Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương

Tham khảo Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương, tổng hợp đầy đủ dàn ý chung và những bài văn cảm nhận ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các bài văn mẫu sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm, cùng tham khảo nhé!

Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương -Mẫu số 1

Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương (ngắn gọn, hay nhất)

1. Mở bài

– Dẫn dắt vấn đề: Văn học Việt Nam đánh dấu sự thành công của nhiều nhà thơ nổi tiếng với những tác phẩm để lại dấu ấn mạnh mẽ… trong đó có Hồ Xuân Hương.

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương.

2. Thân bài

* Tiếng thơ ai oán khi phải chịu kiếp sống chung chồng: “Kẻ đắp chăn… lấy chồng chung”

– Nỗi lòng thổn thức, tiếng trống điểm canh vẫn vang vọng giữa cảnh khuya khiến lòng người khôn nguôi nghĩ về cuộc đời, về số phận của mình.

– Người phụ nữ một mình trơ trọi giữa khoảng không, đang mong đợi thứ hạnh phúc nhỏ bé len lỏi trong tâm khảm.

=> Nỗi cô đơn, tủi hổ tràn ngập, bao vây quanh người con gái, dòng tâm trạng bẽ bàng, chán chường.

* Mượn rượu để quên đi tất thảy những khổ đau ngập tràn: “Chén rượu… chưa tròn”

– Rượu không thể làm quên đi nỗi sầu dằng dặc đang bủa vây tâm hồn người phụ nữ, càng uống càng tỉnh, càng tỉnh lại càng đau.

– Vầng trăng vô tình khuyết đi giống như hạnh phúc không trọn vẹn. 

=> Nỗi buồn khôn nguôi, càng ngập trong men rượu, nỗi buồn càng lan tỏa, cảnh vật càng mang vẻ sầu tư.

* Thái độ phản kháng, sự khát khao hạnh phúc gia đình mãnh liệt: “Xiên ngang mặt đất… đá mấy hòn”

– Thiên nhiên dù nhỏ bé, yếu ớt nhưng vẫn mạnh mẽ vươn lên, ngang tàn: “xiên ngang, đâm toạc” 

=> Nghệ thuật đảo ngữ + ẩn dụ: Thể hiện sự đấu tranh giành lấy hạnh phúc của người phụ nữ, không cam chịu, không khuất phục trước số phận. Họ luôn tràn ngập hi vọng, niềm tin về tương lai.

* Thực tại phũ phàng, cuộc đời bế tắc, chán nản: “Ngán nỗi… con con”

– Quy luật của tạo hóa: Xuân cứ thế tuần hoàn, vòng xoay của số phận cũng luân chuyển như vậy.

– Hạnh phúc dở dang, chật hẹp; duyên đôi lứa đã ít ỏi, nhỏ bé mà vẫn phải chia sớt cho người.

3. Kết bài

– Khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm.

– Nêu cảm nhận của bản thân về bài thơ. 

Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương – Mẫu số 2

Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

1. Mở bài

– Giới thiệu những nét khái quát về tác giả Hồ Xuân Hương (đặc điểm con người, cuộc đời, vị trí văn học sử, sự nghiệp sáng tác,…)
– Giới thiệu những nét khái quát về bài thơ “Tự tình” (xuất xứ, cảm hứng, đề tài, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật,…)

2. Thân bài

a. Nỗi cô đơn, trống vắng, bẽ bàng cho số phận mình của nhân vật trữ tình

– Đêm khuya” vừa là thời gian tả thực nhưng đồng thời cũng chính là thời gian nghệ thuật, là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ.

– “Hồng nhan” để chỉ người phụ nữ vẫn còn xuân sắc, xuân tình.

– Nghệ thuật đảo ngữ “trơ”: Đó vừa là sự phơi bày vẻ đẹp của người phụ nữ nhưng đồng thời đó còn chính là sự chai sạn khi phải khoe sắc đẹp của mình trước không gian rộng lớn.

– Nghệ thuật đối giữa “cái hồng nhan” với “nước non”, giữa cái nhỏ bé của con người với cái rộng lớn của không gian đã làm bật nổi sự cô đơn, trống vắng của nhân vật trữ tình.

b. Nỗi buồn, sự bế tắc, cay đắng, xót xa cho số phận.

– Uống rượu để quên đời, để quên đi nỗi cô đơn của bản thân nhưng không quên được, “say lại tỉnh”

– Vầng trăng: vừa là vầng trăng thực nhưng đồng thời đó cũng chính là vầng trăng của tình duyên, của hạnh phúc lứa đôi mà nhân vật trữ tình khao khát có được.

→ Nhân vật trữ tình cảm thấy buồn tủi, cay đắng, xót xa cho số phận mình khi tuổi xuân đã dần qua đi mà hạnh phúc, tình yêu vẫn còn dang dở, chưa vẹn tròn

c. Sự phẫn uất, phản kháng của nhân vật trữ tình trước  số phận.

– Nghệ thuật đảo ngữ kết hợp với các động từ mạnh “xiên ngang”, “đâm toạc”, tác giả đã vẽ nên trước mắt người đọc khung cảnh thiên nhiên như đang cố gắng cựa quậy bứt phá, không chịu đầu hàng trước số phận.

→ Sự phẫn uất, phản kháng của nhân vật trữ tình trước số phận. 

d. Sự ngán ngẩm, buông xuôi, bất lực trước số phận của nhân vật trữ tình.

– Hai chữ “xuân” được sử dụng độc đáo: Mùa xuân quay trở lại cũng có nghĩa đó là lúc tuổi xuân trôi đi, con người không thể nào níu giữ.

– Nghệ thuật tăng tiến: Mảnh tỉnh đã bé nay lại còn phải san sẻ để rồi chỉ còn lại “tí con con”.
→ Nỗi buồn, chán nản và bất lực buông xuôi của nhân vật trữ tình.

3. Kết bài

Khái quát những đặc điểm đặc sắc về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của bài thơ “Tự tình” và nêu cảm nghĩ của bản thân.

Bình giảng bài Tự tình của Hồ Xuân Hương – Bài mẫu  

     Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ có cái tôi vô cùng độc đáo của văn học trung đại Việt Nam. Bà đã để lại cho thế hệ mai sau nhiều tác phẩm đặc sắc, trong đó phải kể đến bài thơ Tự tình II.

     Xã hội xưa, con người thân phận nhỏ bé thường chịu nhiều bất công, đặc biệt là người phụ nữ. Họ phải cúi mình nhún nhường trước những hủ tục, những quan niệm lạc hậu để rồi bị vùi dập trong kiếp sống bấp bênh, nổi trôi vô định, chịu nỗi đau về thể xác, bị giày vò về tình thần. Trong họ, sự cô đơn, tủi phận luôn bủa vây, song sâu thẳm nơi đáy lòng, họ vẫn ngời lên những vẻ đẹp đáng trân trọng. Bài thơ Tự tình là lời tâm sự  với những nỗi buồn và khát khao, là tiếng lòng của bao người phụ nữ trong xã hội đương thời.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

     Khi màn đêm buông xuống, bóng tối ùa về bất chợt là lúc lòng người dễ chìm trong mớ cảm xúc hỗn độn nhất. Lúc này đây, nhân vật trữ tình cũng như thế, “đêm khuya” – khoảnh khắc của nỗi buồn, của sự cô đơn chiếm chỗ. Tiếng trống canh dồn càng làm cho sự tĩnh mịch, vắng lặng của đêm tối thêm thấm đượm

     Những bài văn Bình giảng bài Tự tình của Hồ Xuân Hương tuyển chọn

     Giữa tiếng trống canh lòng người càng khắc khoải, phận hồng nhan “trơ” giữa cuộc đời, nỗi chơ vơ tột cùng, trống trải đến khôn nguôi. 

      Nỗi buồn có thể được chia sẻ nếu có một ai đồng cảm cùng mình, chịu nghe mình giãi bày, chịu lắng nghe những tổn thương, khổ đau của mình. Nhưng ở đây, nhân vật trữ tình lại chỉ một mình đơn độc, không có lấy một ai san sẻ, đành lấy rượu làm tri kỉ, tìm đến rượu để quên hết những muộn phiền:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

     Men rượu có thể làm người say, quên đi tức thời nhưng rồi khi tỉnh nỗi đau vẫn còn đó, chẳng thể vơi, cuối cùng, sự cô đơn vẫn cứ bám víu lấy thân phận bé nhỏ. Kiếp hẩm hiu  của người phụ nữ như vầng trăng khuyết, dù bóng đã xế mà chẳng thể “tròn”, chẳng thể trọn vẹn một mối tình chung thủy, sắt son. Duyên phận lỡ làng, cuộc đời trái ngang, còn gì đau khổ hơn như thế, số phận cứ như trêu ngươi người phụ nữ vậy.

     Nhưng dù rằng có khó khăn, dù rằng bao tồi tệ xảy đến thì người phụ nữ vẫn không hề từ bỏ. Sâu thẳm, họ vẫn mang trong mình sức sống kiên cường, mạnh mẽ để vượt thoát khỏi những cơ cực đang chịu đựng từng ngày hay chí ít cũng để vơi đi những tù túng, chán chường.

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

     Những đám rêu nhỏ bé kia cũng dũng cảm “xiên ngang” cả mặt đất để vươn mình đón lấy ánh sáng mặt trời. Những hòn đá nhỏ nhoi cũng “đâm toạc” cả trời mây để nhận lấy tự do. Tất cả những hình ảnh của sự vật thiên nhiên ấy chính là hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ với sức sống phi thường, mạnh mẽ. Dù cho những bất công, đau khổ có vùi dập họ từng ngày thì họ vẫn gắng gượng để vượt thoát với ước mơ tự do, hạnh phúc và bình yên. 

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

     Xuân của tạo hoá, đi rồi đến, vòng tuần hoàn của vũ trụ chẳng thể đổi thay. Thời gian thì trôi đi nhưng có những điều chẳng thể nào thay đổi. Chữ “Ngán” đặt đầu câu càng diễn tả sự chán chường của nhân vật trữ tình, tuổi xuân cứ ngày một thêm vậy mà mong cầu một cuộc tình trọn vẹn cũng chẳng thể có. Thanh xuân để chờ đợi một hạnh phúc đúng nghĩa cũng chẳng chạm tới, đến  “mảnh tình” – mối tình mỏng manh, nhỏ nhoi, ít ỏi cũng phải san sẻ cho người. Như thế, sao không thể ngán ngẩm, sao không khỏi chán chường, sao không thể không cô đơn cho được. 

     Quan niệm phong kiến xưa: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chuyên chính một chồng” đã khiến cho bao người phụ nữ phải ngập chìm trong khổ đau, gặm nhấm nỗi cô đơn từng ngày, từng giờ, từng đêm vắng. Là người phụ nữ sống trong xã hội lúc bấy giờ, cũng chịu chung cảnh ngộ như thế mà Hồ Xuân Hương đã viết nên bài thơ nói lòng mình mà cũng nói hộ lòng người. Bài thơ khiến ta không khỏi xót xa, thương cảm cho kiếp sống mong cầu hạnh phúc mòn mỏi và chịu đựng khổ đau của bao phụ nữ xưa. Đồng thời, càng căm phẫn một xã hội bất công vùi dập tự do, hạnh phúc của con người.

     Bài thơ Tự tình II có nỗi buồn, có cô đơn đấy nhưng bên trong mỗi lời thơ đều chất chứa một sức sống mãnh liệt của một tâm hồn khao khát hạnh phúc, một tấm lòng khát khao tự do và thiết tha với cuộc đời. Tác phẩm đã chạm đến người đọc bởi những cảm xúc chân thực từ lối viết của một trái tim giàu yêu thương.

—/—

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Dàn ý bình giảng bài Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương tiêu biểu được Wikichiase tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *