đó là sự đơn độc của con thuyền nghệ thuật trên đại dương cuộc sống, đơn độc của con người trong cuộc đời. Chính sự thiếu gần gũi, sẻ chia ấy là nguyên nhân của sự bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm – một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của sự toàn diện. Nhưng khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh đập vợ của người đàn ông kia, anh đã kinh ngạc và vứt chiếc máy ảnh xuống đất. Anh nhận ra rằng,vẻ đẹp ở ngoài xa kia cũng ẩn chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lí. Nếu không đến gần thì chẳng bao giờ anh nhận ra. Xa và gần, bên ngoài và sâu thẳm…đó cũng là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.

c. Phân tích hình ảnh người đàn bà hàng chìa trong Chiếc thuyền ngoài xa

         Nguyễn Minh Châu là tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975. Ông thành công với nhiều tác phẩm như: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài xa. Nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc là tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

         Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh .

         Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù..Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới..toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa”. Cảnh đẹp ấy khiến cho người nghệ sĩ dường như vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện”. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng . Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.

         Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, Nguyễn Minh Châu đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà  hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà dường như đằng sau cách gọi phiếm định ấy đã hé mở một cuộc đời ngang trái, một số phận bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề lo toan.

         Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chị lại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ. Người đàn bà trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và  gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ.  Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

         Qua câu chuyện ở tòa án huyện người đọc hiểu hơn sự bất hạnh trong cuộc đời chị. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ.   Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh.  Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,…
Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, với lời lẽ cay độc” Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trôn mà  coi đó là một lẽ đương nhiên. Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con.
Người đàn bà đã nhẫn nhục, cam chịu. Chị không muốn đàn con phải nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ. Chị xin chồng lên bờ mà đánh khi con lớn. Chị xót xa đau đớn khi phải chứng kiến cảnh thằng Phác đánh cha: “như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, và làm rỏ xuống những dòng nước mắt…”

         Người đàn bà ấy là người sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Cái sự thâm trầm trong thấu hiểu lẽ đời dường như chị chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài.  Chị  coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì : “Xin các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu”;  “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”.

         Chị ý  thức được thiên chức của người phụ nữ: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con: “Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được”. Chị “phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”.

         Có thấu hiểu được như vậy chúng ta mời hiểu hết tình cảm, tấm lòng của người đàn bà bất hạnh. Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được. Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị.

         Người đàn bà ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị thấu hiểu nguyên nhân vì sao chồng lại trở nên như thế. Chị hiểu được trước đây chồng vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh tha hóa. Có thể chúng ta không chấp nhận cho hành vi tội lỗi của ông nhưng chúng ta phần nào cảm thông cho ông.

         Đặc biệt ở người đàn bà là chị cũng đã vẫn giữ trong tâm hồn mình ngọn lửa của hi vọng, của niềm tin để thắp lên hạnh phúc mỏng mạnh: Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi : “..vui nhất là lúc ngồi nhìn con tôi chúng nó được ăn no”; “ trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời.  Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

      Gấp trang truyện lại người đọc còn mãi ám ảnh bởi những câu hỏi: Cuộc đời người đàn bà ấy rồi sẽ kết thúc ra sau? Những đứa con tội nghiệp của bà có được cuộc sống hạnh phúc? Đó là những vấn đề nhà văn vẫn chưa đưa ra lời giải đáp. Câu trả nằm trong cuộc sống, hành động của mỗi người chúng ta . Điều đó nói lên giá trị của tác phẩm và tầm vóc to lớn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *