Dàn ý phân tích hình tượng Đất nước từ phương diện Địa lí – lãnh thổ trong trích đoạn Đất nước – Văn mẫu 12 hay nhất

Tham khảo Dàn ý phân tích hình tượng Đất nước từ phương diện Địa lí – lãnh thổ trong trích đoạn Đất nước ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các dàn ý sau đây sẽ giúp các bạn nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý 1: phân tích hình tượng Đất nước từ phương diện Địa lí – lãnh thổ trong trích đoạn Đất nước

Dàn ý phân tích hình tượng Đất nước từ phương diện Địa lí - lãnh thổ trong trích đoạn Đất nước

A. Giới thiệu chung

– Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, xúc cảm lắng đọng, dồn nén, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân.

– “Đất Nước” được sáng tác năm 1971, tại chiến khu Bình Trị Thiên, nhằm cổ vũ tuổi trẻ miền Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ.

– Nguyễn Khoa Điềm có cách cảm nhận đất nước từ phương diện địa lí – lãnh thổ mang nhiều đặc sắc, thể hiện tư tưởng nhân dân hóa thân vào đất nước qua những câu thơ:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu  Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái  Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại  Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương  Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm  Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên.  Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh  Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm  Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi  Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha  Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy  Những cuộc đời đã hoá núi sông ta… 

B. Phân tích             

– Đoạn thơ thể hiện những phát hiện mới mẻ, độc đáo của nhà thơ về cảnh quan kì thú của non sông: núi Vọng phu, hòn Trống Mãi… không chỉ là tặng vật của thiên nhiên tạo hóa mà đã gắn với cuộc sống con người, với văn hóa lịch sử của dân tộc qua những áng ca dao, cổ tích, truyền thuyết, qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân.

+ Nếu như không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng qua những cuộc chiến tranh li tán thì làm sao có được cảm nhận về đá Vọng Phu.

+ Nếu không có truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc Ân thì làm sao có cảm nhận về những ao đầm để lại, chính là những gót ngựa của người anh hùng.

+ Nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì làm sao có cảm nhận hùng vĩ của núi non quanh đất Phong Châu như 99 con voi chầu về đất tổ.

=>Nét đặc sắc ở đây là cái nhìn của nhà thơ thấm sâu ý thức về nhân dân. Nhân dân đã hóa thân vào đất nước.

– Hệ thống từ chỉ địa danh:

+ Mỗi dòng thơ cất lên là một địa danh của đất nước hiển hiện. Các địa danh trải dài từ địa đầu Tổ quốc (Lạng Sơn) đến mảnh đất cuối cùng của đất nước (Mũi Cà Mau). Các địa danh còn trải dài từ đồng bằng, miền núi, trung du, miền biển. Từ những địa danh cụ thể đến những ý nghĩa mang tầm khái quát. Các địa danh đã góp phần làm nên  bức tranh hoàn chỉnh về không gian địa lí, địa bàn cư trú, môi trường sinh sống của các thế hệ người Việt qua các giai đoạn lịch sử.

+ Lần theo các địa danh, người đọc còn nhận thấy lịch sử hình thành của đất nước từ buổi bình minh dựng nước (Đất Tổ vua Hùng, Gióng) đến những năm tháng chống ngoại xâm của ngày hôm nay. Ta luôn có cảm giác, các địa danh lan tới đâu, một chặng đường của lịch sử đất nước được ghi lại ở đó, địa danh xuất hiện ở đâu, không gian địa lí được mở rộng tới đó. Đây là dấu hiệu cho thấy cái nhìn đất nước của Nguyễn Khoa Điềm luôn ở trạng thái động, biểu hiện đất nước luôn luôn phát triển, nghĩa là sự sống của đất nước được bảo tồn, được duy trì bền vững theo thời gian lịch sử. Nói cách khác, qua cảm nhận của nhà thơ, đất nước là một sinh thể luôn phát triển, sự phát triển ngày càng mở rộng, bền vững.

– Kết hợp với những từ chỉ địa danh là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo những chất liệu văn hóa dân gian. Ở đây, ta thấy có sự tái sinh kì diệu của những trang thần thoại, những câu chuyện cổ tích thấm đẫm chất nhân văn, cốt cách văn hóa Việt.

+ Đoạn thơ mở ra bằng những dòng thơ gợi nhớ về câu chuyện sự tích núi Vọng phu – một câu chuyện tình cảm động, biểu trưng cho tấm lòng thủy chung của người phụ nữ Việt Nam. Những cặp vợ chồng yêu nhau đã hóa thân thành hòn Trống Mái để muôn đời được đoàn tụ. Gót ngựa Thánh Gióng là biểu tượng đẹp cho lịch sử chống ngoại xâm anh hùng của người Việt cổ. Núi Bút, non Nghiên không chỉ là một công trình điêu khắc dân gian mà còn là biểu tượng làm sáng lên truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Mỗi câu chuyện gắn với một địa danh như gợi nhớ về một cuộc đời, một số phận chứa đựng một vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam.

+ Điều đáng nói, khi sử dụng những chất liệu nghệ thuật này, tác giả kết hợp với số từ không xác định chỉ số nhiều “những’. Nó không đơn thuần đóng vai trò liệt kê những địa danh mà quan trọng nó biểu đạt những nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thấm thía của tác giả về ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa của những địa danh, là sự cô đọng, đúc kết một câu chuyện đời. Những câu chuyện ấy gắn với một số phận, một kiểu người mà chủ yếu là những người dân bé nhỏ. Khắp đất nước đâu đâu cũng có số phận bất hạnh và những con người thủy chung son sắt. Lời thơ chỉ nhắc đến những địa danh nhưng người đọc hiểu rằng đó là những địa danh chứa trong lòng nó sức khái quát rộng lớn cho phẩm chất, vẻ đẹp, truyền thống lịch sử của con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam đã đang và sẽ được tạo nên bởi vô số những người dân vô danh. Những con người bình dị ấy đang bình lặng góp phần mở mang lãnh thổ, bồi đắp nên văn hóa, nối dài dòng lịch sử của dân tộc. Mỗi địa danh là sự hóa thân, hiện hữu của một cuộc đời con người. Đoạn thơ đã khép lại bằng những cảm nhận rất khái quát:

                   “Ôi đất nước bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

                     Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”.

C. Tổng kết

– Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên và được viết theo thể tự do.

– Câu thơ mở rộng kéo dài nhưng không nặng nề mà biến hóa linh hoạt làm cho đoạn thơ giàu sức biểu hiện và có sức khái quát cao.

Dàn ý 2: phân tích hình tượng Đất nước từ phương diện Địa lí – lãnh thổ trong trích đoạn Đất nước

1. Mở bài

– Dẫn dắt vào đề tài quê hương, đất nước trên diễn đàn văn học Việt Nam.

– Giới thiệu khái quát về trích đoạn “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cùng những câu thơ về phương diện địa lý – lãnh thổ.

2. Thân bài

a. Hình tượng Đất Nước từ phương diện địa lý – lãnh thổ đã được miêu tả thông qua:

– Những danh lam thắng cảnh xuyên suốt chiều dài địa lý từ Bắc chí Nam trong sự gắn bó với những huyền thoại thuộc nền văn hóa, văn học dân gian.

+ Núi Vọng Phu – những người vợ nhớ chồng

+ Hòn Trống Mái – cặp vợ chồng yêu nhau

+ Núi Bút, non Nghiên – người học trò nghèo

+ Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

– Mỗi một không gian địa lý không chỉ là những danh lam thắng cảnh đẹp đẽ mà còn ẩn chứa vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân, con người Việt Nam

+ Sự thủy chung trong tình cảm vợ chồng, gia đình

+ Tinh thần hiếu học

+ Ý thức hướng về cội nguồn,…

b. Ý nghĩa của phương diện địa lý – lãnh thổ được miêu tả trong trích đoạn “Đất Nước”

– Góp phần làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân xuyên suốt tác phẩm.

– Là sự lí giải đậm chất triết lý về việc nhân dân chính là những người tạo dựng nên vẻ đẹp của mỗi một ngọn núi, con sông,…

c. Nghệ thuật miêu tả hình tượng Đất Nước từ phương diện địa lí, lãnh thổ

– Thể thơ tự do, cách ngắt nhịp linh hoạt

– Những câu thơ hiện đại nhưng thấm nhuần chất liệu văn hóa và văn học dân gian một cách sáng tạo.

– Giọng thơ trữ tình với cảm xúc sâu lắng quyện hòa cùng chất chính luận mang tính suy tư, chiêm nghiệm.

3. Kết bài

Đánh giá về đóng góp nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong việc miêu tả Đất Nước từ khía cạnh địa lý – lãnh thổ.

1. Mở bài

Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bình diện địa lý – lãnh thổ trong tác phẩm Đất Nước.

Nguyễn Khoa Điềm đã có cách cảm nhận hình tượng đất nước thông qua bình diện địa lý. Lãnh thổ thật độc đáo, sâu sắc để làm hé lộ tư tưởng “Đất nước là của nhân dân” thông qua đoạn thơ “Những người vợ nhớ chồng….. Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”

2. Thân bài

Phân tích để làm rõ vấn đề cần nghị luận

– Nguyễn Khoa Điềm nhận ra rằng địa lý của một đất nước là tất cả những yếu tố về mặt tự nhiên trên một đơn vị lãnh thổ. Đi sâu vào bình diện địa lý, ông tập trung lí giải tên gọi của các địa danh. Bởi ông nhận ra đó là sự cộng gộp của biết bao mộng đồng, gò bãi, những ngọn núi, con sông. Chính những con người làm nên tên gọi ấy đà làm nên đất nước.

+ Đó là những phát hiện mới mẻ về những danh lam,thắng cảnh: núi Vọng Phu, Hòn Trống mái, , không chỉ là tặng vật của thiên nhiên mà nó liền với lịch sử, cuộc sống, văn hóa của con người qua những áng ca dao, cổ tích, truyền thuyết, qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân ta.

+ Nếu như không có những người vợ mòn mỏi đợi chồng đi trận trở về thì làm sao có thể câm nhận hết núi Vọng Phu. 

=> Lòng thủy chung của người phụ nữ Việt nam từ ngàn đời nay.

+ Nếu không có người anh hùng Thánh Gióng nhổ bụi tre Ngà đánh tan giặc  n thì sao có thể thấy được những ao đầm để lại, đó chính là gót ngựa của người anh hùng=> tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm

+ Ta làm sao có thể thấy được hình ảnh hùng vĩ của ngọn núi Phong Châu như 99 con voi vươn mình về đất tổ nếu không có Hùng Vương dựng nước=> Truyền thống dựng nước, giữ nước từ thời vua Hùng để lại.

+ Những người học trò nghèo làm nên Núi Bút. Non Nghiên đại diện cho truyền thống hiếu học của nhân dân Việt Nam

=> cuộc đời, số phận, vẻ đẹp của những con người Việt Nam

Hệ thống từ chỉ địa danh:

+ Mỗi dòng thơ cất lên là mỗi địa danh khác nhau. Làm nên bức tranh hoàn chỉnh về địa lý của đất nước, về địa bàn cư trú, môi trường sinh sống của thế hệ người Việt nam qua các thời kì.

+Lần theo các địa danh, ta còn thấy dấu vết của lịch sử, từ buổi đầu bình minh dựng nước (Vua Hùng) đến những năm tháng chống ngoại xâm của ngày hôm nay. Đ1 tới đâu, từng chặng đường lịch sử của đất nước đi tới đó.

=> Hình tượng Đất Nước luôn ở trạng thái động, luôn luôn phát triển và được bảo tồn, được duy trì bền vững qua thời gian. Đất Nước là một sinh thể có hồn, có sự phát triển ngày càng lớn mạnh, bền vững.

“ Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cùng thấy..”

Đó là hình ảnh những con người ngã xuống để bảo vệ đất nước này, nhân dân chính là người đà làm nên Đất Nước. Nhân dân hiện lên trong hình ảnh người học trò nghèo, qua hình ảnh Thánh Gióng..V..

– Đánh giá

+ Tác giá sáng tạo và kế thừa chất liệu của văn hóa dân gian. Ở đây ta thấy sự tái sinh kì diệu của linh trang thần thoại, những câu chuyện cổ tích thấm đẫm văn hóa Việt.

+ Tác giả kết hợp với từ chỉ số nhiều “Những” . Không chì đóng vai trò liệt kê tên gọi các địa danh mà còn biểu hiện vốn kiến thức uyên bác của tác giả, những nhận thức đúng đắn về lịch sử, văn hóa, về câu chuyện cuộc đời của những huyền thoại.

=> Đất Nước hình thành là nhờ máu, nước mắt, tình yêu của người dân VN. Những con người vô danh, bình dị nhưng góp phần làm nên Đất Nước hôm nay

3. Kết bài

   Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên, thể thơ tự do

   Câu thơ kéo dài, không nặng nề mà biến hóa linh hoạt làm đoạn thơ giàu sire biểu đạt, Thể hiện thành công tư tưởng mới mẻ nhất từ trước đến nay: “ Đất nước là của Nhân dân”

—/—

Trên đây là Dàn ý phân tích hình tượng Đất nước từ phương diện Địa lí – lãnh thổ trong trích đoạn Đất nước do Wikichiase sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *