Dàn ý cảm nhận bài Hầu trời

Hướng dẫn lập dàn ý cảm nhận bài Hầu trời ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý cảm nhận bài Hầu trời – Mẫu số 1

Dàn ý cảm nhận bài Hầu trời (ngắn gọn, hay nhất)

I. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

Nói về Tản Đà, nhà thơ Xuân Diệu từng chia sẻ rằng: ” Tản Đà là thi sĩ đầu tiên, mở đường cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một cái tôi”. Quả thực là vậy, với tài năng, phong cách rất riêng của mình, Tản Đà đã đóng góp cho nền văn học hiện đại nước nhà nhiều tác phẩm vô cùng đặc sắc, trong đó có “Hầu trời”. Bài thơ này mang đậm dấu ấn, cái tôi nghệ sĩ của ông đến độ người ta chỉ mới đọc thoáng qua đã cảm nhận được và phải đọc đi đọc lại để cảm nhận cho trọn cái ý nghĩa của nó.

II. Thân bài:

1. Giới thiệu về tác giả và tác phẩm:

a) Tác giả:

– Tản Đà là bút danh xuất phát từ núi Tản, sông Đà.

– Cuộc đời tác giả có nhiều lận đận, sinh ra và lớn lên trong một xã hội khi Hán học đã tàn, Tây học thì mới bắt đầu nhen nhóm, đó là thời điểm giao thời giữa hai nền văn hóa.

– Tản Đà là một nhà thơ có điệu hồn mới mẻ: vừa lãng mạn, bay bổng, phóng khoáng nhưng cũng đầy vẻ ngông nghênh.

– Là cây bút tiên phong ở nhiều lĩnh vực văn hóa.

– Ông là người đầu tiên sống bằng nghề Văn, ôm mộng cải cách xã hội bằng con đường hợp pháp và văn chương là một con đường mới.

– Tản Đà được ví như dấu gạch nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại.

– Hoài Thanh gọi ông là “con người của hai thế kỷ”.

b) Tác phẩm:

– Trích “Tuyển tập Tản Đà”, 1986.

2. Phân tích bài thơ:

a) Khổ thơ 1: Sự hồi tưởng lại cảm giác được lên tiên của đêm qua 

– Đó là một cảm giác sướng lạ lùng. Cách nói này đã phần nào kích thích sự tò mò của người đọc, lôi cuốn họ tìm hiểu bài thơ với nhiều hứng thú.

– “Thật hồn”, “thật phách”, “thật thân thể”, cách nói đó như khẳng định đây là chuyện có thực.

b) 6 khổ tiếp: 

– Hoàn cảnh được lên tiên: thời gian là canh ba, đang buồn nằm ngâm văn thì tiếng ngâm động đến tận trời, trời mất ngủ nên đã được hai cô tiên đưa lên gặp trời.

– Đây là nhiệm vụ buộc phải làm, không từ chối được. Cách nói thể hiện cái ngông – khoe: Tài thơ của mình hay động tận lòng Trời nên được Trời mời lên.

– Lí do lên hầu trời được Tản Đà thể hiện qua thơ của mình xem chừng rất tự nhiên, không có vẻ gì là gò ép.

– Cái tôi Tản Đà hiện diện ở ý thức trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Nhà thơ lãng mạn nhưng cũng không hề thoát li với thực tế.

– Cách kể tự nhiên khiến cho người đọc như được nhập vào câu chuyện và nếm trải cùng nhân vật.

– Hư cấu một câu chuyện lên hầu trời có đầu cuối đầy đủ có thể coi là một sự cách tân độc đáo của Tản Đà trong sáng tác thơ. 

c) Đoạn chữ thẳng:

– Trời truyền cho văn sĩ đối thơ, tuân theo lệnh trời nhân vật tôi đã đọc những sáng tác của mình.

– Nhà thơ khéo léo mượn giọng “người nhà trời” để gián tiếp khoe văn của mình, rằng đó là văn “Trời nghe trời cũng lấy làm hay”…

III. Kết bài:

– Khái quát lại giá trị nội dung, tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

– Cảm nghĩ chung về tài năng, tình cảm của tác giả

“Hầu trời” thực sự là một bài thơ hay với nhiều nét độc đáo, tiêu biểu cho nét giao thời trong nghệ thuật thi ca của Tản Đà. Tuy không trực tiếp bàn về các vấn đề trong xã hội, khi cảm nhận tác phẩm này, ta vẫn thấy bóng dáng của các vấn đề ấy dưới một hình thức thể hiện khác, mới mẻ hơn, ấn tượng hơn so với trước đó. 

Dàn ý cảm nhận bài Hầu trời – Mẫu số 2

I. Mở bài: giới thiệu bài thơ Hầu trời

Ví dụ:

Với phong cách thơ lãng mạn, phóng khoáng, có nét ngông nghênh, thể hiện sự ưu ái và cảm thương của tác giả; thơ văn của Tản Đà ra đời giữa hai giai đoạn trung đại và hiện đại vì vậy những tác phẩm của ông mang một vẻ đẹp và sự độc đáo rất riêng. Một trong những tác phẩm đặc sắc và thể hiện rõ sự phóng khoáng của Tản Đà là tác phẩm Hầu trời. Tác phẩm nói lên sự ngông nghênh của tác giả đối với trời, xem trời như là bạn của mình. Chúng ta cùng đi tìm hiểu cái ngông của Tản Đà.

II. Thân bài: Phân tích bài thơ hầu trời

1. Mở đầu bằng cách giới thiệu câu chuyện:

– Câu chuyện xảy ra vào đem qua, một khoảnh khắc yên lặng, yên tĩnh

– Câu chuyện kể về giấc mơ muốn lên cõi tiên của tác giả, thể hiện tâm trạng và cảm xúc của người thi nhân

– Tâm trạng nữa thực nữa mơ của thi nhân

2. Thi nhân đọc thơ cho trờ và Chư tiên nghe

– Đọc thơ một cách hào hứng

– Thi nhân kể về cuộc sống và công việc của mình

– Giọng thơ của thi nhân hóm hỉnh, ngông

3. Thái độ của người nghe:

– Trời tỏ ra rất tâm đắc và khen ngợi thi nhân

– Chư Tiên nghe thơ rất xúc động và tâm đắc

4. Thi nhân trò chuyện với trời:

– Khẳng định cái tôi của mình

– Cuộc sống nghèo khó nhưng thư thái của tác giả

– Cảm hứng nghệ thuật bao trùm nguyên bài thơ

III. Kết bài: nêu cảm nhận của em về bài thơ Hầu trời

Ví dụ:

Hầu trời là một bài thơ thể hiện sự ngông cuồng của tác giả, sự hóm hỉnh, vui đùa đã khiến hco bài thơ trở nên độc lạ và thú vị hơn.

Dàn ý cảm nhận bài Hầu trời – Mẫu số 3

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Tản Đà và bài thơ Hầu trời

– Dẫn dắt vào vấn đề

2. Thân bài

– Khái quát chung

+ Xuất xứ: Trích từ tập “còn chơi”

+ Bố cục: 4 phần

+ Chủ đề: thể hiện cái tôi ngông của tác giả sau khi về lại trần gian.

– Phân tích

  • Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe

* Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:

+ Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc: “ Đọc hết văn vần sang văn xuôi/Hết văn thuyết lý lại văn chơi” 

+ Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình: “Hai quyển khối tình văn lý thuyết/ Hai khối tình còn là văn chơi/ Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….”

+ Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc.

=> Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến trời để khẳng dịnh tài năng. Đây là niềm khát khai chân thành trong tâm hồn thi sĩ.

* Thái độ của người nghe: Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả.

+ Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng…

+ Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng…Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi…

=> Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạng và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời.

* Thi nhân trò chuyện với trời:

+ Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình =>Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để khẳng định cái tôi cá nhân của mình.

+ Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là môt cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thoả nguyện nỗi lòng.

=>Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bĩ rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn.

=> Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác.

=> Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này.

* Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân:

+ Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương. =>Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn.

+ Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời => đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc.
=> Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít.

3. Kết bài

– Những nhận xét, cảm nhận chung nhất về vấn đ

– Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân

Bảm nhận bài Hầu trời – Bài mẫu 1

     Bài thơ “Hầu Trời” của Tản Đà có sự khác biệt về số câu ở hai văn bản. Bản do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, tuyển chọn – Nhà xuất bản Văn học, 1982 có 120 câu. Bản do Nguyễn Khắc Xướng sưu tập, chú thích – Nhà xuất bản Văn học, 1986 chỉ có 114 câu. Chúng tôi theo bản thứ nhất.

    “Hầu Trời” là một bài thơ rất đặc sắc và độc đáo; độc đáo ở thi đề, độc đáo cảm hứng, độc đáo ở nội dung bài thơ. “Hầu Trời” được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, bên cạnh những khổ thơ bốn câu, tác giả đan xen vào những đoạn thơ sáu câu, mười câu, mười hai câu… mang dáng dấp một bài hành nhỏ. Câu trúc đa dạng ấy đã mở ra một không gian nghệ thuật để Tản Đà bộc lộ cái tôi của mình, và cho nó “tung hoành” nơi Thiên môn đế khuyết.

     Phần đầu bài thơ kể chuyện lúc canh ba, thi sĩ ngâm thơ nơi hạ giới, tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà”, đã “làm Trời mất ngủ…”. Trời bực mình bèn sai hai cô tiên bay xuống triệu chàng thi sĩ lên Thiên môn. Bốn câu thơ mở đầu, Tản Đà dùng bốn chữ “thật” để khẳng định đó là một chuyện thật đã xảy ra “sướng lạ lùng!”. Trong bài “Tìm hiểu Tản Đà”, thi sĩ Xuân Diệu viết:

     “Bài “Hầu Trời”, tôi phục nhất đoạn mở:

Đêm qua chẳng biết có hay không

Chằng phải hoảng hốt không mơ mộng

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng!

     Vào đột ngột cứu đầu cũng ra vẻ đặt vấn đề cho nó khách quan, nghi ngờ theo khoa học, để ba câu sau toàn là khẳng định, ăn hiếp người ta”.

     Phái viên của Trời là hai nàng tiên “miệng cười mủm mỉm”,… Thi sĩ như được chắp cánh cùng bay lên Trời: “Theo hai cô tiên lên đường mây – Vù vù không cánh mà như bay”. Nhìn thấy Thiên môn tráng lệ, chàng thi sĩ vô cùng ngạc nhiên tự hỏi:

Cửa son đồ chói oai rực rỡ!

Thiên môn đế khuyết như là đây ?

     Vị khách làm thơ nơi hạ giới được Trời và chư tiên trọng thị. Sau khi thi lễ “sụp xuống lạy”, Trời ân cần sai tiên nữ “dắt tôi dậy”, rồi mời thi sĩ “ngồi chơi” trên “Ghế bành như tuyết, văn như mây”. Tiên đồng pha nước uống. Chư tiên kéo đến ngày một thêm đông. Đến để xem mặt người trần? Đến để đón tiếp với lòng hiếu khách? Hay đến để dự cuộc bình thơ, bình văn?

Tiên đồng pha nước uống vừa xong,

Bỗng thấy chư tiên đến thật đông,

Chung quanh bày ghế ngồi la liệt,

Tiên bà, tiên cô, cùng tiên ông.

     Cuộc đọc văn và bình văn nơi Thiên môn đế khuyết được Tản Đà kể lại thật sinh động và hấp dẫn. Thính giả gồm có Trời và đông đảo chư tiên. Sau khi nghe lời truyền bảo của Trời, văn sĩ cung kính thưa: “Dạ, bẩm lạy Trời, con xin đọc”, thì cuộc đọc văn, hình văn bắt đầu. Văn sĩ “Đọc hết văn vần sang văn xuôi

     Hết văn thuyết lí lại văn chơi”, càng đọc càng “đắc ý”, càng “tốt hơi “, nhất là khi được nhấp giọng bằng “chè Trời”. Thính giả và văn sĩ trở thành bạn tri âm trong cuộc đọc văn, bình văn. Trời và chư tiên đều say mê thưởng thức nghệ thuật. Văn sĩ cao hứng đọc “ran cung mây”. Chẳng có rượu và hoa… nhưng biết bao thú vị. Trời nghe văn nghe thơ “cũng lấy làm hay”. Chư tiên mỗi người có một cách biểu cảm riêng. Có nàng tiên thì “nở dạ” hoặc “lè lưỡi”. Có người đẹp nơi Thiên môn thì xúc động quá mà “chau đôi mày”. Có nhiều nàng tiên bị thơ văn lôi cuốn “lắng tai đứng”. Ai cũng nhiệt thành “cũng vỗ tay” tán thưởng. Hỏi đã có văn sĩ nào xưa nay được hưởng hạnh phúc, được đọc văn, đọc thơ trước một thính giả nơi Thiên môn đế khuyết như vậy?

     Văn sĩ tự hào “báo cáo” với Trời về những tác phẩm của mình đã được in: …

Hai quyển Khối tình văn thuyết lí

Hai Khối tình con là văn chơi

Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên sáu văn vị đời

Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch

Đến quyển Lên tám nay là mười”

     Trời “bật buồn cười” khen ngợi: “Văn đã giàu thay lại lắm lối” vì phong phú về thể cách, đa dạng về thể loại. Hạnh phúc biết bao khi văn sĩ được các tiên nữ gọi bằng “anh”:

“Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:

Anh gánh lên đây bún chợ Trời!”.

     Cách kể chuyện mộc mạc tự nhiên, cách sử dụng ngôn từ, giọng điệu hóm hỉnh, tác giả đã làm nổi bật phong cách “bình dân” của ông Trời và các chư tiên, cùng với cái điệu bộ khúm núm và “thật thà” của văn sĩ. Qua cảnh đọc văn hầu Trời, Tản Đà đã phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ thật đáng buồn, nhất là tầng lớp văn sĩ như ông:

Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu.

Quanh năm luống những lo văn ế,

Thân thế xem thua chú hát chèo!

                                        (Lo văn ế)

     Đồng thời ông chỉ rõ, trong xã hội thực dân nửa phong kiến ấy đã có mấy tri âm hiểu và biết trân trọng những tác phẩm văn chương của ông, vì thế ông phải lên hầu Trời, đọc văn cho Trời và chư tiên thưởng thức. Nguyễn Khắc Hiếu đã tự hào bộc lộ cái bản ngã, cái tài năng đích thực của mình trước con mắt đồng loại! Trời với con mắt xanh, với sự thẩm văn tinh tế đã dành cho văn sĩ lần đầu mới gặp những lời ngợi khen vô giá:

Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!

Văn trần được thế chắc có ít!

 Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!

 Khí văn hùng mạnh như mây chuyển

 Êm như gió thoảng, tinh như sương!

 Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!…,

     Sao băng, mây, gió, sương, mưa, tuyết được Trời đem ra so sánh để ngợi ca nhời văn, khí văn của chàng văn sĩ. Cách kể, cách tả của tác giả thật tài hoa và có duyên. Cái “tôi” bản ngã được khẳng định. Sau cuộc đọc văn, bình văn là cuộc hầu chuyện với Trời của văn sĩ:

Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa

Con tên Khắc Hiếu, họ là Nguyễn…

     Trời “ngợ”, rồi sai Thiên Tào lấy sổ xét: “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu

     Đày xuống hạ giới vì tội ngông. Nhưng rồi Trời bao dung và ân cần an ủi, khích lệ. Trời không “đày” mà giao phó cho văn sĩ một trọng trách là đem việc thiên lương” thuật lại cho “đời hay”, cho mọi người cùng biết. Văn sĩ phải gánh trọng trách đem “thiên lương”- giáo hoá người đời, để trần gian tươi đẹp hơn, yên vui hơn. Bài thơ “Hầu Trời” không chỉ mang cảm hứng lãng mạn, mà còn hàm chứa yếu tố hiện thực, đó là đoạn thơ 16 câu văn sĩ thưa với Trời về thân phận mình bấy lâu nay nơi hạ giới: rất nghèo khó, không có một thước đất cắm dùi,  chỉ “còn một bụng văn”‘, kế sinh nhai ngày một thêm chật vật:

 …Giấy người, mực người, thuê người in .

Mướn cửa hàng người bán phường phố

Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực là khó

Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều

Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu…

     Khi nghe văn sĩ lo lắng thưa: “Trời lại sai con việc nặng quá – Biết có làm nổi mà dám theo?”, thì Trời đã động viên và hứa:

Rằng: “Con không nói, Trời đã biết,

Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết.

Cho con cứ về mà làm ăn,

Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết,

Cố xong công việc của Trời sai,

Trời sẽ cho con về đế khuyết…

     Đoạn cuối bài thơ kể chuyện Trời sai Khiên Ngưu đóng xe đưa Trích tiên trở lại trần gian. Cuộc tiễn đưa của chư tiên vừa lưu luyến, vừa trang trọng: “Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi”. Khi trăng tà non Đoài, tiếng gà gáy xao xác, nhà thơ đã về tới sân nhà, cảm thấy cô đơn và ngậm ngùi. Vừa tiếc rẻ, vừa mong ước:

Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi.

Một năm ba trăm sáu mươi đêm,

Sao được đêm đêm lên hầu Trời!

   Bài “Hầu Trời” như một truyện cổ tích được viết bằng thơ. Nhân vật Trời và các chư tiên rất giản dị, bình dân, thân mật và dễ mến. Bài thơ cho ta thấy Tản Đà có một trí tưởng tượng phong phú, một vốn từ ngữ giàu có, nhất là khi ông nói về Trời, về các chư tiên và cách sống của họ. Đoạn thơ nói về cuộc đọc văn và bình văn, về ngôn ngữ đối thoại giữa văn sĩ với Trời và các chư tiên được kể lại rất sinh động và lí thú. Có lúc chúng ta cảm thấy cuộc bình văn hình như đang diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật nơi cõi đời mà mình từng được tham dự.

   “Hầu Trời” là một bài thơ độc đáo và đặc sắc, tuy khá dài nhưng bố cục chặt chẽ, giọng thơ liền mạch, nhất khí, cảnh và tình rất tự nhiên, diễn biến theo câu chuyện, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Bài thơ trường thiên “Hầu Trời” giúp ta cảm nhận thêm chất lài tử, tài hoa và cái ngông của Tản Đà thi sĩ.

—/—

Như vậy, Wikichiase đã vừa cung cấp những dàn ý cơ bản cũng như một số bài văn mẫu hay Dàn ý cảm nhận bài Hầu trời để các em tham khảo và có thể tự viết được một bài văn mẫu hoàn chỉnh. Chúc các em học tốt môn Ngữ Văn !

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *