Bộ đề Đọc hiểu đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) hay nhất – Ngữ Văn 12

Tuyển tập Bộ đề Đọc hiểu đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) hay nhất. Tổng hợp, sưu tầm các đề đọc hiểu đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) đầy đủ nhất.

Đọc hiểu đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) – Bài số 1

       “Truyện Kiều” của thi hào dân tộc Nguyễn Du có nói đến nhiều cảnh biệt ly – mỗi cảnh là một trang đời thấm đầy lệ trong nỗi đoạn trường của người con gái tài sắc Thuý Kiều. Đoạn thơ “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” là một đoạn thơ tả cảnh ngụ tình tuỵêt bút ghi lại giây phút từ biệt và nỗi buồn cảu Kiều đối với Thúc Sinh cũng như đối với số phận mình. Nỗi buồn ly biệt từ lòng người như thấm sâu vào cảnh vật toả rộng trong không gian và thời gian vô tận.

       Thuý Kiều đã được Thúc Sinh “chuộc” ra khỏi lầu xanh. Thúc Sinh không “tài mạo tót vời” như Kim Trọng và cũng chẳng phải là anh hùng “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo” như Từ Hải nhưng là một con người đã yêu thương say mê nàng Kiều hết mực.Thúc Sinh mãi mãi là ân nhan của Kiều đã cứu vớt nàng ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp hôi tanh. Trải qua nhiều trắc trở hai người đã có một cuộc sống hạnh phúc thật sự:

“Huệ lan sực nức một nhà

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa”.

       Sau biết bao nhiêu “rày lần mai lữa”: “Cầm tay dài ngắn thở than – Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời” Thúc Sinh chia tay Thuý Kiều về nàh gặp Hoạn Thư để thu xếp chuyện “vườn mới thêm hoa”. Bằng 8 câu thơ lục bát Nguyễn Du đã thông cảm với tình nghĩa gắn bó hai người và nói lên nỗi niềm lưu luyến tâm trạng cô đơn của họ trong ly biệt. Đây là chuyến đi đầy lưu luyến và tràn đầy hy vọng: “Chén đưa nhớ bữa hôm nay – Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau”.

       Mở đầu đoạn thơ là giây phút đưa tiễn: “Người lên ngựa kẻ chia bào’. Câu thơ được ngắt thành hai vế tiểu đối lứa đôi bịn rịn và lưu luyến như bị tách rời ra hai phía của không gian. Sau bao nhiêu dùng dằng trì hoãn Thúc Sinh đành phải lên ngựa. Và Thấy Kiều đành buông vạt áo của chàng ra. Câu thơ đã làm hiện lên cảnh đưa tiến trang trọng lưu luyến của vợ chồng những đại gia những quý tộc thời xưa. Thời gian chia ly ấy đã làm cho không gian và cảnh vật biến đổi:

“Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.

       Một bức tranh thiên nhiên bao la bát ngát với “rừng phong thu”. Cả một miền quan san – cửa ái núi non trùng điệp bỗng chốc nhuốm bởi màu sắc đỏ ối của rừng phong. Nơi tiễn biệt này là Lâm Tri thuộc nước Tề ngày xưa (nay là Sơn Đông) để Thúc Sinh đi về vô Tích thăm Hoạn Thư. Đây không phải là nơi quan ải thế nhưng lứa đôi vừa chia tay thì cả rừng phong như đã nhuộm màu biệt ly cách trở. Kiều vừa buông áo bào chàng ra nàng như ngẩn ngơ đứng lặng theo dõi bóng ngựa đi xa dần. Giữa hai người là một vùng quan san hiện ra ảm đạm hoang biệt buồn thấm thía. Cảnh sắc xa dần mờ dần:

“Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xnah”.

       Quan san dặm hồng chinh an ngàn dâu xanh vốn là những từ ngữ giàu sắc thái trữ tình diễn tả những tâm trạng nảy sinh trên cơ sở chinh chiến tha hương của những binh lính tướng tá xưa nay được mở rộng vào lĩnh vực tình cảm chia biệt nói chung và ở trong văn cảnh này là sự chia cắt đầy lưu luyến giữa đôi lứa trẻ trung. Con đường từ Lâm Tri đi về Vô Tích bụi đỏ (dặm hông) cuồn cuộn bốc lên mờ mịt cuốn bọc lấy chiếc yên ngựa của người đi xa (chinh yên) Bóng Thúc Sinh dần dần mất hút sau mấy ngàn dâu xanh. Rõ ràng màu sắc của cảnh vật từ màu đỏ của rừng phong màu hồng của bụi cuốn theo yên ngựa đến màu xanh của ngàn dâu vô tận là cả một sắc màu tâm lý màu của chia ly cách biệt xa xôi. Tâm tư con người ẩn dấu hiển hiện dưới hình bóng của cảnh vật thiên nhiên vừa nhẹ nhàng thấp thoáng vừa cô đơn buồn tủi. Câu thơ “Kiều” như gợi lại cảnh biệt ly dõi trông và thương nhớ của “đôi lứa thiếu niên” trong “chinh phụ ngâm” thuở nào:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

       Hai câu thơ tiếp theo là hai hình ảnh đối ngẫu: “người về” với “kẻ đi” đã cực tả tâm trạng Kiều:

“Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”.

       Đây là cảm nhận của Kiều về cảnh ngộ và số phận hai người. Cả hai đều cô đơn và nhỏ bé như nhau thấm thía một cảm giác lẻ loi bất lực: người về thì “chiếc bóng” kẻ đi xa thì “một mình” người thì “năm canh” vò võ thao thức kẻ thì “muôn dặm… xa xôi”. Lứa đôi ở hai phía chân trời cách trở. Kiều vừa thương mình vừa thương kẻ đi xa buồn tủi cho thân phận. Cấu trúc câu thơ rất đặc sắc được thể hiện ở cách sử dụng các số từ đặt trong thế đối lập tương phản: “chiếc” với “năm” “muôn” với “một” đã làm nổi bật nỗi buồn thao thức đơn chiếc lẻ bóng của nàng Kiều… là vô cùng vô tận.

       Người đời chẳng bao giờ quên được vầng trăng thề nguyền trong cảnh tình giữa “người quốc sắc kẻ thiên tài”. Người đọc cũng từng bị ám ảnh về vầng trăng li biệt trong đêm thu đầu tiên khi Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều.

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”.

       Đây là hai câu thơ tuyệt bút. Nguyễn Du đã lấy ngoại cảnh (vầng trăng) để đặc tả tâm cảnh Thuý Kiều. Có phải Kiều và Thúc Sinh hai người như một vầng trăng tròn bị cắt bị “xẻ” làm hai nửa? Hay từ nay trở đi mỗi người một phương trời chỉ soi lẻ một vầng trăng mà chỉ thấy một nửa? Trăng thượng huyền hay trăng hạ huyền mà chỉ có một nửa: nửa thì soi gối chiếc của nàng Kiều cô đơn nửa thì soi dặm trường một mình lẻ loi của Thúc Sinh?

       Câu thơ vừa xót xa vừa ai oán. Chữ “ai” trong câu thơ “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” như một tiếng thở dài ngao ngán về sự bất lực trươc số phận. Ai đã đang tâm chia rẽ hạnh phúc tròn đầy êm thấm của Kiều? Số phận lẽ mọn buộc nàng phải cam chịu và chấp nhận? Vì ai mà Thúc Sinh phải đi về Vô Tích “muôn dặm một mình xa xôi?”. Cuộc chia tay không thể tránh khỏi. Kiều như dự cảm một cuộc chia tay vĩnh biệt đã bắt đầu. Không phải là từ biệt mà là sự chấm dứt của tình duyên. Có thể họ còn gặp nhau nhưng chẳng bao giờ tái hợp nữa. Tràn ngập cả không gian và thời gian là nỗi buồn nhớ xa xôi đến muôn dặm. Thúc Sinh với chuyến đi này sẽ phải “đối diện” với người vợ cả “Ở ăn thì nết cũng hay – Nói điều ràng buộc thì tay cũng gìa”. Kiều phấp phổng lo âu càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết!

       Hai câu thơ cuối đoạn đã thể hiện sâu sắc lòng thương cảm xót xa của thi hào Nguyễn Du đối với số phận và hạnh phúc của nàng Kiều và cho thấy ngòi bút tài hoa của ông. Gần 200 năm trôi qua người đọc thật khó phân định nguồn gốc nguồn cảm hứng của hai câu thơ này. Phải chăng Nguyễn
Du đã mượn ca dao để nói lên cảm hứng của mình? Hay là nhà thơ dân gian đã mượn câu thơ “Kiều” để khơi nguồn thi hứng? Rõ ràng “Truyện Kiều” đã thấm sâu vào hồn dân tộc đã trở thành lời ru câu hát dân gian:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?

Đưa nhau một bước lên đàng

Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa…”

                            (Ca dao)

       Đoạn thơ “Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều” có kẻ ở người đi có chia tay bịn rịn nhưng chủ yếu là sự hoà nhập giữa cảnh vật với con người giữa tình người và cảnh vật. Cảnh từ biệt tình chia ly đã thể hiện tài tình cảm hứng phúc của tuổi trẻ. Giọng thơ nhẹ nhàng mênh mang lan toả. Hình tượng vầng trăng bị ai đó “xẻ làm đôi” để lại trong lòng ta bao xót thương ám ảnh. Đặc biệt trong cuộc từ biệt này nhà thơ không gọi đây là nàng Kiều kia là chàng Thúc Sinh mà gọi bằng “người” “kẻ” những đại từ phiếm chỉ ấy xuất hiện năm lần trong đoạn thơ ở trong hai cảnh ngộ giữa không gian: “người về – kẻ đi” làm cho tình thơ về nỗi buồn chia ly chia lìa mang tầm phổ quát của muôn đời. Đây là cuộc chia tay của tình yêu muôn đời. Nó đã “ngang giá với một thiên phú biệt li”. Đó là lời bìn hay nhất thâm thía nhất đích đáng nhất lời bình của nhà nho Vũ Trinh (1759-1828) đời Nguyễn về 8 câu thơ “Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều”.

Đọc hiểu đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) – Bài số 2

       Truyện Kiều của Nguyên Du thật sự đã mang tới cho người đọc những cảm xúc những bài học cuộc sống không những thế còn thương cảm cho nàng Kiều và cho những mối tình giang giở của nàng. Cuộc đời Kiều nếu mối tình đầu là Kim trọng đã mang lại cho Kiều những tình cảm đầu đời thì Từ Hải là một người anh hùng là bờ vai mà Kiều có thể tựa vào. Bên cạnh đó một người mà Kiều dành tình cảm nhiều không kém đó chính là chàng Thúc Sinh. Đây cũng chính là nguyên do mà Nguyễn Du đã cho ra đời đoạn trích Thúc Sinh từ biệt thúy Kiều với những câu thơ thấm đậm tình cảm đồng cảm.

       Thúc Sinh là một người đã có vợ Nhưng thúc sinh đã cứu rỗi cuộc đời của thúy Kiều thoát khỏi kiếp lầu xanh nhơ nhuốc nên Kiều rất lấy làm cảm tạ. Đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều đã lấy đi nhiều nước mắt của độc giả khi chứng kiến tình cảnh éo le của hai con người này.

Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Dặm hồng, bụi cuồn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

       Đây là một trong những câu thơ mở đầu của cảnh tượng từ biệt giữa Thúy Kiều và Kim trọng đầy đau lòng. Đó chính là khi cô rơi vào hoàn cảnh cuộc đời là một cô kĩ nữ lầu xanh, đã chung chăn gối biết bao nhiêu người đàn ông, nhục nhã khiến cho lương tâm cô lúc nào cũng không yên nhưng chàng trai tưởng rằng thói trăng hoa Thúc Sinh ấy lại mang lại những ngày tháng hạnh phúc cho Kiều.

       Sống bên thúc Sinh với không một danh phận gì nhưng ít ra bên cạnh Thúc Sinh thúy Kiều thoát khỏi cảnh tiếp khách và ê chề với những đêm và thú vui của khách làng chơi. Thúy Kiều cảm thấy biết ơn cũng khiến cho Kiều mên chàng nhưng nỗi chàng lại là người có vợ và người vợ ấy lại rất co uy quyên khiến cho Kiều không thể không e ngại. Khuyên Thúc Sinh trở về bên Hoạn Thư nhưng thâm tâm nàng vẫn như muốn níu lấy chàng lại. điều này được thể hiện khi Kiều níu lấy vạt áo chàng Thúc bịn rịn khó rứt ra rồi khi chàng Thúc lên đến ngựa thì nàng mới chịu buông tay “chia bào”. Có thể nói đó là một hình ảnh đầy nỗi buồn của Kiều. Bước chân ngựa xa vạn dặm, bụi cuốn theo những bước ngựa phi ấy thì dần dần hình ảnh chàng Thúc cũng khuất dần sau ngàn dâu xanh.

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi,

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

       Tất cả như nhuốm một màu tâm trạng vừa buồn tủi lại vừa thương thay cho số kiếp của mình, đó là một nỗi buồn thương vô hạn, tất cả sự chung đôi như tan biến vĩnh viễn, tất cả những niềm vui, niềm hạnh phúc cũng theo chàng Thúc Sinh. ở lại bên cạnh Thúy Kiều chỉ còn lại đây những tàn tạ của cảnh vật của tâm trạng. Thúy kiều như mong mỏi, thức trắng nhớ thương hay thiếu bóng chàng Thúc Sinh. Giờ đây khi người thương đã đi khuất bóng thì chỉ còn mình nàng ngồi đây với những buồn thương tủi phận. Vầng trăng không còn nguyên vẹn mà nó nhuốm màu của sự chia ly như bị xẻ làm đôi và không biết rằng ai sẻ. Sự trống trải lẻ bóng và tâm trạng buồn phiền của Kiều đã nhuốm lấy mọi vật xung quanh

       Dưới ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vât tài tình của Nguyễn Du, những nét tâm trạng và cảnh chia ly đau khổ của nàng Kiều với chàng Thúc dần được vén ra. ở đó chúng ta thấy cảnh tượng họ có duyên đến với nhau nhưng lại không có phận làm vợ làm chống. Nghệ thuật của thơ xưa ước lệ Nguyễn Du đã mang đến cho chúng ta những cảm xúc khó quên về sự khó khăn và cảm xúc sâu kín trong tâm hồn Kiều.

Đọc hiểu đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) – Bài số 3

       Có một người đã từng nhận xét Truyện Kiều của Nguyễn Du là “ mực biết múa, bút biết bay, văn biết nhảy”. thật sự câu nói đó chẳng ngoa chút nào. Đến với Truyện Kiều chúng ta không thể không công nhận sự hấp dẫn của nó. Nói về cuộc đời đầy gian truân của Kiều thì ngòi bút Nguyễn Du như thăng hoa cảm xúc đồng cảm với số phận người phụ nữ. có thể nói trong cuộc đời Kiều đã có những bóng chàng trai đến bên Kiều làm cho Kiều hạnh phúc. Ngoài Kim Trọng, người mà Kiều thật sự yêu thương và kính trọng nhất, ngoài Từ Hải anh hùng cứu vớt đời Kiều thì còn có chàng Thúc Sinh. Tuy rằng chàng Thúc đã có vợ nhưng chính chàng đã có công cứu vớt Kiều ra khỏi lầu xanh. Nhưng thật không may khi cuộc tình ấy cũng đến lúc phải chia đôi vì hoàn cảnh không thể cho phép. Sự chia ly quyến luyến ấy được nhà thơ Nguyễn Du thể hiện rất rõ qua đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều.

       Mở đầu đoạn thơ Nguyễn Du đã mang đến cho người đọc một cảm giác thật chua xót với số phận nàng Kiều:

“Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Dặm hồng, bụi cuồn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh. ”

       Trước mắt chúng ta hiện lên một cảnh tượng đầy đau lòng, đó chính là sự biệt li giữa hai con người. Đối với Kiều mà nói tình yêu duy nhất và người yêu mà Kiều yêu nhất đó chính là Kim Trọng thế nhưng trong cái hoàn cảnh cuộc đời là một cô kĩ nữ lầu xanh, nàng đã chung chăn gối biết bao nhiêu người đàn ông. Cái sự nhục nhã khiến cho lương tâm cô lúc nào cũng không yên nhưng chàng trai tưởng rằng thói chăng hoa Thúc Sinh ấy lại mang lại những ngày tháng hạnh phúc cho Kiều. Điều đầu tiên có ý nghĩa rất lớn với Kiều đó chính là được cứu thoát ra khỏi nơi buôn thịt bán người ấy.

       Sống với Thúc Sinh không theo một danh nghĩa nào cả, kiều không có một thân phận gì nhưng ít ra Kiều không phải tiếp khách nữa. Và chính sự biết ơn cũng khiến cho Kiều mên chàng. Không những thế chàng như chỗ dựa tinh thần cho Kiều vậy. Nhưng khổ một nỗi chàng lại là người có vợ và người vợ ấy lại rất co uy quyên khiến cho Kiều không thể không e ngại. Kiều khuyên chàng thúc trở về bên Hoạn Thư để tự thú nhưng thâm tâm nàng vẫn như muốn níu lấy chàng lại. Dù gì thì cũng đã mang chút gì đó giống la vợ chồng. Vậy mà nay đôi ngã, Kiều chính là người quyết định nhưng chính cái quyết định ấy cũng khiến cho Kiều không thoải mái. Hình ảnh nàng Kiều níu lấy vạt áo chàng Thúc bịn rịn khó rứt ra rồi khi chàng Thúc lên đến ngựa thì nàng mới chịu buông tay “chia bào”. Có thể nói đó là một hình ảnh đầy nỗi buồn của Kiều. Rừng thu trong thơ cổ lại một lần nữa hiện lên ở đây và nó nhuốm màu quan san. Nhà thơ dùng thủ pháp ước lệ để cho thấy sự xa xôi cách trở của hai người. Và khi những bước chân ngựa xa vạn dặm, bụi cuốn theo những bước ngựa phi ấy thì dần dần hình ảnh chàng Thúc cũng khuất dần sau ngàn dâu xanh.

       Thế rồi nàng Kiều ở lại với những trăn trở buồn thương, vậy là từ này chỉ còn mình Kiều mà thôi, không còn ai cho nàng một bờ vai để nàng dựa vào cả:

“Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi,

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. ”

       Những câu thơ vẽ lên một tâm trạng buồn thương vô hạn, tất cả sự chung đôi như tan biến vĩnh viễn, tất cả những niềm vui, niềm hạnh phúc cũng theo chàng Thúc mà ra đi chỉ còn lại đây những tàn tạ của cảnh vật của tâm trạng. Người con gái năm canh như thức trắng nhớ thương hay thiếu bóng chàng Thúc Sinh. Người thương người nhớ ấy đã vạn dặm mà xa nàng rồi chỉ còn mình nàng ngồi đây với những buồn thương tủi phận. Không chỉ người mà đến cảnh vật cũng nhuốm màu phôi pha của tâm trạng. Vầng trăng ngày nào giờ đây cũng không còn nguyên vẹn mà nó nhuốm màu của sự chia ly. Nó cũng như được xẻ làm đôi và không biết rằng ai sẻ. Có thể nói chính tâm trạng chia ly của Kiều đã làm cho cảnh vật vốn vĩnh hằng cũng không thể trọn vẹn. Nó gợi lên sự tan đàn sẻ nghé buồn tủi của Kiều. Ngay cả đến chiếc giường, cái gối cũng vậy, nó không bị xẻ nhưng nó thiếu đi một người nằm. Sự trống trải khiến cho nhân vật càng chìm trong sự cô đơn.

       Qua đây ta thấy được những nét tâm trạng và cảnh chia ly đau khổ của nàng Kiều với chàng Thúc. Hai người có duyên đến với nhau nhưng lại không có phận làm vợ làm chống. Chính điều đó quyết định đến hành động của Kiều. Nhưng qua đoạn trích trên ta thấy là do Kiều bị hoàn cảnh ép buộc chứ bản thân Kiều không hề mong muốn điều đó. Bằng biện pháp nghệ thuật của thơ xưa ước lệ Nguyễn Du đã mang đến cho chúng ta những cảm xúc khó quên về sự khó khăn của nàng Kiều.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *