Cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” – Văn mẫu 12 hay nhất

Hướng dẫn lập dàn ý Cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” hay nhất.Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý chi tiết cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

I. Mở bài

+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm

+ Giới thiệu đoạn trích: thuộc phần hai của bài thơ, là hồi ức của Quang Dũng về những đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

Cảm nhận khổ thơ sau:

II. Thân bài

Luận điểm 1: Cảm nhận khái quát về đoạn thơ

   Ở đoạn thơ trước, tác giả Quang Dũng có những nét vẽ về miền Tây xa xôi với những nét vẽ đậm vẻ hoang sơ, bí hiểm thì ở đoạn thơ này, thiên nhiên và con người như mang vẻ đẹp của một thế giới khác. Hình ảnh thiên nhiên con người Tây Bắc được khắc hoạ trong đoạn thơ bằng những nét vẽ mềm mài, uyển chuyển, tài hoa tinh tế, thấm đẫm chất thơ, chất nhạc, chất hào hoa, lãng mạn của một thi sĩ đa tài.

Luận điểm 2: Cảnh liên hoan đêm lửa trại – những kỉ niệm đẹp về tình quân dân

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng em ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

   Câu thơ mở đầu như một tiếng reo vui. Với nét vẽ khoẻ khoắn, mê say, Quang Dũng dẫn người đọc vào một đêm liên hoan văn nghệ đầy hấp dẫn nơi xứ lạ. Đêm liên hoan trở thành đêm hội tưng bừng với hình ảnh đuốc hoa rực rỡ gợi những liên tưởng thi vị, tình tứ, mang đến niềm vui rạo rực, náo nức lòng người. Cụm từ bừng lên như nốt nhất tươi sáng cho cả câu thơ, đó là ấn tượng về ánh sáng chói lòa, đột ngột của lửa, của đuốc làm ấm nóng cả núi rừng, là ấn tượng về những ánh mắt ngỡ ngàng, những gương mặt bừng sáng của người lính, của những cô gái miền Tây.

   Hình ảnh trung tâm của đêm hội là đuốc hoa là những thiếu nữ miên sơn cước: Kìa em xiêm áo tự bao giờ. Câu thơ có sự kết hợp của từ Kìa và cụm từ nghi vấn tự bao giờ bộc lộ cảm giác vừa ngỡ ngàng, thú vị vừa ngưỡng mộ trìu mến của các chiến sĩ trước sự xuất hiện của những cô gái. Người xem hội, người tham gia liên hoan ngất ngây trong tiếng khèn, trong man điệu mang đậm chất núi rừng vừa bí ẩn, vừa quyến rũ, vừa tình tứ e thẹn nhưng  cũng vừa mãnh liệt tha thiết của những thiếu nữ miền Tây làm say mê lòng người.

   Cảnh vật, con người như ngả nghiêng, ngất ngây, bốc men say rạo rực vì vui sướng được sống trong những giây phút bình yên. Dư âm của chiến tranh tàn khốc bị đẩy lùi xa chỉ còn những tâm hồn lãng mạn, trong tiếng nhạc, hồn thơ. Đây là một khoảnh khắc hiếm hoi trong thời chiến, là một kỉ niệm đẹp khó phai mờ trong lòng những người lính Tây Tiến nói chung và trong lòng Quang Dũng nói riêng.

Luận điểm 3: Cảnh thiên nhiên con người miền Tây trữ tình, thơ mộng để lại trong tâm hồn thi sĩ kí ức khó phai

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

   Người đi Châu Mộc chiều sương ấy là người lính Tây Tiến, họ như đang dẫn người đọc đến với thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ, lặng tờ mang một sắc màu huyền thoại.

   Cảnh thơ mộng, trữ tình được nhà thơ diễn tả qua các chi tiết chiều sương giăng mắc mênh mang mờ ảo, dòng sông trôi lặng tờ đậm sắc màu cổ tích, dáng người mềm mại, uyển chuyển lướt trên con thuyền độc mộc, hoa đôi bờ đong đưa theo dòng thác lũ. Bút pháp chấm phá tinh tế: không gian sông nước rộng lớn, cảnh thì thưa thớt, thấp thoáng bóng người bóng hoa. Cảnh không vô tri vô giác mà trong gió trong cây như có linh hồn của vạn vật: Có thấy hồn lau nẻo bến bờ. Câu thơ gợi nhớ đến hình ảnh Lau mùa thu của Chế Lan Viên:

Ngàn lau cười trong nắng

Hồn của mùa thu về

 Hồn mùa thu sắp đi

Ngàn lau xao xác trắng

Hay:

Hạnh phúc màu hoa huệ

Nhớ thương màu hoa lau

Biệt li màu rách xé

Lãng quên không có màu

    Hồn lau trong thơ Quang Dũng cũng là hồn lau của li biệt phảng phất chút buồn nhưng không xao xác, rách xé, lãng quên mà đầy nhớ nhung, lưu luyến. Nét bút của Quang Dũng đã nắm được mộng mơ của cảnh, cái hư ảo của hoài niệm và cái tinh tế của tình cảm nên đã phác hoạ lên bức tranh thuỷ mặc nhưng không tĩnh tại mà sống động, đậm chất thơ.

    Hình ảnh bóng dáng con người Tây Bắc hiện lên trong khung cảnh huyền ảo, mờ xa. Dáng người mềm mại, bé nhỏ nhưng lại cứng cỏi kiên cường khi song hành cùng độc mộc lướt đè lên dòng thác lũ. Hoa trên dòng thác lũ đong đưa tình tứ như níu giữ cái nhìn say mê của “Những người đi Châu Mộc chiều sương ấy”. Bóng người bóng hoa nhưng hoạ thêm vẻ đẹp cho nhau tạo ấn tượng giàu cảm xúc về cảnh và người miền Tây.

    Chất nhạc trong đoạn thơ ngân nga như tiếng hát cất lên từ tâm hồn ngất ngây, mê say, ãng mạn của cái tôi trữ tình giàu cảm xúc dẫn người đọc vào thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, cõi nhạc. Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc không chỉ đẹp ở sự hùng vĩ, dữ dội mà nó còn đẹp cả ở những nét mềm mại, mộng mơ khiến lòng người xao xuyến.

III. Kết bài

   Với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã đưa người đọc trở về với hoài niệm năm xưa, để được sống lại với những phút giây bình yên, hiếm có của thời chiến tranh. Nhà thơ cùng người đọc bước vào thế giới cổ tích với dòng sông huyền thoại, với thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của âm nhạc du dương; chất thơ, chất hoạ, chất nhạc thấm đẫm, quyện hoà đến mức khó mà tách biệt. Quả không hổ danh là một nghệ sĩ đa tài với những câu thơ xuất thần, Quang Dũng đã trao cho người độc những dòng thơ, những giây phút ngất ngây và thi vị của hoài niệm về đoàn quân Tây Tiến, về cảnh và người miền Tây.

Cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” – Bài mẫu 1 

    Quang Dũng vốn là lính của đơn vị Tây Tiến, một đơn vị có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để giải phóng và bảo vệ miền biên cương phía Tây Tổ quốc. Sau đó Quang Dũng chuyển đơn vị công tác. Năm 1948, một lần ngồi ở làng Phù Lưu Chanh (một địa danh cũ thuộc tỉnh Hà Đông), nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến, tác giả cảm xúc viết lên bài thơ tuyệt bút – Tây Tiến. Tây Tiến không chỉ là bài thơ hay nổi tiếng của Quang Dũng nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung mà còn là một trong  những tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài người lính, vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng được thể hiện qua thiên nhiên Tây Bắc và hình    tượng người lính   là hai nét đặc sắc trong cảm hứng và bút pháp nghệ thuật của Tây Tiến. Đoạn thơ sau viết về những kỉ niệm tình quân dân đầy thi vị và vẻ đẹp thơ mộng của sông nước Tây Bắc bằng những nét vẽ tinh tế mềm mại:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Từ “bừng” trong câu thơ đầu tiên của đoạn thơ đã gợi cho ta cảm giác đột ngột. Đó là sự “bừng” sáng của hội đuốc hoa, của lửa trại hay sự tưng bừng rộn rã của tiếng khèn, tiếng hát? “Đuốc hoa” vốn là một từ cổ để chỉ cây nến đốt lên trong phòng cưới đêm tân hôn “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng Mai xưa”. Hình ảnh này xuất hiện trong đêm vui liên hoan của người lính đã tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa thiêng liêng vừa ấm áp tình keo sơn quân dân gắn bó.

    Đây là đoạn thơ bộc lộ rất rõ nét tài hoa của ngòi bút Quang Dũng. Hồn thơ lãng mạn của ông bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ. Vì thế, cảnh là cảnh trong hoài niệm vậy mà lời thơ lại cho ta cảm giác đó là cảnh đang diễn ra ngay trước mắt. Và nhà thơ như đang nói với người vũ nữ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ!” – một giọng thơ thật trìu mến, thích thú, vui sướng! Vui sướng đến ngạc nhiên ngỡ ngàng trước vẻ đẹp vừa e thẹn, vừa tình tứ (nàng e ấp) với bộ xiêm y lộng lẫy trong một vũ điệu mang đậm màu sắc xứ lạ (man điệu). Chỉ bằng 4 câu thơ mà Quang Dũng đã dựng được một bức tranh vừa phong phú về màu sắc đường nét, vừa đa dạng về âm thanh.

   Nếu khung cảnh đêm liên hoan văn nghệ trong những câu thơ trên đem đến cho người đọc không khí mê say ngây ngất thì cảnh sông nước Tây Bắc lại gọi lên được cảm giác mênh mang, hoang dại, tĩnh lặng và mờ ảo thật chứa chan thi vị. Ở đây một lần nữa càng khẳng định rõ hơn nét tài hoa, lãng mạn, giấc mộng mơ của người lính. Thiên nhiên ở nơi chốn chỉ có “Núi sương giăng, đèo mây phủ” khi cảnh chiều về vốn đã mờ ảo lại càng mờ ảo thêm khi có lớp sương mờ bảng lảng choàng thêm một tấm áo như thực như mơ. Qua hoài niệm, khung cảnh Tây Bắc như hiện về trong kí ức của tác giả làm cho giọng thơ của tác giả cất lên như lời tự hỏi “có nhớ? có thấy?” day dứt càng gợi cảm giác bâng khuâng xa vắng, đầy lưu luyến. Con người tài hoa và lãng mạn ấy thấy bạt ngàn hồn lau trong gió trong cây như xôn xao một nỗi niềm:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Hình ảnh này chúng ta đã từng gặp trong thơ của Chế Lan Viên:

Ai đi biên giới cho lòng ta theo với

Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình

Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi Suốt một đời cùng với gió giao tranh

(Lau biên giới)

    Hay những câu thơ viết về hồn lau trong gió gợi cảm giác về cảnh buồn vắng lặng tờ như thời tiền sử huyền thoại của thi sĩ kiêm họa sĩ Hoàng Hữu:

Trường vắng mưa mờ buông dốc xa

Dày leo nửa mái sắc rêu nhoà 

Người xa phơ phất hồn lau gió Thổi trắng chân đồi như khói pha

(Hoa lau trường cũ)

   Trong khung cảnh sông nước, chiều sương mang đậm màu sắc cổ kính huyền thoại ấy hiện lên hình ảnh con thuyền độc mộc với cái dáng mềm mại của cô gái và bông hoa trôi theo dòng nước lũ:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

   Câu nói của người xưa: “Thi trung hữu họa” thật đúng với trường hợp này. Ngòi bút tinh tế của Quang Dũng chỉ phác hoạ một vài nét mà không chỉ gợi được cái “hồn” của ngàn lau mà còn cả cái dáng rất tạo hình của cô gái lái đò người Mèo, người Thái, cái dáng ngả nghiêng rất tình tứ “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” của những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nước lũ. Hai từ “thấy” và “nhớ” được tác giả dùng trong hai câu thơ trên cũng khá tinh tế. Dường như cái hồn thiêng của bông hoa lau đã in hình rõ nét trong mắt tác giả còn cái dáng mềm mại thon thả của cô lái đò cùng bông hoa rừng đong đưa lại khắc sâu vào tâm trí nhà thơ vốn giàu tình yêu cảnh đẹp non sông đất nước này. Không có một tâm hồn nhạy cảm tài hoa thì không thể bắt rất nhạy những hình ảnh giàu hình sắc của hoa như thế.

    Bốn câu thơ như một bức tranh thủy mặc với những nét vẽ chấm phá, tinh tế, mềm mại, tài hoa đă truyền được cái hồn của cảnh vật. Hơn thế, đọc đoạn thơ này lên, người đọc có cảm giác đoạn thơ không chỉ được khắc, được phổ vào những nốt nhạc tinh tế mà nhạc điều đó còn được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cho nên rất có lí khi Xuân Diệu nhận xét “Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như ngậm âm nhạc trong miệng”.

   Đoạn thơ thể hiện bút pháp tài hoa của tác giả. Qua đó, người đọc thấy cảnh đêm liên hoan văn nghệ, cái sông nước Tây Bắc mang vẻ đẹp hiện thực lãng mạn mà huyền ảo với từng vần thơ vừa giàu chất nhạc vừa giàu chất họa. Đó cũng chính là sự kết hợp hài hòa tuyệt diệu giữa ba yếu tố: thơ, nhạc, họa trong thi phẩm của Quang Dũng.

Cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” – Bài mẫu 2

     Tây Tiến vừa là tên một đơn vị quân đội được thành lập vào năm 1947, vừa là nhan đề của bài thơ được Quang Dũng sáng tác năm 1948. Khi ấy, nhà thơ đã rời Tây Tiến chuyển đến công tác ở một đơn vị khác được một thời gian, nhưng trong lòng nhà thơ vẫn còn đầy ắp những kỉ niệm về một thời đã qua. Nhớ lại những kỉ niệm ấy, nhớ về đơn vị cũ với tất cả những gì là bồi hồi, xúc động xen lẫn với lòng tự hào, Quang Dũng đã viết lên bài thơ này. Lúc đầu, bài thơ có nhan đề là Nhớ Tây Tiến và đến năm 1957, khi bài thơ được in trong tập Rừng biển quê hương thì tác giả sửa lại nhan đề bài thơ là Tây Tiến. Tác giả đã bỏ từ nhớ trong nhan đề nhưng theo tác giả, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là một nỗi nhớ mênh mông da diết: nhớ cảnh, nhớ người, nhớ những kỉ niệm vui buồn trên những chặng đường hành quân chiến đấu gian khổ, vất vả,… Trong bài thơ, Quang Dũng đã dành khổ thơ thứ hai nhằm khắc họa những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh thiên nhiên, con người miền Tây thật trữ tình, thơ mộng làm ngây ngất và đắm say lòng người:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

   Đoạn thơ này là sự tiếp nối cảm xúc của hai câu thơ cuối ở phần một của bài thơ

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

   Đó là cái cảm giác êm dịu, ngọt ngào, ấm áp của người lính khi được dừng chân tại một bản làng sau một chặng đường hành quân chiến đấu gian khổ, vất vả. Cảm giác ấy được gợi ra từ hình ảnh cơm lên khói cùng bát xôi nếp thơm thấm đẫm tình người Mai Châu. Và chắc chắn đây cũng là một trong những kỉ niệm êm đẹp khó phai mờ trong kí ức của nhà thơ.

   Trên nền cảm xúc ấy, đoạn thơ tiếp theo này như mở ra một thế giới khác hẳn của Tây Bắc. Không còn nữa những gì là dữ dội, hiểm trở của đồi núi trập trùng, hiếm trở của rừng thiêng hoang vu nữa, chĩ còn cái vẻ đẹp duyên dáng, thơ mộng của Tây Bắc. Những nét vẽ trắc khỏe, táo bạo, gân guốc ở khổ thơ đầu đến đây dường như cũng dược chuyển sang những đường nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế bởi ngòi bút sáng tạo, giàu chất lãng mạn của Quang Dũng.

   Trước hết, qua hồn thơ giàu chất lãng mạn ấy, ta bắt gặp cảnh tượng của một đêm lửa trại có liên hoan văn nghệ, có nhân dân địa phương đến cùng chung vui múa hát với những người lính Tây Tiến:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Khung cảnh của đêm liên hoan lửa trại ở đây được Quang Dũng gọi theo cách riêng của mình là hội đuốc hoa thật tưng bừng, náo nhiệt và rộn rã. Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tân hôn. Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du có câu: Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa. Quang Dũng đã sáng tạo thành hội đuốc hoa để nói về đêm liên hoan lửa trại giữa đoàn quân Tây Tiến với đồng bào Tây Bắc. Lúc này không còn cái khúc khuỷu, thăm thẳm của đèo cao, vực sâu, không còn cái oai linh gầm thét của rừng thiêng xứ lạ nữa,… Những câu thơ ở khổ này như đã đưa ta lạc vào một thế giới của ánh sáng, của âm thanh và những vũ điệu – một thế giới vừa như thực lại vừa như mơ – một thế giới đầy thơ mộng. Điều này được gợi ra qua các chi tiết, hình ảnh trong khổ thơ. Chữ bừng vừa chỉ ánh lửa, ánh đuốc sáng bừng lên vừa tả âm thanh của tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tiếng.khèn vang lên tưng bừng, rộn rã trong đêm hội đuốc hoa. Trong đêm lửa trại, đêm liên hoan ở vùng sơn cước chắc hẳn phải có múa sạp, mùa xòe của các cô gái Mường, cô gái Thái tham gia trong những bộ xiêm áo lộng lẫy đến rực rỡ đã xây hồn thơ trong lòng các chàng trai Tây Tiến. Chính điều đó đã khiến họ rất ngạc nhiên và vui sướng. Chữ kìa là đại từ để trỏ một đối tượng nào đó (có thể là người hay vật) ở xa; nhưng trong bài thơ này thì thể hiện sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ của chàng lính trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các em, các nàng đến dự hội đuốc hoa trong bộ xiêm áo xinh đẹp. Hình ảnh nàng e ấp là một nét vẽ tài hoa và có hồn của Quang Dũng, gợi tả được đúng nét duyên dáng, kín đáo, tình tứ của các thiếu nữ Tây Bắc. Con người thì trẻ trung, xinh đẹp, tài hoa, đa tình; ngòi bút thi nhân cũng rất mực tài hoa, lãng mạn. Và ta có thể hình dung, trong những đêm hội như thế hẳn là nét đa tình – hào hoa của những chàng trai Hà thành vốn có trong những người lính Tây Tiến sẽ được bộc lộ rõ nét hơn bao giờ hết. Họ sẽ reo vui, họ sẽ say mê và ngả nghiêng hết mình theo những tiếng khèn, điệu nhạc dìu dặt, e ấp của những chàng trai, cô gái vùng sơn cước. Qua hội đuốc hoa, ta càng thấy đời sống tinh thần vô cùng phong phú của đoàn binh Tây Tiến nơi chiến trường miền Tây gian khổ và ác liệt. Những kỉ niệm như thế đối với cuộc đời người chiến binh đầy gian khổ ác liệt là không nhiều. Bởi vậy, nó đã trở thành một ấn tượng đẹp khó có thể phai mờ và cũng rất đáng được trân trọng, ngợi ca. Quang Dũng đã mang đến cho người đọc tình cảm tốt đẹp ấy.

    Nếu bốn câu thơ trên là một bức tranh náo nhiệt tràn ngập ánh sáng, rộn rã âm thanh vũ điệu, tạo nên một cảm giác ngây ngất, si mê thì bốn câu thơ tiếp theo lại là một cảnh sông nước mênh mang của Tây Bắc, chứa đầy chất họa và chất thơ, được tạo nên bởi những nét bút rất mực tài hoa của Quang Dũng:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Cảnh vật Tây Bắc trong bốn câu thơ này cũng vẫn được dệt nên bằng cảm xúc hồi tưởng, là sự tiếp nối của cái nỗi nhớ chơi vơi ở phần đầu bài thơ, là sự tiếp theo của nỗi nhớ hội đuốc hoa ở bốn câu trước. Cảnh Tây Bắc ở đây là một buổi chiều Châu Mộc được giăng mắc bởi một màn sương mờ, có dòng sông đôi bờ lặng lẽ, hoang dã như đôi bờ tiền sử, như một miền cổ tích. Trên cái nền của dòng sông mang đậm màu sắc cổ tích và huyền thoại ấy, nổi bật lên là hình dáng thướt tha, uyển chuyển của cô gái vùng cao trên chiếc thuyền độc mộc, cùng cái tình tứ đong đưa làm duyên của những bông hoa bên dòng nước lũ,…

    Người là nhân vật trữ tình phiếm chỉ, vừa là đồng đội vừa là nhà thơ. Nỗi nhớ vơi đầy, nhớ Châu Mộc một -chiều sương. Hình ảnh chiều sương rất gợi, như dẫn hồn người nhập vào một thế giới hoang sơ, lặng tờ mang màu sắc cổ tích, đó là một buổi chiều thu ở chiến khu đã phủ mờ sương khói của hoài niệm. Câu thơ như nhắc khẽ một nỗi niềm với bao man mác bâng khuâng về một miền đất lạ, hoang vắng, xa xôi,… Cái tài của Quang Dũng trong khổ thơ này không phải là ở sự miêu tả mà chủ yếu là ở sức gợi của các từ ngữ, hình ảnh. Chữ ấy trong câu thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy bắt vần với chữ thấy ở câu thơ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ, quả là một vần lưng tài tình. Nó giống như một nốt nhấn trong bản nhạc,- tạo nên âm điệu trầm lắng diễn tả một nỗi nhớ bâng khuâng trong kí ức của nhà thơ. Và vì thế, nhà thơ hỏi người đi có thấy, có nhớ nhưng thực chất cũng là hỏi mình. Cách điệp âm có thấy – có nhớ trong hai câu thơ kế tiếp nhau không chỉ thể hiện một lối viết uyển chuyển, linh hoạt của một ngòi bút tài hoa, mà còn diễn tả rất đúng cái tâm trạng nhớ nhung của nhà thơ. Và quả thật, ở khổ thơ này, câu thơ trước gọi câu thơ sau, hình ảnh trước làm nền cho hình ảnh sau, kỉ niệm trước gọi kỉ niệm sau trở về trong nỗi nhớ: nhớ cảnh, nhớ người.

    Người và cảnh hòa quyện với nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa có hồn vừa man mác, xa xăm. Bởi nhớ cảnh núi rừng miền Tây trong buổi chiều sương nhưng là nhớ tới hồn lau. Hình ảnh hồn lau đầy thơ mộng là một nét đẹp của chiều sương Châu Mộc. Mùa xuân hoa lau nở tím rừng, sang thu hoa lau nở trắng rừng. Hoa lau, cờ lau phất phơ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu. Câu thơ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ đúng là câu thơ mang đậm chất tâm hồn thi nhân (GS Phan Cự Đệ). Rồi nhớ người, nhưng lại chỉ nói đến dáng người cùng con thuyền độc mộc trôi trên dòng nước lũ có những bông hoa đong đưa. Điều đó gợi lên một vẻ đẹp thấp thoáng, mơ hồ vừa như thực lại vừa như ảo nhưng đồng thời cũng lại gợi lên được cái phần hồn rất thiêng liêng của cảnh vật thiên nhiên Tây Bắc. Thật đúng như người xưa nói thi trung hữu họa, bốn câu thơ này của Quang Dũng quả thật mà một bức họa khá đặc sắc với những nét vẽ tinh tế, tài hoa và mềm mại ít thấy trong thơ ca kháng chiến.

    Bằng một tâm hồn thơ phong phú, sáng tạo và giàu chất lãng mạn, chỉ với tám dòng thơ mà Quang Dũng đã đưa người đọc trở về với những với hoài niệm năm xưa, để được sống lại trong những phút giây bình yên hiếm có của thời chiến tranh. Đặc biệt, bốn câu thơ sau như đưa người đọc vào thế giới cổ tích với dòng sông huyền thoại, với thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của âm nhạc du dương; chất thơ, chất họa, chất nhạc thấm đẫm, hòa quyện đến mức khó tách biệt. Đọc đoạn thơ này, chúng ta càng hiểu và càng thêm trân trọng, yêu mến cái vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp lãng mạn, tài hoa, đa tình của những người lính trong đoàn quân Tây Tiến năm xưa. vẻ đẹp này cùng với vẻ đẹp can trường, quả cảm ở đoạn một và đoạn ba của bài thơ đã tạo nên một bức chân dung đầy ân tượng về người lính thủ đô trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiếc rằng, trong một thời gian dài, người ta đã có những ý kiến phê bình bài thơ về mặt này, mặt khác nhưng khách quan ta thấy, đặt bài thơ vào đúng hoàn cảnh ra đời và tưởng tượng lại không khí buổi đầu của cuộc kháng chiến chúng ta mới thấy hết giá trị của nó. Đến nay, cuộc kháng chiến ấy đã đi qua hơn nửa thế kỉ nhưng khổ thơ này cũng như cả bài thơ vẫn là nơi lưu giữ tuyệt vời những kỉ niệm cao đẹp của người lính ở một thời kì gian khổ nhưng cũng rất hào hùng của cả dân tộc Việt Nam.

Cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” – Bài mẫu 3

    Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ, từng cầm súng đánh giặc và làm thơ thời kháng chiến chống Pháp. Năm 1948, tại Phù Lưu Chanh (Hà Tây), ông viết bài thơ Tây Tiến nói lên tình thương nhớ chiến trường miền Tây, nhớ đồng đội thân yêu một thời trận mạc. Mở đầu bài thơ là một lời nhắn gọi biết bao thiết tha bồi hồi:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.

     Bài thơ có 34 câu thơ thất ngôn, chia thành 4 đoạn, mỗi đoạn thơ là sự hồi tưởng bao kỉ niệm sâu sắc. Đây là đoạn thơ thứ hai có 8 câu mang vẻ đẹp như một bài hành nói về hai nỗi nhớ: nhớ hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Châu Mộc:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

………………………………….

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    Từ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”, Quang Dũng nhớ đến “hội đuốc hoa” thắm thiết tình quân dân:

           Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

        Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

     Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tối tân hôn. Truyện Kiều có câu: “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa” (3096). Quang Dũng sáng tạo thành “hội đuốc hoa” đế nói về đêm liên hoan lửa trại giữa các cán bộ chiến sĩ đoàn binh Tây Tiến với đồng bào các bản mường. Chữ “bừng” vừa chỉ ánh lửa, ánh đuốc sáng bừng lên, vừa tả âm thanh tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tiếng khèn vang lên tưng bừng rộn rã trong hội đuốc hoa. Đêm lửa trại, đêm liên hoan chắc là có múa sạp, có mùa xòe của các cô gái Mường, cô gái Thái tham gia. Chữ “kìa” là đại từ để trỏ một đối tượng (người, vật) từ xa; trong văn cảnh thể hiện sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ cúa chàng lính trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các “em”, các “nàng” đến dự hội đuốc hoa trong bộ xiêm áo xinh đẹp. Hình ảnh “nàng e ấp” là một nét vẽ tài hoa và có hồn đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo, tình tứ của các thiếu nữ miền Tây. Ánh lửa, tiếng hát, tiếng khèn, màu xiêm áo rực rỡ, vẻ đẹp kiều diễm của các “em”, các “nàng” như đã “xây hồn thơ” các chàng lính trẻ. Con người thì trẻ trung, xinh đẹp, hào hoa, đa tình; ngòi bút của thi nhân cũng rất tài hoa, lãng mạn. Qua hội đuốc hoa, người đọc càng thấy đời sống tinh thần vô cùng phong phú cùa đoàn binh Tây Tiến nơi chiến trường miền Tây gian khổ ác liệt.

    Bốn câu thơ tiếp theo dòng hồi tưởng “trôi” về một miền đất lạ, đó là Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La. nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, nơi có dãy núi Pha Luông cao 1880m, nơi có bản Pha Luông sầm uất của người Thái. Quang Dũng người lính chiến với tâm hồn thi sĩ đã khám phá ra bao vẻ đẹp kì thú miền Châu Mộc. Năm tháng đã trôi qua, cảnh và người miền đất lạ ấy đã trở thành một mảnh tâm hồn của bao người:

           Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

       Có nhớ dáng người trên độc mộc

       Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    “Chiều sương ấy” là chiều thu 1947. Sương trắng phủ mờ núi rừng chiến khu chiều thu ấy in đậm hồn người; hoài niệm càng trở nên mênh mang. Chữ “ấy” câu trên bắt vần với chừ “thấy” câu dưới tạo nên một vần lưng giàu âm điệu, như một tiếng khẽ hỏi “có thấy” cất lên trong lòng. Hồn lau là hồn mùa thu. Hoa lau nở trắng cờ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu “nẻo bến bờ”, nơi bờ sông bờ suối. Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc “chiều sương” và “hồn lau nẻo bển bờ”. Những thi liệu ấy đã tạo nên vẻ đẹp cổ điển bức tranh suối rừng nơi miền đất lạ. Thấp thoáng trong vần thơ Tây Tiến là những câu cổ thi tuyệt bút:

Sương đầu núi buổi chiều như dội,

Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…

 (Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là hồn lau:

 Ngàn lau cười trong nắng

Hồn của mùa thu về

Hồn mùa thu sắp đi

      Ngàn lau xao xác trắng.

 (Lau mùa thu – Chế Lan Viên )

    Điệp ngữ “có thấy” và “có nhớ” làm cho hoài niệm về chiều sương  Châu Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng. Nhớ cảnh rồi nhớ đền, trong chia phôi còn “có nhớ” con thuyền độc mộc và “dáng người’ chèo thuyền độc mộc? “Có nhớ” hình ảnh “hoa đong đưa” trên dòng nước lũ? “Hoa đong đưa” có phải là hoa rừng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ như Giáo sư Phan Cự Đệ đã nói? Hay “Hoa đong đưa” trên sông suối. Bài hát Sơn nữ ca của nhạc sĩ Trần Hoàn, Nụ cười sơn cước của nhạc sĩ Tô Hải cho ta cảm nhận ấy. Phải có “tay lái ra hoa” mới có thể “đong đưa” được như vậy.

     Những dòng hồi tưởng trên đây về cảnh sắc và con người nơi suối rừng miền Tây, nơi cao nguyên Châu Mộc đã được thể hiện một cách tuyệt đẹp qua bút pháp tài hoa và hồn thơ lãng mạn. Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc vô cùng hoang vu, là chốn rừng thiêng nước độc, nhưng Quang Dũng với tâm hồn lạc quan và yêu đời của một khách chinh phụ thời đại mới đã cảm nhận và phát hiện bao vẻ đẹp thơ mộng, xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Bắc.

    Hoài niệm, kỉ niệm về chiến trường núi rừng miền Tây như được chắt lọc qua tâm hồn. Nhà thơ có gắn bó với cảnh vật và con người Tây Bắc, có vào sinh ra tử với đồng đội mới có kỉ niệm đẹp và sâu sắc như vậy, mới có thể viết nên những vần thơ sáng giá như thế.

    Bức tranh chiều sương Châu Mộc và hội đuốc hoa tựa như một bức tranh sơn mài mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn kết hợp hài hòa với tính thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh.

—/—

Như vậy, Wikichiase đã vừa cung cấp những dàn ý cơ bản cũng như một số bài văn mẫu hay Cảm nhận khổ thơ sau: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa….Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” để các em tham khảo và có thể tự viết được một bài văn mẫu hoàn chỉnh. Chúc các em học tốt môn Ngữ Văn !

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *