Dàn ý phân tích hình tượng sóng – Văn mẫu 12 hay nhất

Mời các em tham khảo Dàn ý phân tích hình tượng sóng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất của Wikichiase dưới đây để nắm được các ý chính cần triển khai cho bài văn cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng, qua đó củng cố thêm kiến thức về tác phẩm, và tự viết cho mình một bài văn mẫu hay nhất. Cùng tham khảo nhé!

Dàn ý phân tích hình tượng sóng – Mẫu số 1

Dàn ý phân tích hình tượng sóng (ngắn gọn, hay nhất)

1, Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Giới thiệu chung về hình tượng sóng

2, Thân bài

a, Lí luận chung về thơ

– Nêu qua đặc điểm của thơ

– So sánh thể loại thơ với văn xuôi

b, Khổ 1: những nét tính cách của sóng cũng là những cung bậc cảm xúc em khi yêu

– Hình ảnh đối lập: “dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ”

– Từ nối: “và”

– Hình ảnh: “sóng”, “sông”, “bể”

=> Người phụ nữ khi yêu có lúc dịu nhẹ tha thiết, lúc mạnh mẽ quyết liệt, lúc hiền hòa yêu thương, lúc hờn ghen giận dữ. Những điều đó không hề mâu thuẫn đối lập nhau mà chỉ là biểu hiện thống nhất trong tâm hồn của người phụ nữ khi yêu. Có lẽ phải là nhà thơ nhạy cảm tinh tế Xuân Quỳnh mới có những cảm nhận như vậy về những cung bậc trong tình yêu của người phụ nữ.

=> Người con gái trong thơ Xuân Quỳnh mạnh mẽ, quyết liệt vươn đến biển lớn tình yêu mênh mông, đến bến bờ hạnh phúc viên mãn. Qủa đến với Xuân Quỳnh, thơ Việt Nam mới có tiếng nói bày tỏ những khát khao yêu thương vừa hồn nhiên chân thành, vừa mãnh liệt sôi nổi của một trái tim phụ nữ. Tiếng nói ấy hết sức quyết liệt, táo bạo, mới mẻ, hiện đại.

c, Khổ 2: Khát vọng tình yêu trong những trái tim trẻ

– Từ cảm thán “Ôi”

– Thời gian đối lập: ngày xưa, ngày sau

– Từ láy: bồi hồi

=> Với Xuân Quỳnh, chỉ cần một trái tim chân thành, một trái tim nồng nàn, mãnh liệt mới có thể chứa đựng hết những khát vọng tình yêu muôn đời. Và đó có lẽ chính là những trái tim trẻ tuổi đang khát kháo, ngập tràn trong tình yêu. Tuổi trẻ là gì nếu không yêu và được yêu? Xuân Diệu sống trọn đời vì lí tưởng này, và Xuân Quỳnh cũng vậy, luôn trẻ, vì luôn muốn yêu và được yêu. Mượn quy luật tự nhiên, Xuân Quỳnh diễn tả một triết lí dung dị nhưng thấm thía về tình yêu và tuổi trẻ: còn tuổi trẻ là con khát vọng, mà khát vọng yêu thương mãi còn tức là con người mãi trẻ trung.

c, Khổ 3 + 4

– Nghệ thuật

– Nội dung

d, Khổ 5: Nỗi nhớ

– Điệp từ “con sóng” 

– cặp từ đối lập giàu sức gợi “trên mặt nước”–“dưới lòng sâu”, “ngày”-“đêm”

=> Xuân Quỳnh đã đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc mà mới mẻ về tình yêu trong tâm hồn người phụ nữ. Đây cũng là trạng thái tình cảm tiêu biểu cho những ai đã, đang và sẽ yêu. Và đằng sau nỗi nhớ “anh” tha thiết ấy là một lời khẳng định đầy mạnh mẽ cho một tình yêu sâu sắc và cao đẹp.

e, Khổ 6: lòng thủy chung của người phụ nữ khi yêu

f, Khổ 7

h, Khổ 8: Những lo âu trăn trở của người phụ nữ khi yêu

i, Khổ 9: Khát khao

Khát vọng của Xuân Quỳnh không đồng thuận với sự sống và cái chết. Khi ta biết yêu, sống hết mình thì tình yêu có thể vượt qua mọi giới hạn để hòa nhập vào cái vô biên của đất trời, của thời gian. Xuân Quỳnh dường như muốn bất từ hóa tình yêu, muốn tình yêu tồn tại vĩnh hằng bất biến trong mọi thời gian, không gian của cuộc đời.

3, Kết bài

– Khẳng định lại giá trị của tác phẩm

Dàn ý phân tích hình tượng sóng – Mẫu số 2

1. Mở bài

– Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại, thơ bà luôn giàu những xúc cảm suy tư trong trẻo của một người phụ nữ từng trải.

– Sóng là một bài thơ xuất sắc viết về đề tài tình yêu với hình tượng sóng tượng trưng cho người phụ nữ trẻ trong hành trình tìm kiếm tình yêu, tìm kiếm hạnh phúc đầy sôi nổi nhiệt huyết nhưng cũng không kém phần e ấp, tinh tế.

2. Thân bài

* Khổ thơ đầu: “Dữ dội…tận bể”:

– Bản chất của sóng chính là cá tính của người con gái khi yêu, vẫn giữ cho mình những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

– Xuân Quỳnh cũng mạnh mẽ thể hiện cái tôi cá nhân, người phụ nữ trở nên mạnh mẽ và chủ động hơn trong tình yêu để tìm được hạnh phúc đích thực của cuộc đời.

– Sóng còn là biểu tượng của tình yêu, lúc nồng nàn mãnh liệt, lúc lại yên bình, thấu hiểu.

* Khổ thơ thứ 2: “Ôi con sóng…bồi hồi trong ngực trẻ”

– Đức tính thủy chung son sắt của người con gái trong tình yêu

– Quy luật của tạo hóa muôn đời, tình yêu vẫn luôn là con người thổn thức, đắm say.

* Khổ thơ thứ 3, 4: “Trước muôn trùng…khi nào ta yêu nhau”

– Sự băn khoăn bối rối của người con gái trong tình yêu thông qua hình tượng sóng, thể hiện sự bất lực trước nhận thức của lý trí về tình yêu, điều đó thôi thúc tác giả hành động bằng trái tim, sống hết mình vì tình yêu.

* Khổ thơ thứ 5, 6, 7 “Con sóng…cách trở”

– Tình yêu mãnh liệt, tha thiết và thủy chung một lòng của người con gái.

– Sóng còn đại diện cho những nỗ lực vượt qua mọi khó khăn trong tình yêu, để tìm kiếm hạnh phúc tốt đẹp.

* Hai khổ thơ cuối:

– Nỗi ám ảnh về sự chảy trôi của thời gian, sợ thanh xuân vụt mất mà vẫn chưa có được tình yêu trọn vẹn.

– Khao khát được hòa mình như những con sóng nhỏ vào biển lớn của tình yêu, khao khát được yêu và biến tình yêu thành vĩnh cửu muôn đời.

=> Khao khát mạnh mẽ, cao đẹp và nhân văn thể hiện cái tôi cá nhân đầy sâu sắc của tác giả.

3. Kết bài

– Sóng và hình tượng sóng là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh trong sáng tác. Bằng hình tượng sóng bà đã thể hiện một cách xuất sắc những tâm tư đầy trong sáng và hồn nhiên của người phụ nữ khi yêu.

– Từ đó vẻ đẹp của người phụ nữ được bộc lộ một cách tinh tế, khao khát muốn yêu và được yêu vừa mạnh mẽ vừa, e ấp, đức tính thủy chung son sắt truyền thống, và khát vọng lớn lao về một tình yêu vĩnh cửu, muôn đời.

Dàn ý phân tích hình tượng sóng – Mẫu số 3

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Xuân Quỳnh: là nhà thơ tiêu biểu thuộc thế hệ nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ, tiếng thơ của chị giàu chất nữ tính, trăn trở với những khát khao hạnh phúc đời thường, giản dị.

– Giới thiệu bài thơ và hình tượng sóng: Sóng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của chị, hình tượng đặc đặc sắc làm nên giá trị bài thơ chính là hình tượng sóng.

2. Thân bài

a. Sóng – bản chất và quy luật của người phụ nữ khi yêu

– Khổ 1: + Sóng mang trong mình những tính chất đối lập: dữ dội – dịu em, ồn ào – lặng lẽ, đó cũng là bản tính của phụ nữ khi yêu (mãnh liệt nhưng sâu lắng).

    + Sóng không bằng lòng sống ở một nơi chật hẹp, “không hiểu mình” nên luôn khát khao, quyết liệt “tìm ra tận bể” rộng lớn, đó là khát vọng vươn tới sự tuyệt đích trong tình yêu của người phụ nữ.

– Khổ 2: + Trước thời gian “ngày xưa – ngày sau”, những con sóng vẫn luôn dạt dào, sôi nổi, khát khao không gian bao la.

    + Cũng như sóng, trái tim của tuổi trẻ luôn khát khao tình yêu mãnh liệt, “bồi hồi trong ngực”, đó là quy luật vĩnh hằng.

b. Sóng – những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn tình yêu

– Khổ 3: Xuân Quỳnh tìm kiếm nguồn cội của sóng “Từ nơi nào sóng lên”, đồng thời thể hiện sự trăn trở, muốn khám phá chính bản thân mình, người mình yêu và tình yêu (“em”, “anh”, “biển lớn”)

– Khổ 4: Nữ sĩ tự đặt câu hỏi và tự lí giải bằng quy luật của tự nhiên: “sóng bắt đầu từ gió …” nhưng nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu đều bí ẩn, khó lí giải.

c. Sóng – nỗi nhớ, lòng thủy chung của người phụ nữ khi yêu

– Khổ 5: Nỗi nhớ bờ của sóng bao trùm mọi phạm vi không gian: “dưới lòng sâu – trên mặt nước”, phạm vi thời gian “ngày – đêm”, biện pháp nhân hóa “không ngủ được” càng nhấn mạnh nỗi nhớ.

    + Không chỉ bày tỏ gián tiếp nỗi nhớ qua sóng mà người phụ nữ bày tỏ trực tiếp nỗi nhớ của mình “lòng em nhớ đến anh”, nỗi nhớ luôn thường trực trong suy nghĩ, ăn sâu vào tiềm thức “cả trong mơ còn thức”.

– Khổ 6: : + Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.

    + Tấm lòng thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về “phương anh” bằng cả trái tim.

– Khổ 7: + Quy luật tất yếu của “trăm ngàn con sóng” là tìm đến “bờ” dù có “muôn vời cách trở” cũng như người phụ nữ khi yêu luôn hướng đến người mình yêu, tìm kiếm tình yêu đích thực dù phải trải qua bao khó khăn thử thách.

d. Sóng – khát vọng tình yêu vĩnh cửu

– Khổ 8: + Sóng là sự lo âu, trăn trở của người phụ nữ về sự nhỏ bé của mình trước cuộc đời rộng lớn, sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô hạn, sự dễ đổi thay của lòng người trước dòng đời đầy biến động.

    + Ẩn sâu trong ý thơ vẫn là niềm tin, hi vọng mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng “Như biển kia dẫu rộng … bay về xa.”

– Khổ 9: + Sóng chính là biểu tượng cho tình yêu mãnh liệt, trường tồn: khát vọng được “tan ra” “thành trăm con sóng nhỏ” để được sống hết mình trong “biển lớn tình yêu”, để tình yêu bất diệt, vĩnh cửu.

    + Đó cũng là khát khao chia sẻ và tan tình yêu nhỏ bé với tình yêu chung rộng lớn của cuộc đời.

3. Kết bài

– Nêu suy nghĩ về hình tượng sóng và nội dung bài thơ: bằng sự kết hợp hài hòa giữa hình tượng sóng và em, bài thơ là tiếng lòng khát khao tình yêu mãnh liệt, chân thành của người phụ nữ muốn vượt qua mọi giới hạn của không gian, sự hữu hạn của đời người để hướng đến cái tuyệt đích của tình yêu.

– Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng hình tượng sóng song hành với hình tượng em, nhịp điệu tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, …

Dàn ý phân tích hình tượng sóng – Mẫu số 4

Dàn ý phân tích hình tượng sóng (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

I. Mở Bài:

– Thơ tình là mảng thơ đặc sắc của Xuân Quỳnh. Ở đó tuổi trẻ có thể soi thấy những cung bậc tình cảm của lòng người đang yêu và soi thấy mảnh tâm hồn riêng của một nhà thơ nữ.

– Thơ tình Xuân Quỳnh nhiều bài hay , trong đo được yêu thích hơn cả vẫn là Thuyền và biển và Sóng. Đặc biệt trong bài Sóng, nhà thơ đã mượn một hình tượng rất đạt để diễn tả tình yêu một cách tập trung ý nhị vừa sáng rõ, vừa độc đáo: Hình tượng Sóng.

II. Thân bài: Phân tích

1. Khổ thơ 1 + 2: Hành trình của con sóng từ dòng sông ra biển cả – trạng thái tâm lý của người phụ nữ đang yêu:

* Khổ thơ thứ nhất :

“ Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể “

– Nhân vật trữ tình kể chuyện về sóng biển. Câu thơ có những cặp từ trái nghĩa : “ dữ dội – dịu êm”, “ ồn ào – lặng lẽ”

Đây là các cặp từ gợi tả trạng thái con sóng bất ổn. Gợi âm thanh của tiếng sóng vỗ bờ, âm thanh của sóng, của gió. Những cặp từ trái nghĩa đi liền nhau trong một câu thơ có tác dụng tả nhịp điệu con sóng khi trào lên lúc lại lắng xuống, nhịp nhàng.

Nhịp điệu của câu thơ , của sóng biển, dễ gợi cho ta những liên tưởng về trạng thái tâm lý khác thường của người phụ nữ khi yêu đầy biến động và phức tạp : khi thì sôi nổi tha thiết, chân thành, mãnh liệt , lúc lại trầm tư sâu lắng. Đó là cá tính không thuần nhất. Nhưng dù có thế nào thì cuối cùng vẫn trở về với cái riêng của phụ nữ. Đó là vẻ đẹp “ dịu êm, lặng lẽ” Xuân Quỳnh đã có những phát hiện rất đặc biệt về sóng. Sóng trong thơ Xuân Diệu là anh thì sóng trong thơ Xuân Quỳnh là em – cái tôi trữ tình của nhà thơ – trái tim người phụ nữ đang yêu đầy biến động.

Hai câu thơ tiếp: có hình ảnh: sông – sóng – bể gợi hành trình của sóng từ dòng sông ra biển cả. Qui luật của tự nhiên đã được Xuân Quỳnh khám phá từ hình tượng sóng. Sóng của dòng sông không chấp nhận không gian nhỏ hẹp. Trăm sông sẽ dồn về biển cả giống như tình yêu của con người không chấp nhận sự hẹp hòi ích kỉ, luôn vươn tới cái cao cả trong sáng hơn. Như vậy : ngay từ khổ thơ mở đầu của bài thơ đã giúp ta có những liên tưởng về tình yêu qua đặc trưng của sóng biển. Sóng được miêu tả đi liền với trạng thái tâm lý của người phụ nữ khi yêu.

* Khổ thơ thứ hai: Nhịp điệu câu thơ ngắn, nhịp nhàng, giọng thơ tâm tình , hồi tưởng, những cặp từ trái nghĩa cùng với thán từ “ ôi” vừa có ý nghĩa khẳng định sự trường tồn của sóng với muôn đời :

“ Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Cái tôi trữ tình đã tách ra khỏi hình tượng sóng để so sánh liên tưởng đồng nhất sóng với tình yêu, khát vọng tình yêu của nhân loại là trường tồn, vĩnh hằng. Đặc biệt là khát vọng tình yêu của tuổi trẻ. Đó cũng là khát vọng được sống, khát vọng được yêu. Ngôn ngữ thơ mang sắc thái khẳng định qua các từ “ ngày xưa” , “ ngày sau” – “ vẫn thế”.

2. Khổ thơ 3, 4, 5, 6 ,7 : Cái tôi trữ tình “ trước muôn trùng sóng bể”

a. Khổ thơ 3 + 4: “ Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên ?

Sóng bắt đàu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu ?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

Những câu hỏi diễn tả sự băn khoăn trăn trở của “ em” đặc biệt điệp từ : “ Em nghĩ”. Đây là điệp từ thể hiện trạng thái tâm lý của cái tôi trữ tình. Điều này chúng ta thường gặp trong thơ Xuân Quỳnh:

“ Em nghĩ rất nhiều về nhau

Sau lời cuối cùng bài hát

Mây trắng trời xanh gió mát

Một ngôi nhà giữa vườn xanh”

                          ( Không bao giờ là cuối )

Còn trong bài “ Sóng” “ Em nghĩ” về tình yêu của anh và em, về biển và sóng. Em đang suy nghĩ trước biển bao la tự vấn lòng mình bằng những câu hỏi từ ngàn xưa về cội nguồn của sóng. Em và sóng luc này phân đôi, em băn khoăn hỏi và tự trả lời: “ sóng bắt đầu từ gió”, có gió mới có sóng. Câu trả lời thật hồn nhiên đã giãi bày chân thật lòng mình. Sau đó “Em” lại hỏi về cội nguồn của gió, nhưng bỏ lửng để nói chuyện tình yêu cho tự nhiên, đây là một nét bút khéo léo thường thấy trong thơ Xuân Quỳnh.

– Cội nguồn của sóng // cội nguồn của tình yêu và bỏ lửng.

– Đến đây sóng và em sóng đôi. Gió là chuyện của vũ trụ, siêu hình, cũng giống tình yêu đầy bí mật : “ Tình yêu là điều con người không thể hiểu nổi”, là trạng thái tình cảm đặc biệt . Có lúc thi sĩ đã thú nhận :

“ Em cũng không biêt nữa

Khi nào ta yêu nhau”

Câu thơ là một lời thú nhận thành thực với lòng mình, với tình yêu. Đúng! Bản chất của tình yêu là không lý giải được ( không biết bát đàu từ đâu) Xuân Quỳnh đã tự tìm lời giải đáp cho câu hỏi về cội nguồn tình yêu bằng sự thành thật hồn nhiên hóm hỉnh và rất có duyên.

b. Khổ thơ thứ 5:

“ Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Đây là khổ thơ có số lượng câu thơ nhiều nhất trong bài, 6 câu thơ đứng giữa bài thơ, như một đợt sóng lòng cồn lên cao nhất từ tâm điểm của bào thơ. 4 câu đầu cái tôi trữ tình nhập vào sóng để giãi bày tâm sự. Hai câu sau cái tôi trữ tình tách ra để bày tỏ lòng mình , nhập vào rồi tách ra như vậy tuy hai mà vẫn là một trong một dòng cảm xúc tuôn chảy.

– Âm điệu cùng nghệ thuật điệp từ, điệp câu đã miêu tả con sóng ở những tầng bậc khác nhau trong không gian , trong thời gian. Con sóng trên mặt nước là con sóng dễ nhận thấy. Con sóng dưới lòng sâu là sóng ngầm, sóng lòng. Và con sóng đã được nhân hóa. Mạch cảm xúc thơ vẫn từ hình tượng sóng – con sóng trong không gian biển cả . Nhịp sóng như vang lên trong từng câu thơ. Con sóng cứ trở đi trở lại như một điệp khúc. Lời thơ tràn ngập, dào dạt tiếng sóng, sóng biển và sóng lòng giăng mắc. Xuân Quỳnh ngẫm về sóng là để nghĩ về mình, hiểu tình yêu của mình.

– Con sóng có tâm trạng vơi đầy thương nhớ. Sóng nhớ bờ. Bờ là nơi đến của sóng. Sóng và em như nhập vào nhau là một để diễn tả nỗi nhớ. Sóng nhớ bờ như em nhớ anh. Nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định nỗi nhớ của mình khi xa cách người thương:

“ Tả mây tả cát sao bằng

Tả anh thương nhớ lòng giăng vạn trùng”

                                      ( Đêm trăng Hắc Hải)

Xuân Quỳnh cũng vậy , bà đã nhập vào sóng để nói lên nỗi nhớ của mình:

“ Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

– Sáu câu thơ trong một khổ thơ thì có hai câu người phụ nữ tự nói lên tình yêu của mình đối với người mình yêu. Trên mượn sóng để nói hộ mình. Đến đây, tình yêu mãnh liệt đã thôi thúc trái tim tự hát thành lời. Có tăng thêm ngôn ngữ, bài hát có tăng thêm nốt nhạc điều ấy cũng là lẽ thường tình vì nỗi nhớ trong tình yêu không ngôn ngữ nào có thể diễn tả hết được. Nhớ là biểu hiện của tình yêu, là thước đo của tình yêu. Người phụ nữ trong bài thơ nhớ đến trăn trở, khắc khoải, day dứt không nguôi triền miên theo thời gian. Trong giấc mơ vẫn còn niềm thao thức. Nỗi nhớ da diết thường trực vô tận trong lòng. Câu thơ không có một từ “ yêu” mà vẫn toát lên một tình yêu cháy bỏng dạt dào. Đặc biệt không phải là em nhớ, mà là “ lòng em nhớ” thế mới là sâu sắc.

– Hai câu thơ là lời tự hát của một trái tim phụ nữ về tình yêu với người mình yêu. Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ thật mãnh liệt , chủ động bày tỏ tình cảm của mình. Đó là vẻ đẹp của sự bạo dạn, mới mẻ, đắm say. Trái tim của người phụ nữ không cần úp mở nữa. Nó đã đòi nói thật.

c. Khổ thơ 6 + 7:

“ Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương”

– Xuân Quỳnh diễn tả thêm tình yêu của mình cho trọn vẹn. Hình như thể hiện tình yêu bằng nỗi nhớ vẫn chưa yên tâm, mà phải diễn đạt sao đây cho đủ, cho đến tận cùng nỗi nhớ vì thế hai khổ thơ này xuất hiện.

– Khổ thơ có những cặp từ trái nghĩa : “ dẫu xuôi, dẫu ngược” để diễn tả cảnh ngộ của người phụ nữ. Nhưng đọc lên nghe có vẻ không xuôi chiều. Dân gian hay nói: “ xuôi nam ngược bắc”, Xuân Quỳnh đã diễn đạt ngược lại để khẳng định: dù cuộc đời, trời đất có thay đổi, có quay cuồng, đảo lộn, thay phương đổi hướng thì tình yêu của em cũng chỉ dành cho một người là anh mà thôi. Đến đây trong lời thơ không còn em và sóng, chỉ còn em và anh – với tình yêu:

“ Chỉ còn em và anh

Cùng tình yêu ở lại”

                               ( Thơ tình cuối mùa thu)

Câu thơ giống như một lời thề. Thề rằng dù em phải ngược xuôi vất vả gian truân, lên thác xuống ghềnh cũng chỉ có anh là người duy nhất. Câu thơ giản dị mà sâu sắc hơn tất cả mọi lời vàng đá. Không gian thì có bốn phương tám hướng, nhưng tình yêu chỉ chấp nhận một phương. Có lẽ đây cũng là quan niệm về tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh: tình yêu phải gắn với lòng chung thủy. Tình yêu không đơn thuần là tình yêu mà tình yêu đi liền với cái tốt, cái đẹp, cái cao cả là nỗi nhớ mãnh liệt, lòng thủy chung tuyệt đối. Khổ thơ toát lên vẻ đẹp của tình yêu đầy nữ tính kín đáo, dịu dàng, táo bạo, mãnh liệt bởi nhiều khát khao và đam mê nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của người phụ nữ phương Đông và người phụ nữ Việt Nam yêu tha thiết, chân thành và luôn hướng tới hôn nhân. Những câu thơ như được vắt ra từ chính cuộc đời Xuân Quỳnh đầy đau thương, mất mát, hụt hẫng về tình cảm.

– Khổ thơ 5 và 6 hình tượng sóng và em sóng đôi hòa làm một soi chiếu vào nhau cộng hưởng. Sóng chính là nỗi lòng của em và em là hiện thân của sóng. Sóng và em đồng hiện. Khổ thơ thứ 7 nhà thơ lại quay trở về với hình tượng sóng. Dù gió xô bão dạt tới phương nào đi nữa cuối cùng sóng vẫn về với bờ. Đó là hiện thực, là qui luật:

“ Ở ngoài kia đại dương

Trăm nghìn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở”

Hình như khẳng định tình yêu chung thủy e chưa đủ, nên cảm xúc thơ lúc này như lắng xuống, nhập vào sóng để khẳng định thêm vẻ đẹp tình yêu của mình: có cách trở – vẫn thủy chung trọn vẹn. Như vậy hành trình tình yêu của Xuân Quỳnh một người bạn đồng hành là sóng, sóng góp phần nói thêm, bồi đắp thêm những cảm xúc thương yêu cháy bỏng của nữ sĩ.

– Hai khổ thơ có những câu thơ gần nghĩa nhau, bổ sung, bồi đắp cho nhau để khẳng định một tình yêu bền vững: “ Dẫu xuôi về phương bắc”; “ Dẫu ngược về phương nam” Và “ Dù muôn vàn cách trở” thì em vẫn “ hướng về anh một phương”, sóng thì “ con nào chẳng tới bờ”.

Tình yêu vượt lên trên mọi không gian, thời gian, mọi cách trở, mất còn để đi đến đích. Đúng như có một lần Xuân Quỳnh đã khẳng định:

“ Sau sông sau biển sau thuyền

Sau những chân trời bát ngát

Sau bao điều cay cực nhất

Anh là hạnh phúc đời em”

                          ( Không bao giờ là cuối)

Các khổ thơ 3 , 4, 5, 6 , 7 tập trung thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu qua hình tượng sóng:

+ Sóng: – Nỗi nhớ trong tình yêu da diết nồng nàn.

– Tình yêu chung thủy hướng tới hạnh phúc trọn vẹn.

– Tình yêu vượt qua mọi khó khăn trắc trở của cuộc đời.

Các khổ thơ tập trung diễn tả vẻ đẹp của một tâm hồn phụ nữ chân thật giãi bày lòng mình, yêu tha thiết nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống.

Khổ thơ 8 + 9: những lo âu day dứt và khát vọng tình yêu.

+ Khổ thơ thứ 8:

“ Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa”

– Các cặp từ thường có trong các vế của câu ghép: tuy – vẫn, dẫu ¬– vẫn mang ý nghĩa khẳng định cuộc đời tuy dài, nhưng vẫn là hữu hạn. Biển dẫu rộng thật, nhưng biển vẫn có bờ. Thời gian chảy trôi, mây vẫn bay về xa tắp vô tận. Câu thơ có sự âu lo trăn trở mang màu sắc triết lý về khái niệm thời gian và năm tháng. Xuân Quỳnh lo âu vì cuộc đời còn ở phía trước , đời người là hữu hạn. Hơn nữa qua nhiều năm tháng đầy biến động của cuộc đời, đã nếm trải ngọt ngào và cay đắng của hạnh phúc thì ở Xuân Quỳnh lo âu về tình yêu đã thành nỗi ám ảnh xót xa:

“ Lời yêu mỏng manh như màu khói

Ai biết tình anh có đổi thay”

– Khổ thơ kết của bài thơ:

“ Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Tự hỏi “ làm sao”, tự vấn lòng mình thể hiện một ước muốn, một khát vọng về tình yêu vô cùng táo bạo và mãnh liệt. Vì sao Xuân Quỳnh lại khát vọng ? Phải chăng bà yêu tha thiết nồng nàn và lo âu ? nhân vật trữ tình muốn được “ tan ra” thành sóng. Động từ tan ra diễn tả một trạng thái mạnh. Sự hóa thân, quên mình trong tình yêu vào thiên nhiên vĩnh cửu để tồn tại mãi mãi, muốn thành trăm con sóng nhỏ để được sống mãi, yêu mãi. Đó cũng là khát vọng được hiến dâng, được hi sinh vì tình yêu mà chỉ có những người yêu thực sự mới làm được như vậy. ta hãy chú ý đến từ chỉ thời gian là “ ngàn năm” và “ biển lớn tình yêu”. Chuyện tình yêu và hạnh phúc ở đời thường là chuyện trăm năm “ trăm năm giàu nỗi hẹn hò”, “ trăm năm bến nước tình tình- trăm năm là nghĩa là tình mình ta”, với Xuân Quỳnh chuyện tình yêu phải là chuyện của “ ngàn năm”, biển phải là “ biển lớn tình yêu” vĩnh hằng và bất tử. Động từ “ tan ra” trong khổ thơ là đỉnh điểm của cảm xúc, của nỗi nhớ, của lòng chung thủy và đức hi sinh một cách trọn vẹn.

– Trước biển Xuân Quỳnh còn khơi dậy được những khát khao mới mẻ, được còn mãi một tình yêu lớn. Khát vọng tình yêu cũng là khát vọng sống mãnh liệt đủ đầy da diết:

“ Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai chẳng có

Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

                                    ( Tự hát)

III. Kết Luận:

Sóng không chỉ là thơ mà còn là những gì tinh tế nhất, huyền diệu nhất của một tâm hồn phụ nữ, một trái tim nhạy cảm luôn luôn khao khát yêu thương. Bài thơ giàu ý nghĩa nhân sinh: giáo dục con người cái đẹp cái tốt, cái cao quí. Bài thơ còn là quan niệm đúng đắn của nữ sĩ về tình yêu chân chính phù hợp với truyền thống dân tộc. Sóng là một bài thơ tình yêu đặc sắc.

—/—

Từ Dàn ý phân tích hình tượng sóng  Wikichiase đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng kiến thức đã học, kết hợp với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 ngắn gọn, chi tiết, hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *