Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất

Tổng hợp Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất do Wikichiase sưu tầm và biên soạn. Qua dàn ý và các bài văn mẫu được biên soạn ngắn gọn, chi tiết, hay nhất dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm tài liệu, các cách hành văn khác nhau, qua đó có thể tiếp cận tác phẩm với cái nhìn đa chiều, mới mẻ hơn. Mời các bạn cùng xem!

Hướng dẫn lập dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất (ngắn gọn, hay nhất)

1. Phân tích đề

– Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ Bài ca ngất ngưởng

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết, hình ảnh,… tiêu biểu trong phạm vi bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.

– Phương pháp lập luận chính : phân tích.

2. Xác lập luận điểm, luận cứ

– Luận điểm 1: Quan điểm sống ngất ngưởng trên con đường công danh, sự nghiệp

+ Tuyên ngôn về chí làm trai

+ Nhập thế là việc làm trói buộc nhưng là điều kiện để bộc lộ tài năng

+ Tự khẳng định tài năng và lí tưởng của mình

– Luận điểm 2: Quan điểm sống ngất ngưởng trong lối sống, suy nghĩ

+ Ngất ngưởng khi cáo quan

+ Ngất ngưởng trong thú chơi, trong quan niệm sống, trong lối sống

– Luận điểm 3: Lời khẳng định về sự ngất ngưởng vô địch

+ Tự khẳng định mình là trung thần

+ Ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài

Các mẫu dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng chi tiết nhất

1. Mở bài

– Đôi nét về tác giả Nguyễn Công Trứ: một nhân vật lịch sử nổi tiếng in đậm dấu ấn không chỉ trong văn chương mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, thơ văn ông phản ánh nhân sinh và thế sự sâu sắc

– Bài ca ngất ngưởng là một trong số những bài hát nói tiêu biểu thể hiện tài năng, chí khí và ý thức cá nhân của Nguyễn Công Trứ

2. Thân bài

a. Cảm hứng chủ đạo

– “ ngất ngưởng” : thế cao chênh vênh, không vững, nghiêng ngã.

⇒ tư thế, thái độ cách sống ngang tàng, vượt thế tục của con người.

⇒ Phong cách sống nhất quán của Nguyễn Công Trứ, Tác giả có ý thức rất rõ về tài năng và bản lĩnh của mình, kể cả khi làm quan, ra vào nơi triều đình và khi đã nghỉ hưu.

b. 6 câu đầu

– “ Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: thái độ tự tin khẳng định mọi việc trong trời đất đều là phận sự của tác giả ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai của nhà thơ.

– “Ông Hi Văn…vào lồng”: Coi nhập thế là việc làm trói buộc nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng

– Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

    + Tài năng: Giỏi văn chương (khi thủ khoa), Tài dùng binh (thao lược)

⇒ Tài năng lỗi lạc xuất chúng: văn võ song toàn

    + Khoe danh vị, xã hội hơn người:Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

⇒ Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang văn vẻ toàn tài.

⇒ 6 câu thơ đầu là lời từ thuật của nhà thơ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng phóng khoáng khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng

c. 10 câu tiếp

– Cách sống theo ý chí và sở thích cá nhân:

    + Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

    + Đi chùa có gót tiên theo sau.

⇒ Sở thích kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng

    + Bụt cũng nực cười: thể hiện hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với quan điểm của các nhà nho phong kiến.

⇒ Cá tính người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Quan niệm sống:

    + “ Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian

    + “Khi ca… khi tùng” : tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “khi” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên .

    + “ Không …tục”: không phải là Phật, không phải là tiên, không vướng tục , sống thoát tục ⇒ sống không giống ai, sống ngất ngưởng

⇒ Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả

d. 3 câu cuối

    + “ Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố , ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật…

⇒ khẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng. Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành.

    + “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

⇒ Tuyên ngôn khẳng định cá tính, sự mong muốn vượt ngoài quan điểm đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài

e. Đặc sắc nghệ thuật

– Vận dụng thành công thể hát

– Giọng điệu thơ hóm hỉnh, trào phúng

– Sử dụng điển tích, điển cố

3. Kết bài

– Khẳng định những nét tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng

– Liên hệ trình bày suy nghĩ bản thân

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng hay nhất

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 3)

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về Nguyễn Công Trứ: là một nhà văn có tính cách “Ngông”.

– Giới thiệu chung về “Bài ca ngất ngưởng”.

2. Thân bài

a. Cảm hứng chủ đạo

– Tập trung vào từ “ngất ngưởng”

+ Tên nhan đề

+ Lặp lại bốn lần trong bài thơ

=> Nghĩa đen: chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, không vững, nghiêng ngả

=> Nghĩa bóng: cách sống vượt lên trên những khuôn mẫu, gò bó. Thể hiện tính cách, thái độ cách sống ngang tàng của Nguyễn Công Trứ.

b. Quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan (sáu câu thơ đầu)

– “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: Đây là quan niệm mà ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do “ý của trời đất”, nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta).

– Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm ấy gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa anh hùng mà ông đeo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, lạc quan trong suốt cuộc đời.

– “Ông Hi Văn…vào lồng”:

+ Hình ảnh ẩn dụ “vào lồng” => diễn tả cuộc đời làm quan, coi thường danh lợi của Nguyễn Công Trứ => cách nhìn mới mẻ, khác lạ so với nhà Nho đương thời

+ Coi nhập thế là việc làm trói buộc, làm quan sẽ mất tự do, gò bó nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng, hoài bão, trọn nghĩa vua tôi.

– Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

+ Tài năng: Giỏi văn chương (khi thủ khoa), Tài dùng binh (thao lược)

=> Tài năng lỗi lạc, xuất chúng: văn võ song toàn

+ Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

=> Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang, văn vẻ toàn tài.

=> Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật chân thành của nhà thơ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, lòng tự hào về phẩm chất, năng lực và thái độ sống tài từ, phóng khoáng,  khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng. Hay thái độ sống của người quân tử bản lĩnh, kiên trì lí tưởng.

c. Quan niệm sống ngất ngưởng khi về hưu (mười câu thơ tiếp theo)

– Cách sống theo ý chí và sở thích cá nhân:

+ Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

+ Đi chùa có gót tiên theo sau.

=>  Sở thích kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng

+ Bụt cũng nực cười: thể hiện hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với quan điểm của các nhà nho phong kiến.

=> Cá tính người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Quan niệm sống:

+ “Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian.

+ “Khi ca… khi tùng”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “khi” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên.

+ “ Không …tục”: không phải là Phật, không phải là tiên, không vướng tục , sống thoát tục ⇒ sống không giống ai, sống ngất ngưởng.

=> Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả

d. Quãng đời khi cáo quan về hưu (ba câu cuối)

 + “Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố, ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật,…

 + Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ.

+ Tự hào khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng.

+ “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

=> Tuyên ngôn khẳng định cá tính, sự mong muốn vượt ngoài quan điểm đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài. Vậy cái ngất ngưởng của ông không phải tiêu cực mà sự khẳng định bản thân của mình, là bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

3. Kết bài

Cảm nhận chung về bài thơ.

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Công Trứ

– Giới thiệu bài “Bài ca ngất ngưởng”

2. Thân bài

a) Khái quát chúng: giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính bài “Bài ca ngất ngưởng”

b) Phân tích

b.1) Phân tích nhan đề bài thơ:

 “Ngất ngưởng” xuất hiện bốn lần và thường ở những vị trí then chốt của câu giống như điệp khúc của bài ca. Từ “ngất ngưởng” có lẽ đã làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: là bài ca về sự ngất ngưởng”.

b.2) Phân tích sáu câu đầu:

– Câu thơ mở đầu “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: tạo giọng điệu ngang tàng, trang trọng, phù hợp với lý tưởng trang nam nhi, đó là trách nhiệm, sự tự tin vào khả năng của chính bản thân mình. Như vậy, ngay từ câu thơ mở đầu thì ý thức cá nhân đã được khẳng định.

– Câu thơ thứ hai “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”: gây sự chú ý khi đã xưng tên mình trong thơ, không những thế còn tôn cao mình là “tài bộ”.  Đặt trong nền văn học trung đại vốn được coi là phi ngã thì đây là cách nói độc đáo, thể hiện ý thức về cái tôi của nhà Nho. Điều này chỉ thấy xuất hiện ở văn học cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX- khi trào lưu nhân đạo xuất hiện.

– Vào lồng: nói chuyện ra làm quan bị giam hãm, mất tự do

– Điệp từ “khi” tạo nhịp điệu dồn dập, thể hiện thái độ hào hứng của tác giả khi ngẫm lại quãng thời gian làm quan.

– Với sáu câu đầu, “ngất ngưởng” chính là phong thái của một con người có tài năng và ý thức vê tài năng của bản thân mình.

 b.3) Những câu còn lại:

– Lối sống:

“Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”

     Hình ảnh Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng trên lưng bò cái như muốn giỡn mặt với cả thiên hạ: con người đã từng bôn ba, dẹp loạn với tài thao lược giờ đây cũng lên chùa với dáng từ bi nhưng không phải là giống với các Phật tử đương thời bởi ông lên chùa mà còn đưa theo cô hầu gái. Đây không phải là biểu hiện lối sống lập dị, khác người mà đó là ý thức thế tục, chế giễu lối sống xáo mòn, rập khuôn của đám hủ nho. Thế tục mà ông chán ghét. Đôi khi trong cuộc sống, Nguyễn Công Trứ không tránh khỏi những giây phút riêng tư, trầm lắng, cả những cảm nhận hư vô về cuộc đời, cái nhìn ấy gửi trọn vào đám mây trắng trên đỉnh non cao.

– Quan niệm sống:

     Hai câu thơ tiếp đã gửi gắm quan niệm sống, với Nguyễn Công Trứ, chuyện “được” , “mất”, “khen”, “chê” nên phóng tâm coi nhẹ, coi trọng hiện tại, vượt lên tiêu chuẩn đạo đức lỗi thời. Hình ảnh một ông ngất ngưởng với thía độ an nhiên tự tại trước được mất của cuộc đời là hình ảnh nổi bật trong câu thơ. Nguyễn Công Trứ cũng không nhận mình là Phật, Tiên nhưng cũng không vướng tục, đủ tự tin để nhận mình là người tài gioirchawngr kém gì Nhạc Phi, Hàn Kì. Sau đó vẫn tâm niệm: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ trung. Với đoạn hai, có thể thấy ngất ngưởng ở đây là con người với lối sống tự do, phóng khoáng và con người có lối sống an nhiên, tự tại luôn coi trong đạo đức.

c) Đánh giá:

– Đây là bài ca về phong cách sống của chính nhà nho, con người có tài năng, nhân cách, bản lĩnh cá nhân.

– Nghệ thuật:

Thể hát nói với lối viết tương đối tự do phù hợp với việc thể hiện con người cá nhân.

3. Kết bài

   Khẳng định lại thành công của Nguyễn Công Trứ và vị trí của bài thơ.

Bài văn mẫu Phân tích Bài ca ngất ngưởng

     Nếu như thể “ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn, đau xót đi tìm những giá trị của mình bị mất mát” thì hát nói “một thể thông dụng trong ca trù thể hiện một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, danh lợi, nắm lấy phút vui hiện tại”. Nhắc đến thể hát nói không thể không nhắc đến tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ bài thơ đem đến cho hát nói một nội dung phù hợp với chức năng và thể loại của nó. Bài thơ thể hiện cái tôi ngông của tác giả, một phong cách sống khác đời vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến trên cơ sở ý thức về tài năng và giá trị của bản thân.

     Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho nghèo đã từng thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan xong con đường công danh ấy không được bằng phẳng, thăng trầm. Sáng tác của ông hầu hết là bằng chữ Nôm, thể loại ưa thích nhất của ông là hát nói bởi ông đã có điều kiện tham gia ca trù vốn khá phát triển ở làng Cổ Đạm gần làng ông. Đề tài và nội dung trong các bài thơ hát nói của ông rất đa dạng như: tình yêu, đồng tiền, chí làm trai, sự ăn chơi hưởng lạc….

     “Bài ca ngất ngưởng” thuộc đề tài sự ăn chơi hưởng lạc, bài thơ được sáng tác 1848 là năm nhà thơ cáo quan về hưu, sống cuộc đời tự do, thoải mái. Điều đó được thể hiện rõ nét qua từ “ngất ngưởng”. Theo Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một tinh thần, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người mà dường như không nhìn thấy ai, đi giữa cuộc đời mà dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”.

     Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật về cuộc đời thi thố tài năng ở chốn quan trường của tác giả với những sự kiện tiêu biểu. Mở đầu bài thơ là một câu thơ chữ Hán thể hiện quan niệm, triết lí sống mà nhà thơ đã theo đuổi. Do cảm hứng phóng túng, làm chơi, buông thả nên hát nói được cấu tạo một cách đặc biệt. Nó pha trộn lời Hán với lời Việt. Hầu hết các bài đều có một câu chữ Hán là một câu dẫn ngữ nói một tư tưởng nào đó được sẵn đặt ở đầu câu.“Vũ trụ nội mạc phi phận sự” nghĩa là mọi việc trong khoảng trời đất đều là phận sự của ta. Cho thấy sự làm chủ của con người trong vũ trụ, con người với tinh thần nhập thế, trách nhiệm gánh vác việc đời. Ý thơ này đã được ông thể hiện nhiều lần trong những bài thơ khác nhau như: “Vũ trụ chức phận nội” việc trong vũ trụ là phận sự của ta hay “Vũ trụ giai ngô phận sự” mọi việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta. Ông luôn xác định cho mình một lối sống tích cực, sống với đời và đóng góp cho đời. Ông đã chịu ảnh hưởng chí làm trai của Nho giáo và kế thừa tinh thần bậc tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi Phan Bội Châu như “Sinh vi nam tử yếu hi kì/ Há để càn khôn tự chuyển di”…

     Tiếp theo nhà thơ tự nói về mình điều hiếm thấy trong thơ văn trung đại. Bởi con người trong giai đoạn ấy cái tôi cá nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại không coi mình là trung tâm mà chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Nhưng ở đây tác giả đã tự tin thể hiện cá tính, con người riêng của mình.

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

     Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài hoa. Ông tự khẳng định mình là một người “tài năng lỗi lạc xuất chúng” đã “vào lồng” tức ông coi việc làm quan trong triều bị giam hãm trong lồng gò bó, mất tự do. Nhà thơ hẳn phải là con người phóng khoáng, có chí tung hoành, không hám danh hám lợi nên mới tự tin bộc lộ bản thân. Ông liệt kê các học vị, các chức quan lớn mà mình đã nắm giữ. Với câu văn dài ngắn khác nhau, nhịp thơ linh hoạt cùng với cách sử dụng điệp từ “khi” và hệ thống từ Hán Việt đã thể hiện một cảm hứng tự hào, tự tin khẳng định cái tôi cá nhân của một con người tài năng.

     Phần còn lại là sự giãi bày cách sống ngất ngưởng khác thường của thi sĩ. Lại một câu thơ chữ Hán xuất hiện “Đô môn giải tổ chi niên” đánh dấu sự kiện chuyển biến trong cuộc đời nhà thơ với ý nghĩa cả câu: năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu, sống một lối sống như mình mong muốn:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

     Chỉ với bốn câu thơ mà đến hai lần từ “ngất ngưởng” xuất hiện phải chăng nhà thơ quá yêu thích lối sống ấy. Trong các câu thơ trên có sử dụng nghệ thuật đối ý tương phản. Đạc ngựa mà lại đeo cho bò vàng, tay kiếm cung mà nên dạng từ bi nhắc đến đao kiếm là con người ta nghĩ ngay đến binh đao, chém giết làm sao có thể từ bi, đi vãng cảnh chùa để thoát tục mà “Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì”… chính sự đối lập gay gắt trong nhân cách của nhà thơ tạo nên sự khác biệt của ông.

     Nguyễn Công Trứ là người có công lớn với triều đình, với nhân dân từng giúp dân trị thủy, khai hoang và lập nhiều chiến công trong việc dẹp loạn các cuộc nổi dậy chống triều đình. Ý thức được tài năng của mình ông lựa chọn cho mình một phương thức sống, một cách sống khác người. Trước tiên ông nguyện một lòng phò vua giúp nước, cống hiến tài năng trí tuệ của mình “đem tất cả sở tồn làm sở dụng” (đem tất cả chí bình sinh của mình ra cống hiến cho đời) với trí nam nhi của mình:

“Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

     Sau khi đã hoàn thành trách trách nhiệm trên vai người trí sĩ yêu nước thương nòi, ông cho phép mình được hưởng thú tiêu dao, hành lạc với quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy”. Chính bởi vậy ông chẳng bận tâm đến chuyện được mất, khen chê ở trên đời, ông bỏ ngoài tai tất cả để toàn tâm tận hưởng thú vui của riêng mình:

“Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong”

     Hai câu thơ tiếp theo với cách ngắt nhịp 2/2/2/2, 2/2/3 linh hoạt, dồn dập liệt kê các thú vui của tác giả, tạo cho câu thơ phong phú về âm điệu, nhạc điệu:

“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không phật, không tiên, không vướng tục”

     Điệp từ “khi” và ba từ “không” liên tiếp lặp lại cho thấy một tâm hồn tự do, phóng khoáng không vướng bận thế tục, không vướng việc đời, một phong thái ung dung, tự tại. Nguyễn Công Trứ đang tiêu dao tận hưởng những ngày tháng của một kẻ sĩ tài hoa, tài tử: “Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp/ Trong thú yên hà mặt tỉnh say”

     Cuối cùng nhà thơ đúc kết lại toàn bộ cuộc đời mình bằng ba câu thơ với sự khẳng định chắc nịch tài năng và phẩm chất của bản thân:

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông”

     Nhà thơ đã tự xếp mình ngang hàng với các vị danh tướng lỗi lạc của đời Hán, đời Tống bên Trung Hoa. Trái, Nhạc, Hàn, Phú là Trái Tuân, Hàn Phi, Hàn Kì, Phú Bật. Ông tự định vị, tự ý thức được tài đức của mình. Ông rong chơi cho thỏa chí của mình nhưng vẫn vẹn đạo vua tôi. Thật đúng như nhận xét của Trần Đình Sử về Nguyễn Công Trứ “Nhập thế tục mà không vướng tục, rong chơi mà vẫn trọn nghĩa vua tôi”. Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi cá nhân được phô diễn cực độ, tự tin khẳng định trong triều chẳng có ai được như ông.

     “Bài ca ngất ngưởng” với bút pháp nghệ thuật đặc sắc sử dụng các điệp từ, câu cảm thán làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, nó làm cho tính chủ thể của lời văn nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái ngang tàn, ngạo thách thức. Sử dụng tiếng thô, tiếng lóng trong sinh hoạt hàng ngày tạo ra giọng nói sống động pha tạp vừa thanh vừa tục. Trong một bài thơ tính cả nhan đề có đến năm lần nhà thơ dùng từ “ngất ngưởng” thể hiện cá tính ngông của ông.

     Bài thơ đã khắc họa chân dung của cụ Nguyễn Công Trứ một con người tài ba, lỗi lạc vừa làm trọn phận bề tôi, vừa thỏa chí của bản thân mình. Bài thơ đã góp phần làm cho thể thơ hát nói được thể hiện đúng với cấu trúc, chức năng của mình.

—/—

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất tiêu biểu được Wikichiase tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *