Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu – Văn mẫu 12 hay nhất

Tham khảo Dàn ý cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu, tổng hợp đầy đủ dàn ý chung và những bài văn cảm nhận ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các bài văn mẫu sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm, cùng tham khảo nhé!

Dàn ý cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu

Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu (ngắn gọn, hay nhất)

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác phẩm và tác giả Chế Lan Viên

– Giới thiệu về khổ thơ thứ năm trong tác phẩm Tác hát con tàu.

2. Thân bài

– Khổ 5 là niềm hạnh phúc khi nhân vật trữ tình được trở lại với nhân dân.

– Phân tích:

+ Chế Lan Viên đã đặt ở đầu khổ thơ này một tiền giả định, ông dùng hai từ “gặp lại”: xác định mối quan hệ của nhân vật trữ tình với nhân dân, thể hiện những tình cảm gần gũi, yêu thương.

+ Nhà thơ xưng là “con” với nhân dân: Bởi ông tự nhận mình là đứa con được “mẹ” nhân dân nuôi lớn, gắn bó máu thịt với nhân dân bằng mối quan hệ khăng khít.

=> Mối quan hệ này, tình cảm này tượng trưng cho những người con của Cách mạng, sau chiến đấu được trở về trong vòng tay của nhân dân. Niềm cảm xúc trào dâng bởi trong suốt những năm tháng khó khăn, họ đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi.

+ Những câu thơ tiếp theo là liên tiếp những hình ảnh so sánh, thể hiện sự gắn bó, khăng khít giữa đứa con Cách mạng và Nhân dân.

+ Hình ảnh “nai về suối cũ”: chú nai hoang được trở về với con suối thân thương, đã từng cho mình dòng nước mát lành.

+ “cỏ đón …mùa”: diễn tả sự sinh sôi của vạn vật trong mùa xuân, với niềm vui trào dâng trong lòng, hình ảnh “đứa trẻ …sữa, chiếc nôi …đưa”: gợi lên hình ảnh của đứa con thơ trong vòng tay mẹ hiền, được chăm sóc, yêu thương.
=> Tất cả những hình ảnh ấy đều gợi lên một sự gắn bó, hòa hợp tuyệt đối giữa nhân vật trữ tình và nhân dân. Sự gắn bó ấy thân thiết như con cái với cha mẹ, không thể chia cắt, tách biệt.

3. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu – Bài mẫu 1

Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

     Sau những năm tháng chiến tranh, đất nước ta bước vào công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, một trong những phong trào đó là đi thực tế, đi sản xuất tại những vùng cao để cùng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong những năm tháng đó, có rất nhiều tác phẩm ra đời để cổ vũ tinh thần không ngại gian khổ của con người khi tiến lên những vùng xa xôi nhất của Tổ quốc để dựng xây cuộc sống mới. Một trong số đó là tác phẩm Tiếng hát con tàu của nhà thơ Chế Lan Viên. Bài thơ là bài ca vui tươi, phấn khởi, cổ vũ tinh thần con người, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng thủy chung son sắt của những con người cách mạng khi trở lại với nhân dân. Và  điều đó đã được thể hiện rất rõ ở khổ thơ thứ năm trong bài thơ Tiếng hát con tàu:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

     Nếu như cả bài thơ hàm chứa những lời động viên tinh thần to lớn, cổ vũ những con người lên đường đi xây dựng Tổ quốc ấm no thì khổ thơ thứ năm lại chứa đựng một niềm hạnh phúc dạt dào, sâu sắc khi nhà thơ – người con Cách mạng được gặp lại nhân dân của mình. Chế Lan Viên đã đặt ở đây một tiền giả định “gặp lại”. Điều đó có nghĩa là ông và nhân dân đã từng có một mối quan hệ khăng khít và giờ đây, nhân vật trữ tình được trở lại, được “gặp lại” nhân dân, gặp lại những người thân của mình. Ở câu thơ này, đọc lên, người ta thấy được một sự gần gũi, thân thiết đến lạ lùng, phải chăng họ – nhân vật trữ tình và nhân dân đã từng chung sống gắn bó vô cùng mới có thể có được cảm giác như thế? Chế Lan Viên còn xưng “con” với nhân dân bởi ông tự nhận mình là đứa con xa lâu ngày được gặp lại “mẹ’ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân bằng tình cảm sâu sắc. Như Tố Hữu cũng đã từng viết trong bài Việt Bắc:

“Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

     Ở đây, Chế Lan Viên đang viết về những con người đi xây dựng chủ nghĩa xã hội trên núi rừng Tây Bắc – một trong những nơi khởi đầu cho những phong trào Cách mạng, nơi nhân dân đã hết lòng bao bọc, nuôi sống bộ đội và chiến sĩ cho kháng chiến. Tình cảm đó được hình thành, được bồi đắp suốt khoảng thời gian khó khăn nhất, có lẽ vì thế, khi gặp lại nhau, những đứa con ngày xưa không khỏi xúc động nghẹn ngào. Bởi suốt trong những năm tháng trường kì kháng chiến gian khổ, họ đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, vậy nên, “gặp lại” sao lại không thể vui mừng được cơ chứ ?

     Tình cảm sâu sắc là thế, có sự so sánh nào là đủ, vậy nên một loạt những câu thơ tiếp theo, Chế Lan Viên dã mượn những hình ảnh so sánh thật gần gũi để thể hiện sự gắn bó khăng khít của đứa con Cách mạng với nhân dân.

     Ông nói gặp lại nhân dân “như nai về suối cũ “. Đây là một hình ảnh thơ hết sức đặc sắc, khi chú nai hoang được trở về với suối nguồn, nơi đã từng nuôi dưỡng nguồn sống của chú, nơi cho chú dòng nước mát lành. Ông cũng so sánh việc gặp gỡ ấy như “cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa”. Hai hình ảnh cỏ và chim én là hai biểu tượng của mùa xuân, gợi lên trong lòng ta sự tươi mát, sự đâm chồi nảy lộc của cây lá. Còn những những cánh én kia trở về từ phương Nam sau một mùa đông lạnh lẽo, để giờ đây cất tiếng hót vui mừng chào đón mùa xuân. Hai hình ảnh này đều gợi lên một niềm vui phơi phới trào dâng trong lòng nhân vật trữ tình, dùng nó để gợi tả lên không khí ấm áp, vui tươi của người con Cách mạng khi được gặp lại nhân dân mà mình yêu quý.

     Với mỗi chúng ta, mẹ là người yêu thương, chăm lo cho ta nhất, dòng sữa ngọt mát lành của mẹ đã nuôi lớn ta từng ngày. Và Chế Lan Viên đã dùng hình ảnh ấy để khẳng định mối quan hệ, tình yêu thương giữa nhân vật trữ tình và nhân dân :

“Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

     Hình ảnh người mẹ hiền ở đây được ví như nhân dân, bởi trong những năm tháng còn gian khổ, nhân dân là người đã bao bọc, đã chở che cho những đứa con Cách mạng. Nhân dân chính là người mẹ thứ hai đã sinh ra họ, chăm lo và bảo vệ cho họ.

     Tất cả những hình ảnh được nhà thơ sử dụng ở trên đều là những cặp hình ảnh đi liền với nhau “nai- suối, cỏ – giêng hai, chim én – mùa xuân, đứa trẻ – dòng sữa, chiếc nôi – cánh tay đưa”. Đó là bởi ông muốn dùng nó để khẳng định sự gắn bó, hài hòa tuyệt đối giữa nhân vật trữ tình và nhân dân, giữa người con Cách mạng với nhân dân của mình. Tình cảm ấy tưởng như là máu thịt, như mẹ với con, không thể chia rời, tách biệt.

     Hơn thế nữa, trong mỗi lời thơ, chúng ta còn cảm nhận được cái rưng rưng đầy xúc động của Chế Lan Viên, đó là thứ tình cảm biết ơn sâu sắc của nhân vật trữ tình gửi gắm tới nhân dân. Hình ảnh nhân dân thật lớn lao, thật cao cả và bao dung như tấm lòng người mẹ.

     Nếu như các nhà thơ khác khi sử dụng biện pháp so sánh thường chỉ so sánh một với một, ví dụ như :

“Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng”

     Thì ở đây, Chế Lan Viên đã phá cách khi so sánh sự gặp gỡ trở lại với nhân dân với năm hình ảnh khác. Điều này chứng tỏ một sự độc đáo trong phong cách sáng tác của ông, đồng thời cũng khẳng định sự mừng rỡ, đầy sung sướng của nhân vật trữ tình. Tình cảm ấy cực kì mênh mang và sâu sắc !

     Chỉ bằng một khổ thơ thế nhưng nhà thơ đã tạo nên những ấn tượng sâu sắc, tác động trực tiếp lên tình cảm của người đọc. Nó ghi lại một dấu ấn khó phai về phong cách thơ với những hình tượng độc đáo của nhà thơ Chế Lan Viên

     Một khổ thơ ngắn nhưng lại chứa chan biết bao tình cảm sâu nặng của nhân vật trữ tình đối với nhân dân. Đồng thời nó khẳng định phong cách thơ sáng tạo của Chế Lan Viên. Cùng với các khổ thơ khác trong bài thơ Tiếng hát con tàu đã tạo dựng lên một bức tranh con người Việt Nam trong thời kì xây dựng đất nước với bao tình cảm gắn bó, nồng đượm, yêu thương giữa con người với con người, tình quân dân thắm thiết.

Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu – Bài mẫu 2

     Tiếng hát con tàu là một trong nhiều bài thơ hay của nhà thơ Chế Lan Viên. Ra đời vào những năm đất nước đang hồ hởi xây dựng xã hội chủ nghĩa, tiếng hát con tàu là tiếng thơ, là giai điệu cổ vũ những con người Việt Nam không quản ngại khó khăn gian khổ lên đường đến với những miền đất xa xôi của tổ quốc để xây dựng một cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Bài thơ cũng thể hiện tấm lòng ân tình thủy chung của những người con cách mạng khi về với nhân dân. Tình cảm thiêng liêng đó được thể hiện thành công trong khổ thơ:

Con gặp lai nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

     Khổ thơ hàm chứa một tiền giả định. Khi nhà thơ viết “Con gặp lai nhân dân…” tức là giữa nhân vật chữ tình và nhân dân vốn đã có một mối quan hệ nhất định. Phải là những người đã gặp nhau đã sống cùng nhau thì mới có thể diễn tả như vậy.

     Đại từ xưng hô “Con” với nhân dân đã xác định được tính chất, mức độ của mối quan hệ đó. Vậy là với nhân dân, nhân vật trữ tình có một quan hệ khăng khít, máu thịt. Họ đã từng có những ngày tháng gắn bó yêu thương, đã từng chia ngọt sẻ bùi. Khổ thơ của Chế Lan Viên gợi nhắc những câu thơ ân tình thủy chung của nhà thơ Tố Hữu trong bài Việt Bắc khi nhà thơ và những người kháng chiến chia tay với những người dân chiến khu Việt Bắc yêu thương:

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.

     Bằng việc sử dụng đại từ xưng hô này, nhà thơ đã thể hiện một tình cảm vui mừng, phấn khởi khi được gặp lại nhân dân. Nó gợi dậy trong tình cảm của người đọc những hình ảnh, những, ấn tượng của một con người đi xa lâu ngày được gặp lai những người đã sinh ra mình, đã từng nuôi nấng, chăm sóc mình trên mảnh đất quê hương, trong mái nhà thân thuộc. Bởi thế, nhà thơ Chế Lan Viên đã đánh thức dậy trong tiềm thức, trong tình cảm của người đọc biết bao tình cảm ấm áp, gần gũi.

     Ở những câu thơ sau, để thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó với nhân dân, nhà thơ đã sử dụng một loạt hình ảnh so sánh thật độc đáo, nhưng cũng thật bình dị và thân thuộc. Việc nhân vật trữ tình gặp lại nhân dân được ví với:

Cỏ đón giêng hai

Chim én gặp mùa

Trẻ thơ đói lòng gặp sữa.

Nôi ngừng gặp cánh tay đưa

     Giêng hai với tiết trời ấm áp của mùa xuân mang lại sức sống, sự đâm chồi nảy lộc cho cây cỏ; chim én vượt qua cả mùa đông giá lạnh đã đến ngày được gặp lại mùa xuân để chao liệng, tung cánh giữa bầu trời tự do; và hình ảnh của trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa, tất cả đã góp phần hội tụ một ý nghĩa, đó là sự gắn bó không thể chia tách, sự hòa hợp tuyệt đối giữa nhân vật trữ tình và nhân dân.

     Những hình ảnh so sánh ấy còn biểu hiện một sắc thái tình cảm khác, đó là lòng biết ơn, sự trân trọng của nhân vật trữ tình đối với nhân dân. Qua cách biểu hiện của Chế Lan Viên, hình ảnh nhân dân thật lớn lao, cao cả.

     Việc các nhà thơ sử dụng bút pháp so sánh để biểu hiện cảm xúc là một việc quen thuộc. Song trong cái quen thuộc đó, cách ví von, so sánh của Chế Lan Viên ở đây vẫn hàm chứa một sự độc đáo. Thông thường các nhà thơ so sánh theo mô hình đôi chiếu 1-1. Tức là một cái được 80 sánh thì tương ứng với một Gái dùng để so sánh, theo kiểu;

… Con mắt em sắc như là dao cau

Miệng cười như thể hoa ngâu

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen

                 (Ca dao)

     Song ở đây, cái được so sánh chỉ có một mà cái dùng để so sánh thì tới bốn. Nhà thơ đã mượn đến bốn hình ảnh để thể hiện tình cảm của mình khi gặp lại nhân dân. Vậy mà dường như người đọc vẫn có cảm giác nhà thơ chưa thực thỏa mãn với sự biểu hiện đó. Nhân vật trữ tình như muốn nói nhiều hơn nữa về sự gắn bó của mình đối với nhân dân. Bởi thế, có thể nổi sự đặc biệt trong việc sử dụng bút pháp so sánh ở đây cho thấy một tình cảm thương yêu mênh mang, sâu lắng.

     Với việc sử dụng bút pháp so sánh đầy tính sáng tạo như vậy một mặt dã tạo nên tính hình tượng, tính biểu cảm mạnh mẽ, mặt khác tạo nên tính trí tuệ cho khổ thơ. Cảm xúc mà khổ thơ biểu hiện nhờ vậy mà tác động mạnh tới nhận thức lí trí và tình cảm của người đọc.

     Khổ thơ ngắn song nó thể hiện nhiều nét độc đáo trong phong cách thơ của Chế Lan Viên. Cùng với những khổ thơ khác, khổ thơ này đã góp phần thể hiện, nâng niu và vun đắp những tình cảm đẹp. Chế Lan Viên đã nói giùm tiếng lòng của bao người Việt Nam sống trong thời kì ấy và truyền đến thế hệ sau một bức thông điệp về sự gắn bó, tình yêu thương và lòng nhân ái.

Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu – Bài mẫu 3

     Mỗi chúng ta ai cũng từng một lần được nếm trái những phút giây cay đắng, buồn tủi cũng như những phút giây hạnh phúc. Có những lúc niềm hạnh phúc lên tới tột đỉnh, tưởng chúng ta có thể tan biến đi trong niềm vui bất tận đó. Chế Lan Viên – một nhà thơ của dân tộc – cũng đã một lần có những phút giây thiêng liêng, quý giá như thế. Đó là khi ông trở về với nhân dân, tìm được lẽ sống cho cuộc đời mình, ông đã ghi lại sự kiện đó bằng những vần thơ thật xúc động:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giềng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

                                    (Tiếng hát con tàu)

     Một tiếng “con” thật nhỏ nhoi trước một tập thể vô cùng to lớn, đó là “nhân dân”. Chế Lan Viên xưng “con” vì ông cảm thấy mình thật bé bỏng trước đồng bào. Cách xưng hô đó cũng chứa đựng bao nhiêu niềm yêu mến thân thương của tác giả. Đứng trước nhân dân, tác giả thấy mình bé bỏng nhưng không lẻ loi vì nhân dân vẫn luôn dang rộng vòng tay đón ông như đón một người contrở về với đại gia đình thân thương của mình. Thật khó để diễn tả được niềm vui sướng của Chế Lan Viên lúc đó. Ông thấy mình như con nai về với suối cũ, như cỏ đón tháng giêng tháng hai, như đứa trẻ đang đói lòng bỗng gặp bầu sữa mẹ, như chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Một loạt các hình ảnh so sánh đều tập trung vào hai đối tượng: tác giả là con nai, là cỏ, là chim én, là đứa trẻ đói lòng, là chiếc nôi ngừng và nhân dân là suối cũ, là tháng giêng hai, là bầu sữa mẹ, là cánh tay đưa nôi. Ta đọc được trong những hình ảnh đó một niềm vui vô bờ. Còn gì sung sướng hơn khi con nai được về bên con suối mà nó đã từng uống nước ở đó bao nhiêu năm dài. Nó có thể sẽ ngơ ngác trước con suối đã quen mà thành lạ, nó có thể có một thoáng bâng khuâng nghĩ về quá khứ, nhưng giây phút đó sẽ qua mau để nhường lại cho niềm hạnh phúc. Con nai đó lại trở về với nhịp sống quen thuộc của mình, bên con suối thân thương. Và cũng còn gì sung sướng hơn khi cỏ gặp tháng giêng tháng hai, nó như được tiếp thêm nhựa sống trong những làn mưa bụi ngọt ngào, ướt lạnh để mơn mởn đâm chồi. Con chim én bay đi suốt mùa đông tránh rét, nó vui sướng khi lại được gặp mùa xuân, được chao liệng trên bầu trời ấm áp giờ đây như chỉ dành riêng cho nó. Ta cũng hình dung ra được cảnh một đứa trẻ đói lòng vồ vập nhận lấy dòng sữa ngọt ngào của người mẹ; một chiếc nôi ngừng đưa bỗng gặp một cánh tay dịu dàng đưa đẩy biết bao bỡ ngỡ mà cũng biết bao thân thương. Chế Lan Viên cũng vậy, ông cũng thấy thật mới mẻ, ngỡ ngàng trong những điều tưởng chừng đã quen thuộc. Ta hiểu rằng sự trở về của Chế Lan Viên là sự trở về của tinh thần, ông đã tìm được cho mình một chân lí, đó là đi theo tiếng nói chung của đồng bào, của dân tộc.

     Đọc đoạn thơ, ta như thấy tác giả nghẹn ngào, rưng rưng lệ. Nhưng đó là sự xúc động vì niềm vui tìm được lẽ sống đích thực của cuộc đời mình. Không còn đâu nữa bóng dáng của một thi sĩ lãng mạn than khóc trước tháp Chàm đổ nát, trước những bức tượng vũ nữ apsara hoen ố rêu phong. Mùa xuân đến với Chế Lan Viên giờ đây không phải là mùa xuân của khổ đau, sầu não nữa mà là mùa xuân tươi vui, đầy sức sống. Giờ đây người thi sĩ ấy đã đến với ánh sáng của cách mạng, cùng vững bước trên con đường dân tộc đang đi. Đó là sự trở về kịp thời nhất. Ta có cảm giác nếu như không có giây phút ấy Chế Lan Viên sẽ day dứt, tiếc nuối suốt cuộc đời còn lại của mình.

     Đoạn thơ có âm điệu tươi vui, trẻ trung nhưng vẫn có một thoáng ân hận cửa người con lầm lạc trở về với người mẹ Nhân dân đầy nhân ái, bao dung. Tâm trạng đó của nhà thơ Chế Lan Viên cũng là tâm trạng chung của các nhà thơ lãng mạn bấy giờ khi họ tìm đến với chân lí cách mạng. Đó là những giây phút trọng đại, đánh dấu bước thay đổi lớn trong cuộc đời các thi sĩ và cũng là những giây phút lịch sử khi dân tộc dang rộng vòng tay đón nhận sự trở về của những đứa con đã từng đi lầm đường. Hiểu được điều đó, ta càng cảm thông và trân trọng hơn những vần thơ như thế.

—/—

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Cảm nhận khổ thơ thứ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu tiêu biểu được Wikichiase tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *