Cảm nhận về nhân vật Tràng trong bài Vợ Nhặt – Văn mẫu 12 hay nhất

Hướng dẫn Cảm nhận về nhân vật Tràng trong bài Vợ Nhặt ngắn gọn nhất. Tuyển tập các bài văn Cảm nhận nhân vật Tràng bài Vợ Nhặt hay nhất

Giới thiệu về tác giả Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt

Với truyện ngắn Làng nói riêng hay những tác phẩm văn học khác nói chung, để thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật cũng như nội dung mà nhà văn muốn truyền tải, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả và tác phẩm. Trước khi cảm nhận về nhân vật Tràng thì chúng ta hãy tìm hiểu về tác giả, tác phẩm nhé

Đôi nét về nhà văn Kim Lân

Kim Lân sinh năm 1920, mất năm 2007. Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở Bắc Ninh. Năm 1944, Kim Lân tham gia hội văn hóa cứu quốc, sau đó ông lại liên tục hoạt động văn nghệ để phục vụ kháng chiến.

Kim Lân tuy không sáng tác nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông đều để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc, ghi dấu ấn trên văn đàn. Trước cách mạng tháng tám, Kim Lân chủ yếu viết về cuộc sống hiện tại tiêu điều ảm đạm của nông thôn Việt Nam nhưng đồng thời ông cũng tái hiện lại những nét sinh hoạt văn hóa phong phú. Từ đó, ông thể hiện vẻ đẹp nội tâm của người nông dân trước cách mạng tuy sống trong đói khổ nhưng vẫn yêu đời vẫn giữ được vẻ đẹp của mình.

Sáng tác của Kim Lân trong giai đoạn này có thể kể đến Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Đôi chim thành, Con mã nhái, Chó săn,… Sau cách mạng tháng tám, ông tiếp tục làm báo viết văn. Tác phẩm phải kể đến trong giai đoạn này là các tập truyện ngắn Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962). Năm 2001, ông được nhận giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Tìm hiểu về truyện ngắn Vợ nhặt

Truyện ngắn Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí (1962). Tác phẩm này có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công. Tiểu thuyết Xóm ngụ cư lấy bối cảnh nạn đói 1945 nhưng sau đó bị lạc mất bản thảo. Năm 1954, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết nên tác phẩm hoàn chỉnh như hiện tại.

Trong quá trình cảm nhận về nhân vật Tràng, ta thấy ngay từ nhan đề “Vợ nhặt”, tác giả đã gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Bởi lẽ, cưới vợ vốn là một việc trọng đại trong đời người, được tiến hành một cách thận trọng trang nghiêm. Đối lứa đến với nhau thường thông qua một quá trình tìm hiểu kỹ càng hay có sự mai mối. Thế mà, ở đây lại là nhặt vợ.

Nhặt thường gợi ra việc vô tình nhặt được một cách dễ dàng, thường là những thứ nhỏ nhoi không có giá trị. Có ai có thể tưởng tượng được vợ cũng có thể nhặt được như nhặt rơm nhặt rác bên đường. Nhan đề “Vợ nhặt” đã phần nào nói lên thân phận rẻ rúng bèo bọt của người phụ nữ trong hoàn cảnh xã hội đương thời – nạn đói 1945.

Truyện kể về một gia đình nghèo trong nạn đói 1945. Tràng là một thanh niên chưa vợ, sống cùng mẹ ở xóm ngụ cư. Trong lúc cái đói đang diễn ra, thì Tràng lại dắt thêm một người phụ nữ về nhà làm vợ. Trước tình cảnh ấy, không chỉ người dân xóm ngụ cư mà cả mẹ Tràng là bà cụ Tứ cũng rất ngạc nhiên. Nhưng cuối cùng với tấm lòng cảm thông sâu sắc, mẹ Tràng đã đồng ý. Và họ bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới với niềm tin hy vọng về tương lai.

Dàn ý Cảm nhận về nhân vật Tràng trong bài vợ Nhặt

Mở bài

– Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn chuyên nghiệp, ông tập trung viết về cảnh nông thôn, hình tượng người nông dân lao động.

– Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân trong nạn đói năm 1945, nhân vật Tràng là hình tượng đại diện cho số phận của những người nông dân giai đoạn này.

Thân bài

Hoàn cảnh

– Hoàn cảnh gia đình: dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, mẹ già, nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh, …

– Hoàn cảnh bản thân: xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về, …

Tâm trạng và hành động

Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ

– Lần gặp 1: lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.

– Lần gặp 2:

+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì. Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.

+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.

+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ: diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.

Trên đường về:

+ Vẻ mặt “có cái gì phơn khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”. Đó là tâm trạng hạnh phúc, hãnh diễn.

+ Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.

Khi về đến nhà:

+ Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.

+ Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vi gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.

+ Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. Đây là biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.

+ Khi bà cụ Tứ về: thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.

Sáng hôm sau khi tỉnh dậy:

+ Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo, …), Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.

+ Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới.

– Nhận xét: Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.

III. Kết bài

– Nêu suy nghĩ về nhân vật Tràng.

– Khái quát giá trị nghệ thuật xây dựng nhân vật: đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách; miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, gần gũi.

– Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, phản ánh chân thực tình cảnh người nông dân trong nạn đói, mặt khác cũng phản ánh bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của họ.

 Cảm nhận về nhân vật Tràng trong bài Vợ Nhặt

Cảm nhận về nhân vật Tràng trong bài Vợ Nhặt | Văn mẫu 12 hay nhất

     Nhà văn Nga I.Bônđarep từng có ý tưởng rằng “Nghệ thuật sinh ra từ những thái cực và xung đột”. Ý kiến này quả đúng khi bàn về truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân. Với tác  phẩm Vợ Nhặt nhà văn đã làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sinh động về hiện thực thê thảm ấy và lạ thay, giữa khoảng trống lay lắt,tối tăm của cuộc sống đói nghèo nhà văn đã cho ta thấy được tấm lòng của  những con người đói khổ dù đang bị cái đói, cái chết rình rập nhưng họ vẫn cưu mang, đùm bọc, yêu thương và san sẻ, cùng hướng về sự sống, về hạnh phúc và tương lai. Nó được thể hiện như thế nào qua hình tượng nhân vật Tràng?

     Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân viết không lâu sau nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nhà văn đã tái hiện lại thời khắc lịch sử ghê rợn thê lương, nó hòa nhập giữa cõi âm và cõi trần , giữa sự sống và cái chết , giữa người và ma. Tất cả hình ảnh, âm thanh, con người hiện lên đều rất chân thực, không một chút cường điệu. Qua truyện ngắn, người đọc mang đầy đủ những xúc cảm vừa độc đáo, éo le lại đầy cảm động và tin yêu. Đi sâu vào nhân vật Tràng ta sẽ thấy tất cả hiện thực và nhân đạo mà tác giả gửi gắm.

       Nhắc đến Tràng là nhắc đến nhân vật được hóa công đẽo gọt quá sơ sài.  Tràng- nhân vật chính của truyện được Kim Lân cho xuất hiện trên nền của cái đói với bóng người “xanh xám như những bóng ma”, người sống “nằm ngổn ngang khắp lều chợ”. Tràng có cái tên đặc biệt, một thứ đồ của thợ mộc- cái tràng. Anh được ngòi bút Kim Lân vẽ sơ sài với “hai con mắt gà gà, nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, mặt thì thô kệch, thân  hình “vập vạp”. Không những vậy đến nơi ở của anh thì cành dong rấp cổng, tấm phên rách che nhà, mảnh vườn lổn nhổn là cỏ dại. Hơn hết, Tràng lại là dân ngụ cư, một loại người mà lúc bấy giờ bị ruồng bỏ như một thứ cỏ rác của hương thôn. Rõ ràng, trong hoàn cảnh ấy Tràng chỉ có thể cùng mẹ già nương tựa nhau qua nạn đói mà khó có thể lấy một cô vợ.

      Mang ngoại hình thô kệch, xấu xí nhưng Tràng có trái tim nhân hậu, phóng khoáng. Bản thân dù đói nhưng không ngần ngại bỏ tiền mời người đàn bà hai bát bánh đúc. Anh vui vẻ đưa ba câu hò trêu chọc mà cô Thị sẵn sàng theo về làm vợ. Tràng có vợ, như một anh chàng tốt số đào hoa, chỉ buông đôi lời tán tỉnh mà đã có cô nàng vội vã theo không. Giữa cảnh trời đất tối sầm vì đói khát, những ngày nghèo đói, hai thân phận bọt bèo đã dạt đến với nhau vì khát vọng hạnh phúc lứa đôi, vì mong hơi ấm gia đình. Dẫn người vợ nhặt về nhà, Tràng ngổn ngang những suy nghĩ thời buổi này còn đèo bòng, không biết nuôi nổi không rồi lại tặc lưỡi cho qua và gương mặt hiện rõ niềm vui. Trong tác phẩm, hơn một lần nhà văn nói về hạnh phúc, nụ cười của Tràng từ e lệ cười tủm tỉm đến bật cười đầy thỏa mãn, khi thì hai mắt sáng lên lấp lánh, có lúc mặt vênh lên tự đắc với mình. Dường như anh quên hết cảnh sống ê chề hàng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang rình rập.

      Từ khi có vợ, Tràng nhận ra trách nhiệm của bản thân với gia đình. Anh biết chăm lo cho đêm tân hôn có chút dầu đèn cho sáng sủa để hạnh phúc không tối xùm trong hoàn cảnh bi đát. Ta thấy Tràng hết sức trân trọng hạnh phúc của mình. Đặc biệt trong buổi sáng đầu tiên khi đã nên vợ nên chồng, nhìn người vợ mới quét dọn sân nhà, Tràng cảm thấy ngập tràn niềm yêu thương và thấy bản thân như “lớn hẳn”, cũng như trách nhiệm cùng lớn dần lên.  

      Trong bữa cơm đầu tiên, Tràng nghe chuyện vui mẹ kể về tương lai,  biết được việc nhân dân phá kho thóc Nhật và khi ấy hình ảnh lá cờ đỏ bỗng phấp phới trong óc Tràng. Đây không phải một ước mơ viển vông, một ảo tưởng cổ tích mà nó cơ sở hiện thực, chính nhà văn đã nhìn thấy mà mở ra cho nhân vật của mình một hướng đi. Rõ ràng, Tràng đã có được hạnh phúc gia đình, có hơi ấm của tình thương. Qủa đúng, dù trong túng đói tột cùng thì tình cảm vẫn quý hơn manh áo nó khiến con người được sống là chính mình, được nên người.

       Tràng cũng chính là chân dung của những người lao động sống trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Họ nghèo mà không hèn, nghèo bạc chứ không  nghèo tình. Họ luôn sống với nhau bằng chữ “tình”, bằng chân thành, bằng yêu thương, san sẻ và đùm bọc. Con người là biểu trưng của hy vọng, lạc quan, hướng về ánh sáng, nhìn đến tương lai và tin tưởng tuyệt đối vào Cách mạng.

Các bài viết liên quan:

  • Soạn bài: Vợ nhặt (Hay nhất)
  • Soạn bài: Vợ nhặt (ngắn nhất)

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *