Bộ đề Đọc hiểu Sống như cây rừng hay nhất – Ngữ Văn 12

Tuyển tập Bộ đề Đọc hiểu Sống như cây rừng hay nhất. Tổng hợp, sưu tầm các đề Đọc hiểu Sống như cây rừng đầy đủ nhất.

Đọc hiểu Sống như cây rừng – Đề số 1

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Cá lớn cũng chỉ thích sống ở đại dương. Chúng không thể trở nên lớn nếu chỉ quẩn quanh trong vùng nước nông chật hẹp thiếu dưỡng khí. Điều này vừa là thực tế vừa như một ẩn dụ cho con người. Con người muốn trở nên lớn, phải sống trong không gian rộng lớn để khuấy nước chọc trời. Khi ta là cá bé, ta dễ thành mồi ngon cho cá lớn. Một quốc gia “cá bé” thì khó vẫy vùng trước sự bủa vây của trật tự làm ăn do những quốc gia cá lớn áp đặt. Một cá nhân cho dù thân xác to lớn mà có lá gan bé và tầm nhìn không vượt chân trời thì cái lưỡi dễ thụt sâu xuống họng khi gặp phải kẻ quen dùng cách thị uy.

Khi tôi gặp em, em nói: Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu của đại dương. Em phải là người của thế giới chứ không phải chỉ quẩn quanh với quê nhà. Tôi chợt nhớ đêm câu cá và những con cá lớn trên biển năm nào. Biết trong em âm ỉ một khát vọng trở thành con cá lớn hít thở bằng bóng nước đại dương chứ không cam chịu dập dềnh may rủi nơi cửa bể.

…Quốc gia mạnh giàu chỉ khi nơi đó có những con người mạnh mẽ, những cá thể như con cá lớn vẫy vùng với chuyện chọc trời khuấy nước. Một quốc gia có tương lai chỉ khi có cá nhân vượt lên với tầm nhìn toàn cầu. Cho dù bị đánh giá là lùn, thì văn hóa khí chất vẫn phải cao chất ngất. Cho dù bị xem là vóc dáng thấp bé hơn nhiều dân tộc thì tầm nhìn phải vượt lên cao rộng, vượt lên ngoài cái vỏ vật chất là thân xác hữu hạn này.

Em có đang nuôi khát vọng trở thành con cá lớn để hít thở bóng nước đại dương đấy không?

(Hà Nhân, Sống như cây rừng, NXB Văn học, 2016, tr 204- 206)

Câu 1. Chỉ ra phong cách ngôn ngữ của đoạn trích?(0,5 điểm)

Câu 2. Theo tác giả, hình ảnh con cá lớn “thích sống ở đại dương”, “không thể lớn nếu ở vùng nước nông chật hẹp” trong văn bản trên là ẩn dụ chỉ điều gì? (0,5 điểm)

Câu 3. Anh (chị) hiểu như thế nào về câu nói: “Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu của đại dương” (1,0 điểm)

Câu 4. Anh/chị hãy trả lời câu hỏi của tác giả đặt ra trong phần kết của văn bản: “Em có đang nuôi khát vọng trở thành con cá lớn để hít thở bóng nước đại dương không?” Vì sao? (1,0 điểm)

PHẦN II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm). Từ văn bản đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những điều cá nhân cần phải làm để “vượt lên với tầm nhìn toàn cầu” góp phần đưa đất nước hội nhập thế giới.

Câu 2 (5.0 điểm)

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh.

[…]Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm lạ lắm. Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ.

(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, Nxb GD, 2016, trang 24-25)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trên. Từ đó nhận xét lời tâm sự của Kim Lân về ý đồ và cảm hứng sáng tác truyện ngắn Vợ nhặt: “… Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ”

Lời giải

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Câu 1. Phong cách ngôn ngữ: chính luận

Câu 2. Theo tác giả, hình ảnh con cá lớn thích sống ở đại dương… là ẩn dụ chỉ “Con người muốn trở nên lớn, phải sống trong không gian rộng lớn để khuấy nước chọc trời”

Câu 3.

– rong, rêu mang ý nghĩa chỉ những con người nhỏ bé, bình dị…; đại dương chỉ không gian rộng lớn, là thế giới toàn cầu;

-Từ đó rút ra ý nghĩa cả câu: cho dù làm một con người bình thường, nhỏ bé thì cũng không được an phận, quanh quẩn trong môi trường quen thuộc mà phải chủ động vươn ra một không gian rộng lớn- không gian xã hội, đất nước, thế giới với những thách thức và cơ hội để trưởng thành và tiến xa hơn.

Câu 4.

Học sinh có thể rút ra nhiều thông điệp ý nghĩa, nhưng cần phù hợp với nội dung văn bản. Sau đây là gợi ý:

+ Khát vọng vươn ra thế giới giúp con người chủ động đón đầu những cơ hội khám phá, dám chấp nhận thử thách, dám sáng tạo để thành công bằng khí chất và trí tuệ của mình.

+ Khi nuôi khát vọng vươn ra thế giới nhưng chưa chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết, con người sẽ thất bại và dẫn đến tâm lí tự ti, lo sợ, vì thế tồn tại trong không gian quen thuộc là sự lựa chọn an toàn…

PHẦN II: LÀM VĂN.

Câu 1. 

Học sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ các ý:

*Giải thích vấn đề: Tầm nhìn là hoạch định tương lai đi đến đâu, tầm nhìn toàn cầu là tầm nhìn xa rộng, dám nghĩ, dám làm,dám chấp nhận thử thách và dám sáng tạo

* Phân tích, bàn luận

– Vì sao mỗi cá nhân cần biết “vượt lên với tầm nhìn toàn cầu”

+ Thời đại công nghệ thông tin 4.0 đã rút ngắn khoảng cách giữa con người với con người khắp nơi trên thế giới. Vì vậy, bản thân chúng ta cần có cái nhìn toàn cầu để có thể có thể đưa đất nước hội nhập thế giới

+ Xuất phát từ thực tế tầm nhìn cá nhân hạn hẹp, chưa vượt ra giới hạn quen thuộc

– Mỗi cá nhân cần làm như thế nào?

+ Thay đổi suy nghĩ, xóa bỏ mặc cảm tự ti, dám nghĩ, dám làm, dám ước mơ và khát vọng lớn, dám chấp nhận đổi thay, thoát ra khỏi vòng tròn quen thuộc, quẩn quanh;

+ Tự tin chủ động, tìm kiếm cơ hội, chấp nhận thử thách và sẵn sàng đối mặt với thất bại;

+ Chuẩn bị đầy đủ kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và kĩ năng mềm cần thiết (như kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng hợp tác, kĩ năng điều tiết cảm xúc…)

– Dẫn chứng

– Phê phán: người lười biếng, thụ động…

* Bài học nhận thức và hành động: Bản thân trang bị đầy đủ kiến thức kĩ năng để trở thành công dân toàn cầu trong tương lai

Câu 2. 

Yêu cầu nội dung:

1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận

2. Cảm nhận đoạn trích

* Nội dung:

– Tái hiện bức tranh bi thảm về nạn đói khủng khiếp năm 1945 qua không gian một ngã tư xóm chợ bị bao trùm bởi sự chết chóc, thê lương (các hình ảnh: lũ lượt bồng bế, dắt díu, những cái thây nằm còng queo,…màu sắc: xanh xám, tối sầm… mùi vị: mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…)

→ Bức tranh bao quát về nạn đói có một không hai trong lịch sử dân tộc có sức tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra cho nhân dân Việt Nam.

– Mượn bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 để khẳng định, ngợi ca sức sống mãnh liệt, tiềm ẩn trong tâm hồn những con người cùng khổ – nhà văn phát hiện khát vọng đáng trân trọng của người nông dân ngay khi cận kề cái chết:

+ Tràng: phớn phở khác thường, tủm tỉm cười, hai mắt sáng lên lấp lánh …Tràng thành một con người khác: ân cần, quan tâm đến người đàn bà hãy còn xa lạ; lòng Tràng trỗi dậy niềm vui sướng khiến anh “dường như quên hết những cảnh ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên..”; Đó là điều “mới mẻ, lạ lẫm, chưa từng thấy ở người đàn ông khốn khổ ấy” – niềm hạnh phúc bình dị, niềm khát khao mái ấm gia đình.

+ Những người trong xóm ngụ cư: lạ, bàn tán, hiểu, bỗng rạng rỡ hẳn lên…

→ Tình huống đã tạo nên sự thay đổi mới mẻ theo hướng tích cực của mọi người: bên bờ vực cái chết vì đói khát vẫn biết cảm thông cho nhau, tin tưởng vào điều tốt đẹp.

– Nghệ thuật: Tạo tình huống truyện độc đáo; bút pháp tả thực tạo ấn tượng mạnh, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị…

3. Nhận xét:

Kim Lân đã thực hiện thành công ý đồ sáng tác của mình: biến câu chuyện ngày đói cay đắng, đau khổ thành khúc ca chiến thắng của tình người và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc tha thiết, mãnh liệt. Đó cũng là tấm lòng, niềm thương cảm, xót xa của nhà văn trước những con người nhỏ bé, sự trân trọng những ước mơ, khát vọng đẹp đẽ và niềm tin vào cuộc sống của những con người nghèo khổ.

4. Đánh giá:

Đoạn trích góp phần thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm– khẳng định vị trí của Kim Lân trong văn học hiện thực Việt Nam

Đọc hiểu Sống như cây rừng – Đề số 2

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm): Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: 

Lớn lên về thể chất là giấc mơ có thật của những thể hệ sinh ra trong rơm rạ đói nghèo,(…). Nhưng khi lớn lên về thể chất cũng là khi tôi dần biết về một giấc mơ khác nữa. Giấc mo con người sê trưởng thành về nhân cách tâm hồn. Khi ta lớn, ta có thể chi biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Ta biết cho đi hơn là nhận lại. Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên. Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình. Thủ thách của tuổi mới lớn có thể chỉ đơn giản là một cú vật tay xem ai co bắp dẻo dai hơn. Em hãy thử đi xa hơn, bước tới những thử thách rằng ai cổng hiến nhiều hơn cho cộng đồng. Ai truyền đi những năng lượng tích cực mạnh mẽ hơn. Ai biết sống vì người khác, vì bạn bè còn gian khó, vì làng quê còn nghèo nàn, vì đất nước còn lạc hậu, vì dân tộc còn tụt lại phía sau. Mỗi ngày hãy nhìn thẳng vào phía Mặt Trời thiêu đốt và vạch những vạch đình hằn mốc đánh dấu trưởng thành của mình theo cách cao thượng: cách trưởng thành khi em biết nghì về những điều dài rộng và biết sống vì người khác. 

(Trích Bút kí Sống như cây rừng, Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr. 191) 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên. 

Câu 2. Theo tác giả, biểu hiện của sự trưởng thành là gì? 

Câu 3.  Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến: Khi ta lớn, ta có thể chi biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân? 

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với ý kiến: Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên? Vì sao?

Bài làm

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.

– Phương thức biểu đạt chính: Nghị Luận

Câu 2.Theo tác giả, biểu hiện của sự trưởng thành là gì?

– Theo tác giả biểu hiện của sự trưởng thành là ♡Biết về trách nhiệm của bản thân.

Biết cho đi hơn là nhận lại.

Biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên.

Biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình.

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến: Khi ta lớn, ta có thể chi biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân?

– Theo em, thì ý kiến đó là khi chúng ta chỉ mới biết về quyền của bản thân mình, biết ta có quyền gì, những người xung quanh phải làm gì cho ta. Và lớn lên trong vỏ bọc bảo vệ đó, hưởng những quyền lời đó. Còn khi ta trưởng thành, ta không phải như vậy nữa

Mà ta cần phải trưởng thành, biết những trách nghiệm của mình và thực hiện nhiệm vụ và có trách nghiệm với mọi người cũng như bản thân.

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với ý kiến: Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên? Vì sao?

– Em hoàn toàn đồng ý vì khi đi tình nguyện ta có thể thấy tình thương, thấy những tình cảm của cộng đồng. Thấy tương lai nhiều thứ đang đón chờ. Thấy những người trưởng thành mà từ đó học hỏi để trở nên trưởng thành hơn.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *