Dàn ý chi tiết bài Thương vợ

Mời các em tham khảo Dàn ý chi tiết bài Thương vợ của Wikichiase dưới đây để nắm được các ý chính cần triển khai cho bài văn mẫu, qua đó củng cố thêm kiến thức về tác phẩm, và tự viết cho mình một bài văn mẫu hay nhất. Cùng tham khảo nhé!

Dàn ý chi tiết bài Thương vợ – Mẫu số 1

a) Mở bài

– Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi

– Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú

b) Thân bài

* Luận điểm 1: Hình ảnh bà Tú

Công việc mưu sinh vất vả của bà Tú

– Hai câu đề

+ Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”

  • Thời gian “quanh năm” : làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác
  • Địa điểm “mom sông” : phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

=> Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định.

+ Lí do:

  • “nuôi” : chăm sóc hoàn toàn
  • “đủ năm con với một chồng” : một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.

=> Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng => hoàn cảnh éo le trái ngang.

  • Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

=> Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.

– Hai câu thực

+ Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):

  • “Lặn lội” : Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
  • Hình ảnh “thân cò” : gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn -> gợi tả nỗi đau thân phận và mang tính khái quát
  • “khi quãng vắng” : thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

=> Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ.

+ “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc

  • “Buổi đò đông”: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

-> Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.

=> Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.

Những đức tính cao đẹp của bà Tú

– Hai câu luận

+ “Một duyên hai nợ” : ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu

+ “nắng mưa” : chỉ vất vả

+ “năm”, “mười” : số từ phiếm chỉ số nhiều

+ “dám quản công” : đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

=> Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

* Luận điểm 2: Nỗi lòng của ông Tú

– Hai câu kết

+ Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi:

  • “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả.

+ Tự ý thức:

  • “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời.

+ Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng.

=> Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.

c) Kết bài

– Khẳng định lại giá trị về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.

Dàn ý chi tiết bài Thương vợ – Mẫu số 2

I. Mở bài

  • Dẫn dắt giới thiệu bài thơ cần phân tích

Trong suốt dòng chảy văn học Việt Nam đề tài ” Người phụ nữ” là một đề tài vô cùng quen thuộc, trong đó có cả những bài thơ viết về người vợ. Ấy là nỗi niềm của người chinh phụ chờ chồng mòn mỏi nơi viễn chinh xa xôi mong lập công trạng mà nước mắt lưng tròng. Nhưng đấy là tấm lòng đồng cảm của những người đa tình sầu thế. Còn viết về chính người vợ mình liệu có mấy ai. Vậy mà nhà thơ Tú Xương đã hơn một lần viết về người phụ nữ ấy. Không nó còn trở thành một đề tài một mảng thơ trong thơ ông. Ông đã bày tỏ một nỗi niềm , trong bài thơ ” Thương vợ” .

II. Thân bài

1. Giới thiệu về tác giả tác phẩm.

–  Tú Xương là một trong những nhà văn đã sớm định hình phong cách của riêng mình trong nền văn học trung đại vốn đề cao phi nhã, một cái tôi rất cá tính. Ông có sở trường thơ trào phúng, tự trào. Tiếng cười trong thơ  ông đã từng được nhà phê bình nói gằn như tiếng thủy tinh rơi. 

–  Bài thơ là một trong số những bài thơ viết về người vợ củ mình.

2. Phân tích

a. Hai câu đề

–  Giới thiệu công việc của bà Tú qua đó thể hiện lòng biết ơn đối với người vợ hết mực đảm đang, mẫu mực. 

–  Công việc buôn bán nhưng không phải là buôn bán lớn mà nhỏ, diễn ra quanh năm ngày này qua ngày khác, liên tục thương xuyên như không có sự ngơi nghỉ, diễn ra thơ một vòng tuần tự khép kín không có phút nào nghỉ ngơi.

–  Không gian mom sông nhô ra phía mòm sông ba phí bốn mặt đều giáp sông và nước, chênh vênh nguy hiểm.

–  Công việc bươn trải bán mua ở nơi nguy hiểm quanh năm suốt tháng vất vả gian nan.

–  Nguyên nhân cho sự vất vả đó là vì gánh nặn trĩu oằn trên đôi vai bà Tú. Nuôi đủ năm con với một chồng, dồn vào vai người vợ.  Năm con đã đủ mệt lại còn một chồng. Chồng lẽ ra phải là trụ cột trong ra đình gồng gánh nuôi vợ con. Ở thời kì ấy người phụ nữ ít nhiều được nâng niu, người đàn ông sức dài vai rộng nuôi vợ con và ở nội thành không ít người phụ nữ chỉ làm nội trợ , còn bà Tú thì. Chữ ” Đủ” hàm chứa bao ý nghĩa, chữa đựng bao lo toan cực nhọc, hết con rồi đến chồng, của một ông Tú phải sĩ điều với đời. ” Đủ”   lo vừa là đủ chẳng thừa cũng không thiếu. Đằng sau lười nói hóm hỉnh coi mình như một đứa con, kể một cách chi li chính xác như vậy là tấm lòng hàm ơn, tự thấy mình vô tích sự.

b. Hai câu thực

–  Nghệ thuật đối, đảo ngữ có tác dụng nhấn manh sự vất vả sự truân chuyên lăn lội, khiến câu văn đọc lên cứ trĩu xuống như đang oằn trên đôi vai của bà Tú.

–  Thân cò là hình ảnh quen thuộc trong ca dao. Nhưng trong thơ Tú Xương lại được vận dụng sáng tạo.  Nó vừa gợi liên tưởng về dáng hình gầy guộc mong manh lại vừa gợi về số phận số kiếp nhọc nhằn của những người phụ nữ như bà Tú. 

–  Một người chuyên viết trào phúng mà đọc lên thấy rưng rưng có cả cái quạnh hiu rợm ngợp nơi quãng vắng.

–  Từ láy “eo sèo” là từ tượng thanh được đẩy lên phía trước miêu tả cụ thể không khí cạnh tranh mặc cả. Diễn ra lúc buổi đò đông trên sông và đông người trên những chuyến đò. Hiểu thế nào cũng là không khí mua bấn chật chội, bấp bênh. 

3. Hai câu luận

–  Hai câu ở đây mang dáng dấp cảu nội tâm, than về đời sống của bà Tú.

–  Duyên là mối quan hệ của con người với con người là căn nguyên để người ta gắn bó cới nhau dời đời kiếp kiếp . Trái với duyên là nợ cái mình phải trả. Vậy mà ở đây duyên một mà nợ hai. Vậy là bao vất vả năm nắng mười mưa mà bà Tú phải trải qua là truyện của số phận am bài. ” Âu thành phận”, ” Sao dám quản công”. Tú Xương đã nhập vào tâm tư người vợ để nói hộ nỗi lòng người vợ. 

–  Hình ảnh cảu bà Tú là hình ảnh cảu người phụ nữ Việt Nam truyền thống nhẫn nại tần tảo  chịu thương chịu khó giàu đức hi sinh.

d. Hai câu hết

–  Có lẽ không phải lời của bà Tú.  Bởi lẽ vốn xuất thân thân là con gái nhà dòng còn được khen là chịu thương chịu khó. Vậy đây là lời của ông Tú.

–  Chửi là chửi thói đời thác ra là giọng của vợ. Thói đời vời những thành kiến cổ hủ với những bất công cẩu một thời, đề ra những tiêu chuẩn mặc định mực thiết của đời không cho ông Tú giúp đỡ vợ một cách thiết thực Nhưng nhà thơ không hoàn toàn đổ lỗi cho cái xấu chung của người đời mà biết nhận lỗi về mình vận vào chính mình một cách rạch ròi chính đáng mà cũng chân thành bằng việc phủ nhận hoàn toàn vai trò ý nghĩa sự tồn tại của mình. 

–  Nhận lỗi với vợ câu thơ đọc lên cứ da diết một nỗi buồn. Có tài có tâm mà bất lực với thời thế. Ngay cả việc tề gia cũng không trọn vẹn sao có thể nói việc trị quốc bình thiên hạ. 

III. Kết bài

–  Khẳng định lại giá trị nội dung nghệ thuật của tác phẩm cũng như tài năng tấm lòng của tác giả

–  Bài thơ thể hiện tấm lòng biết ơn với người vợ cua Tú Xương, một ngươi phụ nữ tần tảo chịu thương chịu khó. Đồng thời cũng gửi gắm suy nghĩ thấm thía của ông về cuộc đời 

Bài văn mẫu phân tích bài thơ Thương vợ của Tế Xương

     Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng.

     “Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

     Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

     “Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú “buôn bán ở mom sông”, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “nuôi đủ năm con với một chồng”.

     Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai “đếm” con, “đếm” chồng. Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”.

     Có thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.

     Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng”. Ngôn ngữ thơ tăng cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng; đã “lặn lội” lại “thân cò”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sông ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” cái cò trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông,…” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

     “Eo sèo” là từ láy tượng thanh chỉ sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng’” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn! Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

     “Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng.” Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận”, “dám quản công”… giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

     Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đối, thành ngữ và hình ảnh “thân cò”… đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

     Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

     Trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”.

     Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!

     Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.

     Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.

—/—

Từ Dàn ý chi tiết bài Thương vợ mà Wikichiase đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng kiến thức đã học, kết hợp với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 8 ngắn gọn, chi tiết, hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *