Cảm nhận bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn – Văn mẫu 12 hay nhất

Bạn đang gặp khó khi làm bài văn Cảm nhận bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn? Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung ngắn gọn, chi tiết, hay nhất của Wikichiase dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu bổ ích!

Cảm nhận bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn – Bài mẫu

Cảm nhận bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn (ngắn gọn, hay nhất)

     Nông Quốc Chấn là nhà thơ, nhà hoạt động văn hóa, người dân tộc Tày ở Cao Bằng. Bài thơ Dọn về làng được sáng tác trong chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, là tác phẩm tiêu biểu nhất của Nông Quốc Chấn. Nguyên tác bằng tiếng Tày, sau đó được tác giả dịch ra tiếng phổ thông theo thể thơ tự do.

     Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tương phản giữa quá khứ đau thương với niềm vui chiến thắng và giải phóng, ca ngợi sự hồi sinh, sự vươn dậy của quê hương và đồng bào các dân tộc Cao – Bắc – Lạng.

     Mở đầu bài thơ là tiếng gọi mẹ cất lên; gọi mẹ để báo tin Vui, tin mừng chiến thắng:

Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng

Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn

Vệ quốc quân chiếm lại các đồn

Người đông như kiến, súng đầy như củi

     Đoạn thơ làm sống lại cảnh tượng chiến trường Biên giới năm 1950. Quân ta đánh chiếm đồn Đông Khê, tiêu diệt hai binh đoàn: Sác-tông và Lơ-pa, hàng ngàn giặc Tây “bị chết bị bắt sống”. Hai so sánh “người đông như kiến, súng đầy như củi”, đã ào lên thật hay sức mạnh và khí thế chiến đấu, chiến thắng của quan và dân ta thuở ấy.

     Từ niềm vui chiến thắng đứa con đau đớn nhớ lại những năm dài gian khổ, đau thương dưới ách kìm kẹp, chiếm đóng của lũ giặc Pháp hung tàn.

     Trên bước đường trở về làng cũ để “sửa nhà phát cỏ” để “Cày ruộng vườn trồng lúa ngô khoai”, đứa con bồi hồi nhớ lại:

Mấy năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy,

Chạy hết núi lại khe, cay đắng đã mùi?

     Những lễ tết lâu đời phải quên đi! Những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc phải quên đi. Bàn thờ tổ tiên nguội lạnh hương khói. Trải bao cay đắng vì phải chạy giặc triền miên: “Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi.”

     Quên sao được những kỉ niệm thương đau một thời gian khổ với bao thiên tai, địch họa. Mưa rừng mù mịt, gió bão, sấm sét, lán sụp, cửa nát, vắt bám đầy chân. Giặc lùng sục đất lán, cướp bóc, gây ra bao thảm cảnh:

Súng nổ kia! Giặc Tây lại đến lùng

Từng cái lán nó đốt đi trơ trụi.

Nó vơ hết áo quần trong túi…

     Đoạn thơ như một đoạn phim ghi lại cảnh chạy loạn giữa rừng sâu của đồng bào các dân tộc trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Biện pháp liệt kê và tự sự mở ra một không gian nghệ thuật với bao chi tiết hiện thực rất sống và cảm động. Cảnh người mẹ chạy giặc, vừa dịu con, vẫy em, vừa “Tay dắt bà, vai đeo đẫy nải – Bà lòa mắt không biết lôi đi”. Cảnh người cha bị giặc bắt, “Cha chửi Việt gian cha đánh lại Tây” rồi bị giặc giết một cách dã man:

Súng nổ ngay đì đùng một loạt,

Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất.

     Cảnh chôn cất người chồng, người cha thân yêu đầy nước mắt:

Lán anh em rải rác không biết nơi tìm

Không ván, không người đưa cha đi cất

Mẹ thảo khăn phủ mặt cho chồng,

Con cởi áo liệm thân cho bố

Mẹ con đưa cha đi nằm một chỗ

Máu đầu tay, trên mặt nước tràn…

     Tất cả những cảnh đau đớn và thương tâm ấy được nhà thơ tái hiện lại một cách chân thực với nhiều máu và nước mắt. Sau tiếng khóc nghẹn ngào là tiếng thét căm thù uất hận vang lên:

Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn.

Băm xương thịt mày, tao mới hả.

     Qua đó, ta càng thấy rõ: súng đạn của quân giặc cướp nước không thể nào khuất phục được nhân dân ta.

     Phần thứ hai của bài thơ nói lên niềm vui giải phóng, quê hương được hồi sinh, sức sống của dân tộc trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ.

     Có bao âm thanh giữa không gian rộng lớn Cao – Bắc – Lạng. Có tiếng “cười vang”, tiếng “người nói”, tiếng cười con trẻ ríu rít cắp sách đến trường. Có tiếng ô tô “kêu vang”; có tiếng gà gáy, tiếng chó sủa. Có bao hình ảnh náo nức đáng yêu:

Dọn lán, rời rừng, người xuống làng.

Người nói cỏ lay trong ruộng rậm

Con cày mẹ phát ruộng ta quang.

     Cuộc sống hồi sinh, cuộc sống bình yên đã trở lại với bà con làng bản: “Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá”. Phải nhiều máu đổ xương tan mới có ngọn khói lam chiều đáng yêu ấy.

     Nếu ở phần đầu bài thơ, tác giả nhắc lại sáu lần chữ “không” (không biết lối bước đi, cha không biết nói rồi, không ai chống gậy khi bà cụ qua đời, không biết nơi tìm, không ván, không người đưa cha đi cất) để phản ánh bao nỗi đau đè nặng lòng người, thì ở đoạn hai, điệp ngữ “không” bảy lần xuất hiện để làm nổi bật một hiện thực kháng chiến, đó là sự hồi sinh và sự vươn mình đứng thẳng dậy của dân tộc ta:

– Mặc gà gáy, chó sủa không lo

– Ngày hai buổi, không tìm củ pâu, củ nâu

– Đường ngõ từ nay không cỏ rậm

– Trong vườn chuối, hổ không dám đến đẻ con

– Quả trên cành không lo tự chín tự rụng

– Ruộng sẽ không thành nơi máu chảy thành vũng

– Chân đi có giày không sợ nẻ.

     Hình ảnh đoàn quân chiến thắng “hát nói ung dung” rầm rập hành quân tiến bước được nhà thơ nói đến với tất cả niềm vui tự hào:

Từng đoàn người giắt lá cây tiến bước

Súng trên vai, bao gạo buộc trên vai…

     Một lần nữa, Nông Quốc Chấn đã thành công ở phép liệt kê, nêu lên hàng loạt chi tiết rất thực, rất sông để thể hiện niềm vui chiến thắng và sự hồi sinh của quê hương sau ngày được giải phóng.

     Bốn câu thơ cuối bài là lời từ biệt mẹ già của đứa con lên đường đi chiến đấu. Mẹ ở lại hậu phương, con ra tiền tuyến với quyết tâm “đuổi hết” giặc Pháp, giặc Mĩ. Hình ảnh “mặt trời lên sáng rõ” mang hàm nghĩa nói về sự thắng lợi của kháng chiến, của cách mạng, sự đổi thay to lớn và niềm vui dâng lên trong lòng người.

     Lời mẹ dặn biết bao yêu thương thiết tha, đằm thắm. Cuộc lên đường đầy khí thế và dào dạt niềm tin:

Mặt trời lên sáng rõ rồi mẹ ạ!

Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà,

Giặc Pháp, Mĩ còn giết người, cướp của trên đất nước ta

Đuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ.

     Cái hay của Dọn về làng là lời thơ mộc mạc bình dị với bao chi tiết chọn lọc cảm động. Nỗi đau thương thời giặc giã, hình ảnh người bà, người cha, người mẹ trong khói lửa đau thương, niềm vui giải phóng và hình ảnh quê hương hồi sinh được nói lên một cách thật giản dị, cảm động. Dọn về làng là một trong những thành tựu đáng tự hào của thơ ca kháng chiến thời chống Pháp. Hơn nửa thế kỉ sau, bài thơ vẫn để lại cho chúng ta nhiều xúc động.

Cảm nhận bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

—/—

Trên đây là các bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn do Wikichiase sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *