Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn – Văn mẫu 12 hay nhất

Tham khảo Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn, tổng hợp đầy đủ dàn ý chung và những bài văn cảm nhận ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các bài văn mẫu sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm, cùng tham khảo nhé!

Khái quát tác giả, tác phẩm trước khi phân tích bài thơ Dọn về làng

Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn (ngắn gọn, hay nhất)

1. Tác giả

a. Cuộc đời

Nông Quốc Chấn (1923 – 2002) tên khai sinh Nông Văn Quỳnh, dân tộc Tày, quê ở Ngân Sơn, Bác Cạn sớm giác ngộ cách mạng. Là một trong những gương mặt văn hoá tiêu biểu, đại diện cho tầng lớp trí thức dân tộc ít người trưởng thành trong cách mạng. Nhiều năm vừa đóng vai trò tích cực trong lĩnh vực quản lý văn hoá, văn nghệ, vừa bền bỉ sáng tác.

b. Sự nghiệp văn học

Nông Quốc Chấn để lại một sự nghiệp văn học có giá trị. Tác phẩm tiêu biểu:

– Tập thơ: Tiếng ca người Việt Bắc (1959); Đèo gió (1968); Suối và biển (1984)…

– Tiểu luận: Đường ta đi (1970); Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977)

Đặc điểm sáng tác: Thơ ông mang cảm xúc chân thành, giản dị, lối diễn đạt tự nhiên mà giàu hình ảnh – lời thơ toát lên nét riêng biệt trong suy tư và diễn đạt của người miền núi.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ

Dọn về làng được viết bằng tiếng Tày, tác giả tự dịch ra tiếng Việt, in trong tập Tiếng ca người Tây Bắc (1959). Dọn về làng viết 1950, viết về quê hương tác giả trong những năm kháng chiến chống Pháp đau thương mà anh dũng, được trao giải nhì tại đại hội liên hoan thanh niên, sinh viên thế giới tại Béc- lin. Sau đó, tác phẩm được dịch đăng trên tạp chí Châu Âu.

b. Thể loại: Thơ tự do

c. Bố cục: Chia làm hai phần

– Khổ 1, 5, 6: niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng

– Khổ 2, 3, 4: Nỗi thống khổ của nhân dân và tội ác của giặc.

d. Chủ đề

Thông qua lời người con tâm sự với “mẹ” (cụ thể và khái quát), bài thơ là nỗi đau khổ của nhân dân và là bản cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Đồng thời cũng nói lên niềm vui của nhân dân được giải phóng, niềm tin vào tương lai tươi sáng của quê hương và lòng biết ơn của người dân miền núi đối với bộ đội giải phóng và nhân dân.

Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn – Mẫu số 1

Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Nông Quốc Chấn và khái quát về tác phẩm Dọn về làng

2. Thân bài

a. Nỗi thống khổ của nhân dân và tội ác của giặc Pháp

* Từ ngữ, hình ảnh:

– Mấy năm: thời gian kéo dài.

– Quên Tết… quên rằm…, chạy hết núi khe, cay đắng, lán sụp, nát cửa, vắt bám,…

=> Cuộc sống yên ấm bị đảo lộn, nhà cửa tan hoang, gia đình li tán, cơ cực.

* Tội ác của giặc:

– Làm đốt trơ trụi, vơ vét áo quần, cha bị Tây bắt, bị đánh chết…

– Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt.

+ Khắc sâu mối thù với quân xâm lược.

+ Thể hiện được sự nhận thức tỉnh táo của người dân trước âm mưu hiểm độc của kẻ thù.

+ Biết nén đau thương mà vượt lên nỗi khổ của chính mình.

b. Niềm vui của nhân dân khi quê hương được giải phóng

* Hình ảnh, từ ngữ:

– Cười vang; xuống làng, ô tô kêu vang đường cái, ríu rít tiếng cười con trẻ….

=> Dày đặc động từ diễn tả cảm xúc mừng vui, hân hoan khi quê hương đã trở lại cuộc sống thanh bình.

– “Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng/ Đuổi hết nó đi con sẽ về trông mẹ”

=> Lời kêu gọi thể hiện niềm vui, lời hứa hẹn.

* Hình tượng người mẹ: gợi nhiều suy ngẫm:

– Người mẹ thân yêu trong tâm thức tác giả.

– Hoặc người mẹ quê hương trong ý nghĩa tự thân của tác phẩm.

=> Với ngôn ngữ mộc mạc, lối thơ giản dị, ý thơ chân thực, tác giả đã diễn tả niềm vui với đủ cung bậc.

c. Màu sắc dân tộc trong tác phẩm

– Hình ảnh so sánh: “Người như kiến; súng như củi”

=> Cụ thể gần gũi.

=> Cách nói của đồng bào dân tộc.

– Từ ngữ: hàng đàn, quên tết tháng giêng quên rằm tháng bảy; mày, tao…

=> Cách diễn tả nỗi đau cũng như niềm vui sướng của tác giả sinh động, giàu hình ảnh mà rất cụ thể, thuần phác, hồn hậu như chính tâm hồn của người dân miền núi.

3. Kết bài:

Cảm nhận chung về văn bản.

Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn – Mẫu số 2

1. Mở bài

– Sơ lược về nhà thơ Nông Quốc Chấn và phong cách sáng tác.

– Dọn về làng viết về quê hương của tác giả trong những năm tháng chiến đấu đau thương mà anh dũng, đồng thời nêu lên những ý nghĩa của kháng chiến thắng lợi đối với đời sống cũng như con người Tây Bắc.

2. Thân bài

a. Niềm hân hoan chiến thắng trong 4 dòng thơ đầu “Mẹ!…như củi”:

– Kết quả của cuộc chiến được diễn tả bằng hình ảnh sống động, đậm lối tư duy, diễn đạt của người miền núi, một vẻ rất chất phác, rất hồn hậu.

– Cao Bằng, Lạng Sơn đã giải phóng, quê hương đã yên bình, đối với mỗi người dân miền núi là niềm hạnh phúc khôn tả, cuối cùng họ cũng có thể trở lại ngôi làng yêu dấu để “sửa nhà phát cỏ/Cày ruộng vườn, trồng lúa ngô khoai”.

b. Hồi tưởng về quá đau thương mà anh hùng của nhân dân miền núi trong kháng chiến:

* “Mấy năm qua…vắt bám đầy chân”: Bằng những biết thực tế Nông Quốc Chấn đã diễn tả chân thực nỗi khổ chạy giặc của đồng bào miền núi, những nỗi khổ băng rừng, lội suối trong kháng chiến vẫn còn in hằn trong trí nhớ.

* “Súng nổ kia…lối bước đi”:

– Sự cướp phá tàn bạo, điên cuồng giặc, phá lán, cướp quần áo.

– Hình ảnh người phụ nữ miền núi mạnh mẽ, kiên cường, nhạy bén hiện lên rõ ràng, một mình gánh vác cả gia đình trong quá trình chạy giặc hung hiểm.

* “Làm sao bây giờ…không biết nói nữa rồi”:

– Sự hi sinh mất mát đau thương đang diễn ra ngay trước mắt, khắc sâu vào trong lòng những người dân nơi đây, từng người cha, người anh, người con đang bị bị giặc bắt đi, họ bị đánh đập dã man, nhưng trái tim những con người anh hùng ấy vẫn thét lên những tiếng lòng yêu nước, căm ghét lũ giặc khôn cùng.

=> Lòng căm thù lũ giặc cướp nước, khiến nhân dân phải lầm than đã trở thành nguồn động lực, là sức mạnh to lớn để đồng bào miền núi kiên quyết đứng dậy đấu tranh giải phóng quê hương.

* “Chúng con còn thơ…ta mới hả”:

– Bi kịch tang thương của gia đình người phụ nữ Tày là bi kịch của cả dân tộc.

=> Tất cả những nỗi khổ, nỗi gian lao chạy giặc vượt núi băng rừng, cùng những hi sinh mất mát đẫm máu đã tụ lại thành nỗi căm hờn sâu sắc, đến bực này rồi đồng bào ta sẽ không nhẫn nhịn chịu đựng nữa, phải biến nỗi oán hận này thành sức mạnh để giết hết bọn giặc Tây cướp nước “Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn/Băm xương thịt mày, tao mới hả”.

* “Hôm nay Cao-Bắc-Lạng…từng vũng”:

– Khung cảnh hồi sinh, vươn dậy mạnh mẽ với sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của con người và mảnh đất Tây Bắc.

– Người dân miền núi bắt đầu xây dựng cuộc sống mới, sau bao nhiêu đau thương mất mát, bao lần mưa bom bão đạn, bầu trời Tây Bắc nay đã xanh trở lại, khắp Cao-Bắc-Lạng chỉ có tiếng cười vang, giòn giã, hân hoan niềm vui chiến thắng.

* “Mặt trời lên sáng …con sẽ về trông mẹ”:

– Hình ảnh mặt trời lên “sáng rõ” đó là tượng trưng cho một khởi đầu mới đầy hy vọng, người con lớn lên theo ánh mặt trời cách mạng mà ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ quê hương, cùng lời hứa chân thành, sâu sắc mang đậm âm hưởng của dân tộc miền núi: “Ðuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ”.

– Đó là niềm tin về một chiến thắng không xa, niềm tin về một một đất hoàn toàn sạch bóng quân thù, nhân dân nơi nơi đều được hưởng cuộc sống yên vui, thái bình, sẽ không còn chết chóc chiến tranh.

3. Kết bài

– Tổng kết nội dung tác phẩm và nêu cảm xúc cá nhân.

Phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn – Bài mẫu 

Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 3)

     Nông Quốc Chấn (18 tháng 11 năm 1923 – 4 tháng 2 năm 2002) là một nhà văn người dân tộc Tày, ông là một trong những gương mặt văn hóa tiêu biểu, đại diện cho tầng lớp trí thức dân tộc thiểu số trưởng thành trong kháng chiến. Đóng góp chủ yếu của Nông Quốc Chấn cho nền văn học Việt Nam đó là thơ, với những cảm xúc chân thành mộc mạc, lời thơ toát lên hơi thở riêng biệt trong lối tư duy và diễn đạt của dân tộc miền núi, hình ảnh thơ giản dị, tự nhiên và mang đậm chất núi rừng Tây Bắc. Năm 1950, chiến dịch biên giới thu đông kết thúc thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hòa vào niềm vui chung của của bà con nhân dân miền núi và nhân dân cả nước nhà thơ Nông Quốc Chấn đã chắp bút cho tác phẩm Dọn về làng viết về quê hương của tác giả trong những năm tháng chiến đấu đau thương mà anh dũng, đồng thời nêu lên những ý nghĩa của kháng chiến thắng lợi đối với đời sống cũng như con người Tây Bắc.

     Sau khi kháng chiến biên giới thu đông năm 1950 kết thúc thắng lợi bà con dân tộc Tày hớn hở, vui mừng dọn về làng trong niềm hân hoan hòa cùng với niềm vui chung của cả dân tộc, điều ấy thể hiện rất rõ ràng trong những vần thơ đầu.

“Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng

Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn

Vệ quốc quân chiếm lại các đồn

Người đông như kiến, súng dày như củi.”

     Sự phấn khởi, hân hoan tràn ngập trong những vần thơ, đó là lời người con sung sướng báo tin với người mẹ “Mẹ! Cao-Lạng hoàn toàn giải phóng”, kết quả của cuộc chiến được diễn tả bằng hình ảnh sống động, đậm lối tư duy, diễn đạt của người miền núi, một vẻ rất chất phác, rất hồn hậu. Trong suy nghĩ của họ bọn “Tây bị chết, bị bắt sống” nhiều lắm không phải là một con số cụ thể mà trong cách liên tưởng của người con đó phải tính là “hàng đàn”, đông như đàn trâu, đàn bò họ vẫn thường chăn dắt. Hình ảnh vệ quốc quân tiến vào chiếm lại các đồn cũng được mô tả bằng các hình ảnh “đông như kiến”, vũ trang tầng tầng lớp lớp như thanh “củi” thân thuộc mà họ vẫn thường đi rừng kiếm về. Cao Bằng, Lạng Sơn đã giải phóng, quê hương đã yên bình, đối với mỗi người dân miền núi là niềm hạnh phúc khôn tả, cuối cùng họ cũng có thể trở lại ngôi làng yêu dấu để “sửa nhà phát cỏ/Cày ruộng vườn, trồng lúa ngô khoai”, để được vui vầy cuộc sống ấm êm, để được hưởng niềm vui trọn vẹn trong những dịp tết tháng Giêng, rằm tháng 7. Sau tin báo chiến thắng Nông Quốc Chấn đã theo dòng hồi tưởng về những tháng ngày kháng chiến đầy gian khổ trong quá khứ.

“Mấy năm qua quên tết tháng Giêng, quên rằm tháng bảy,

Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi

Nhớ một hôm mù mịt mưa rơi

Cơn gió bão trên rừng cây đổ

Cơn sấm sét lán sụp xuống nát cửa

Ðường đi lại vắt bám đầy chân.”

     Nỗi vất vả chạy giặc của nhân dân miền núi được Nông Quốc Chấn miêu tả rất thực tế và sinh động, vội chạy giặc đến mức chẳng còn màng được đến tết nhất, vượt đèo lội suối “hết núi lại khe”, phải nói là “cay đắng đủ mùi”. Những hôm trời nắng đường đi dẫu có chông gai cũng chẳng kinh hoàng bằng những hôm trời đổ mưa “mịt mù”, con người giữa thiên nhiên rộng lớn, phải chống chọi với bão tố, mưa sa, chống chọi với sự giận dữ của thiên nhiên nào là “cơn gió bão trên rừng cây đổ”, nào là những “cơn sấm sét” xé toang trời, lệch đất làm chiếc lán mới vừa dựng xong đã vội đổ. Đôi chân trần leo hết núi hết đồi, dẫm quanh sỏi đá, nhẵn mòn lối đi, lại gặp cả lài loài vắt hút máu, nghĩ mà rùng mình không thôi. Ai đã gây nên nỗi khốn khổ vượt núi băng rừng, ai đã để đồng bào miền núi phải bỏ làng, luồn lách vào rừng sâu? Chính là mũi súng ác độc của lũ giặc ác ôn, tàn nhẫn.

“Súng nổ kia! Giặc Tây lại đến lùng.

Từng cái lán, nó đốt đi trơ trụi,

Nó vơ hết áo quần trong túi

Mẹ địu em chạy tót lên rừng

Lần đi trước, mẹ vẫy gọi con sau lưng

Tay dắt bà, vai đeo đẫy nải

Bà lòa mắt không biết lối bước đi.”

     Kẻ thủ ác, lấy tiếng súng nổ phá tan rừng núi, phá tan cả giấc ngủ của em, chúng lùng sục như những con thú điên cuồng, không tìm thấy chúng lại “đốt đi trơ trụi” từng cái lán, cướp cả những mảnh quần áo đã cũ mèm, ôi ghê tởm sao lũ giặc đớn hèn. Và cũng chính trong sự cướp phá điên cuồng của lũ giặc, hình ảnh người phụ nữ Tày dã hiện lên một cách mạnh mẽ, kiên cường, một tay chèo lái cả gia đình, đó là vẻ đẹp của sự nhạy bén khi “Mẹ địu em chạy tót lên rừng”. Bóng lưng gầy yếu của người mẹ trở thành trụ cột của cả gia đình khi mở đường rừng đi trước, lưng địu con nhỏ, tay vẫy con lớn, tay dắt theo cả người “bà lòa mắt không biết lối bước đi”, có thế mới thấy trong khó khăn vô vàn sức mạnh của con người đã được khai phá triệt để. Nhưng liệu có thể trốn như thế được bao lâu, bóng lưng người mẹ sẽ trụ vững được bao lần, lúc này đây lòng căm thù lũ giặc cướp nước, khiến nhân dân phải lầm than đã trở thành nguồn động lực, là sức mạnh to lớn để đồng bào miền núi kiên quyết đứng dậy đấu tranh giải phóng quê hương.

“Làm sao bây giờ: ta phải chống!

Giặc đã bắt cha con đi, nó đánh,

Cha chửi Việt gian, cha đánh lại Tây

Súng nổ ngay đì đùng một loạt,

Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất

Cha ơi: cha không biết nói rồi…”

     Bởi sự hi sinh mất mát đau thương đang diễn ra ngay trước mắt, khắc sâu vào trong lòng những người dân nơi đây, từng người cha, người anh, người con đang bị bị giặc bắt đi, họ bị đánh đập dã man, nhưng trái tim những con người anh hùng ấy vẫn thét lên những tiếng lòng yêu nước, căm ghét lũ giặc khốn đến tận cùng “Cha chửi Việt gian, cha đánh lại Tây”. Sự nhục nhã, điền cuồng đã khiến lũ Tây ra tay thảm sát những người con của núi rừng Tây Bắc, hình ảnh “Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất/Cha ơi: cha không biết nói rồi…” là hình ảnh đau thương và ám ảnh trong tâm trí người ở lại, đặc biệt nó càng trở nên xót xa khi những hình ảnh hãi hùng ấy lại lọt vào đôi mắt con trẻ, còn gì dã man tàn nhẫn hơn khi đứa trẻ chỉ mới nhận thức được rằng “cha không biết nói rồi”.

“Chúng con còn thơ, ai nuôi ai dạy?

Không ai chống gậy khi bà cụ qua đời!

Mẹ ngồi khóc, con cúi đầu cũng khóc.

Sợ Tây nghe, mẹ dỗ “nín”, con im.

Lán anh em rải rác không biết nơi tìm

Không ván, không người đưa cha đi cất.

Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng,

Con cởi áo liệm thân cho bố;

Mẹ con đưa cha đi nằm một chỗ

Máu đầy tay, trên mặt nước tràn…

Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn

Băm xương thịt mày, tao mới hả.”

     Đau thương phủ xuống để lại một bi kịch xót xa kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh, người vợ gầy đau rứt ruột gan vì mất chồng, bên cạnh lũ con thơ dại vừa phải chịu kiếp mồ côi cha không còn ai nuôi dạy, rồi mai này gia đình sẽ trông cậy vào bàn tay ai gánh vác. Nỗi đớn đau càng được bộc lộ rõ trước cảnh đám tang sơ sài của người vừa nằm xuống trước mũi súng độc ác của thằng Tây, không ván đóng hòm, tấm khăn phủ mặt chính là chiếc khăn đội đầu của người vợ bấy lâu, áo liệm là chiếc áo con đã mặc đến cũ mèm. Và “Mẹ và con đưa cha đi nằm một chỗ”, người về với lòng đất trong lạnh lẽo, đau thương, người ở lại bàn tay vẫn còn vương dòng máu đỏ, đôi mắt nhòe đi, khuôn mặt tràn nước mắt, còn nỗi đau nào hơn nỗi đau này nữa? Tất cả những nỗi khổ, nỗi gian lao chạy giặc vượt núi băng rừng, cùng những hi sinh mất mát đẫm máu đã tụ lại thành nỗi căm hờn sâu sắc, đến bực này rồi đồng bào ta sẽ không nhẫn nhịn chịu đựng nữa, phải biến nỗi oán hận này thành sức mạnh để giết hết bọn giặc Tây cướp nước “Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn/Băm xương thịt mày, tao mới hả”. Và cuối cùng với tinh thần anh dũng, lòng quyết tâm diệt giặc của nhân dân, núi rừng Tây Bắc đã sạch bóng quân thù, những người nằm xuống cuối cùng cũng có thể nhắm mắt, còn người ở lại cuối cùng có thể trở về ngôi làng dấu yêu, vui vầy cuộc sống thanh bình.

“Hôm nay Cao – Bắc – Lạng cười vang

Dọn láng, rời rừng, người xuống làng

Người nói cỏ lay trong ruộng rậm

Con cày mẹ phát, ruộng ta quang.

Ðường cái kêu vang tiếng ô tô.

Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ.

Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá.

Mặc gà gáy chó sủa không lo,

Ngày hai bữa rau ta có muối.

Ngày hai buổi không tìm củ pấu, củ nâu

Có bắp xay độn gạo no lâu,

Ðường ngõ từ nay không cỏ rậm,

Trong vườn chuối, hổ không dám đến đẻ con

Quả trên cành không lo tự chín tự rụng,

Ruộng sẽ không thành nơi máu chảy từng vũng”

     Có thể nói 15 câu thơ cuối cùng chính là khung cảnh hồi sinh, vươn dậy mạnh mẽ với sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của con người và mảnh đất Tây Bắc. Người dân miền núi bắt đầu xây dựng cuộc sống mới, sau bao nhiêu đau thương mất mát, bao lần mưa bom bão đạn, bầu trời Tây Bắc nay đã xanh trở lại, khắp Cao-Bắc-Lạng chỉ có tiếng cười vang, giòn giã, hân hoan niềm vui chiến thắng. Họ đã không cần phải ngày ngày chuyển lán, không cần phải vượt đèo băng suối trong rừng sâu chạy giặc, người lớn thì lên nương phát rẫy để chuẩn bị cho một mùa gieo trồng mới, trẻ con ở nhà thì vui đùa vô lo vô nghĩ, thôi không phải giật mình vì tiếng súng nổ quanh đây. Trong đoạn thơ này Nông Quốc Chấn đã tái hiện lại một cách chân thực, tinh tế cảnh sinh hoạt của người dân tộc Tày, giản dị, đơn sơ, nhưng thanh bình hạnh phúc, giống những ngày giặc Pháp chưa đến lùng.

“Mặt trời lên sáng rõ rồi mẹ ạ!

Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà,

Giặc Pháp, giặc Mỹ còn giết người cướp của trên đất nước ta.

Ðuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ.”

     Hình ảnh mặt trời lên “sáng rõ” đó là tượng trưng cho một khởi đầu mới đầy hy vọng, người con lớn lên theo ánh mặt trời cách mạng mà ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ quê hương, cùng lời hứa chân thành, sâu sắc mang đậm âm hưởng của dân tộc miền núi: “Ðuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ”. Đó là niềm tin về một chiến thắng không xa, niềm tin về một một đất hoàn toàn sạch bóng quân thù, nhân dân nơi nơi đều được hưởng cuộc sống yên vui, thái bình, sẽ không còn chết chóc chiến tranh, sẽ không còn giọt nước mắt sinh ly tử biệt nào phải rơi xuống, rồi con sẽ lại về bên mẹ đầy tha thiết, chân thành.

     Dọn về làng là một bài thơ hay mang nhiều giá trị hiện thực sâu sắc tái hiện cuộc quá khứ đau thương, hào của dân tộc đồng thời thể hiện niềm vui mừng phấn khởi tột cùng trước tin quê hương được giải phóng, núi rừng Tây Bắc đã không còn phải nghe tiếng súng giặc, đồng thời ca ngợi sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, sự hồi sinh, vực dậy nhanh chóng của các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bào nơi đây sau chiến tranh.

—/—

Từ Dàn ý phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn Wikichiase đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng kiến thức đã học, kết hợp với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 12 ngắn gọn, chi tiết, hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *