Bình giảng bài thơ Lai Tân lớp 11

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Bình giảng bài thơ Lai Tân lớp 11. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Bình giảng bài thơ Lai Tân – Bài mẫu 1

Bình giảng bài thơ Lai Tân lớp 11 (ngắn gọn, hay nhất)

      Tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh gồm những bài thơ có tính nhật kí, tác giả ghi lại những sinh hoạt trong tù, ghi lại tâm tư, tình cảm của chính tác giả trong những ngày đen tối chốn tù lao, hoặc ghi lại những điều tai nghe mắt thấy trên đường bị giải từ nhà lao này sang nhà lao khác. Duy có bài thơ Lai Tân là có giá trị tổng kết hiện thực trong và ngoài nhà tù, phác họa được bộ mặt của nhà cầm quyền trong và ngoài nhà tù ở huyện Lai Tân mà cũng là bộ mặt điển hình cho nhà cầm quyền Trung Quốc dưới thời Quốc dân đảng bấy giờ.

      Bài thơ mở đầu như văn phóng viên, lạnh lùng mà trung thực:

Ban trưởng nhà lao chuyền đánh bạc.

      Hồ Chí Minh làm thơ, nhưng cũng đừng quên Người là một nhà báo lừng danh thời hoạt động cách mạng ở Pháp, đã từng làm chủ bút báo Người cùng khổ. Tập thơ Nhật kí trong tù có nhiều nét báo chí như cách chọn nhân vật, lựa sự kiện, nghệ thuật đưa tin. Trong câu thơ mở đầu, tác giả đã chộp được một sự kiện hết sức kinh ngạc là tên ban trưởng nhà lao đánh bạc! Làm sao trong tù, tác giả nhạy tin tức đến thế? Có gì đâu, tên cai ngục này đánh bạc trong nhà tù, đánh bạc công khai với tù cờ bạc. Người dân đánh bạc ở ngoài thì bị bắt, bị tù; còn con bạc vào tù thì được tha hồ đánh bạc. Có lần tác giả đã châm biếm:

Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội

Trong tù đánh bạc được công khai

Vào tù con bạc ăn năn mãi,

Sao trước không vô quách chốn này.

      Tù nhân cờ bạc có người bị hành hạ, đói rét, chết ngay trong nhà tù (Đêm qua còn ngủ bên tôi, Sáng ra anh đã về nơi suối vàng), thật là thê thảm! Có thể nói, nhà tù là nơi thực thi luật pháp, nhưng nhà tù ở Lai Tân thủ tiêu luật pháp. Ban trưởng nhà lao đã biến nhà tù thành chỗ hắn kiếm chác. Đánh bạc với tù cờ bạc trong tù là một cách ản cướp trắng trợn của tên ban trưởng đối với tù nhân. Câu thơ chỉ đưa tin, không bình luận mà có sức tố cáo sâu sắc chế độ nhà tù ở Lai Tân.

      Với ra ngoài nhà tù, tác giả lại tóm ngay được một tên trưởng nữa làm bậy. Lại cũng là một quan chức thi hành pháp luật: Cảnh sát trưởng ở Lai Tân!

Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền.

(Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh)

      Nạn ăn hối lộ trong xã hội Trung Quốc thời đó đã trầm trọng. Nhà tù lại càng thối nát. Tù nhân vào tù phải nộp tiền! Nếu không có tiền thì mỗi bước anh di mỗi bước phiền. Muốn có đèn sáng phải có tiền, muốn có nước dùng phải có tiền. Cảnh sát trưởng giải phạm nhân cũng kiếm chác. Tác giả không còn nén được sự căm giận, đã lộ ra trong mấy tiếng cảnh trưởng tham thôn (cảnh sát trưởng tham lam).

      Tác giả đã lôi ra hai tên trưởng ở Lai Tân làm bậy, tên thì đánh bạc, tên thì ăn hối lộ. Còn tên huyện trưởng thì làm gì mà có vẻ nghiêm túc. Hình ảnh thơ thật là bí mật, mà cũng thật là hay:

Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự.

(Chong đèn huyện trưởng lo công việc)

      Trong bản dịch Nhật kí trong tù lần thứ nhất, câu thơ này được dịch là Chong đèn huyện trưởng làm công việc. Từ biện dịch là làm dù chưa hay nhưng vẫn tốt hơn là lo. Lí giải dần dần, ta sẽ thấy sự bất ổn của từ này.

      Theo luân lí bình thường, tên ban trưởng làm bậy, tên cảnh trưởng làm bậy, đến tên huyện trưởng tất phải làm bậy. Vậy mà Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự. Tên huyện trưởng này làm gì? Nhóm dịch giả Nhật kí trong tù lần thứ nhất không lí giải được, đành hỏi Đại sứ quán Trung Quốc. Tùy viên Văn hóa Đại sứ quán Trung Quốc nói là quan lại thời đó không làm gì cả, chỉ chong đèn hút thuốc phiện. Thế là từ đó các sách giáo khoa và giáo trình đại học đều giảng là ngục trưởng đánh bạc, cảnh sát trưởng ãn hối lộ, huyện trưởng hút thuốc phiện!

      Có nhà nghiên cứu vẫn còn hoài nghi. Giáo sư Lê Trí Viễn viết: “Bài Ở Lai Tân có một câu không rõ nghĩa ngay ở nguyền văn: Khiêu đăng huyện trưởng biện công sự (dịch: Khiêu đèn, huyện trưởng làm công việc). Hai câu thơ trên nói sự đánh bạc, và hối lộ, còn ở đây anh huyện trưởng làm công việc (việc công chứ không phải là công việc) gì mà phải đốt đèn? Có người nói hắn moi việc để kiếm chác, nhưng như thế cũng là ăn đút. Có ý lại cho rằng: Hay là hắn ta hút thuốc phiện? Không rõ. Chỗ này có lẽ nên nghiên cứu thêm”.

(Tác phẩm mới, số 8)

      Nhóm dịch giả đã viết thư hỏi tác giả. Đại ý câu hỏi là tên huyện trưởng trong bài thơ Lai Tân làm công việc hay hút thuốc phiện. Hồ Chủ tịch đã gạch bỏ ba chữ hút thuộc phiện bằng mực đỏ. Nhận được hồi âm của tác giả, các học giả lại hoang mang. Thế là bí mật của câu thơ vẫn còn nguyên.

      Theo tôi, không nên hiểu câu thơ này theo logic mà phải hiểu theo nghĩa phi logic (hình thức). Cứ hiểu là tên huyện trưởng này làm việc công (dịch là công việc cũng không suy suyển với nguyên tác là mấy). Thì hắn đang làm việc công đấy thôi.

      Hắn làm huyện trưởng Lai Tân mà hai tên quan tai to mắt lớn là ban trưởng và cảnh trưởng làm bậy sờ sờ trước mũi hắn, hắn không thấy. Loạn đến thế là cùng, thối nát đến thế là cùng. Vậy mà dưới đèn chong, dưới mắt hắn:

Lai Tân y cựu thái bình thiền.

(Trời đất Lai Tân vẫn thái bình)

      Bọn quan chức dưới quyền của tên huyện trưởng làm giặc trước công đường, chứ chưa nói đến bọn nha lại dưới xã thôn, vậy mà hắn vẫn tự hào về cái huyện Lai Tân hắn cai trị là mọi sự đều tốt đẹp, thái bình. Nụ cười châm biếm của Hồ Chí Minh thật sâu cay! Hãy nghe thêm lời bình của nhà thơ Hoàng Trung Thông về tên huyện trưởng này: “Ớ đâu đánh giặc thỉ cứ đánh, còn cái trời đất Lai Tân này thì vẫn thái bỉnh như muôn thuở. Một chữ thái bình mà xâu táo lại bao nhiều việc làm trên vốn là chuyện muôn thuở của xã hội Trung Quốc còn giai cấp bóc lột thống trị. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự thái bình dối trá nhưng thực sự là đại loạn bèn trong”.

      Xét về mặt cấu trúc, không nên xem ngang bằng ba câu một, hai, ba vì như vậy thì chủ đề bài thơ chỉ là phê phán những thói hư tật xấu của bọn quan lại đương thời ở Lai Tân. Theo tôi, hai câu đầu là tầng trệt, câu thứ ba đã vút lên thành gác, thành lầu, thành lâu đài thơ. Và như vậy, chủ đề của bài thơ Lai Tân là lên án thái độ và hành động vô trách nhiệm của nhà cầm quyền ở Lai Tân mà cũng là của xã hội Trung Quốc thời Quốc dân đảng. Bài thơ có giá trị khái quát rộng lớn và sâu sắc biết bao.

Bình giảng bài thơ Lai Tân – Bài mẫu 2

      Bài thất ngôn tứ tuyệt “Lai Tân” là bài thơ số 97 trong số 133 bài thơ của “Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh. Bài thơ số 98 sau đó, với nhan đề “Dáo Liễu Châu”, tác giả ghi rõ ngày viết là 9-12-1942, có câu: “Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu – Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng…”. Từ nhà lao Thiên Giang, Bác Hồ viết bài “Thiên Giang ngục” ngày 1-12-1942 (bài 94), rồi bị giải đi Lai Tân bằng tàu hỏa, được ngồi trên đống than, Bác hóm hỉnh viết: “Nhưng so với đi bộ còn sang chán!”. Qua đó, ta biết bài thơ “Lai Tân” được Hồ Chí Minh viết vào tuần đầu của tháng 12-1942. Vì là “Nhật kí…” nên phải tìm hiểu cặn kẽ như thế!

      “Lai Tân” là một bài thơ nhằm tố cáo cái hiện thực xấu xa, thối nát của xã hội Trung Quốc thời ấy hay chỉ là tiếng cười châm biếm của nhà thơ về những “con người” trong đám chức sắc ở Lai Tân mà nhà thơ nhìn thấy? Một câu hỏi rất thú vị được đặt ra.

Đây là bản dịch bài thơ của Nam Trân:

“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,

Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh,

Chong đèn Huyện trưởng làm công việc,

Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.

      Lai Tân là một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Câu thơ thứ nhất nói về tên Ban trưởng – một tên cai ngục. Hắn không hung dữ, không quắt quay như những tên chúa ngục khác, mà chỉ “ngày ngày đánh bạc” (thiên thiên đổ). Hắn đã biến nhà tù thành một sòng bạc giữa thanh thiên bạch nhật. Nhà tù không phải là nơi cải tạo phạm nhân, không phải là nơi để thực thi luật pháp và công lí. Ban trưởng và tù nhân đều có vị thế như nhau: tất cả đều là con bạc, đều cùng hội đỏ đen, đang sát phạt lẫn nhau, cùng máu mê như nhau. Câu thơ chữ Hán nghĩa là: “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc” được dịch thành “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc” kể cũng hay, ở đây tiếng cười bật ra ở cái nghịch lí của sự vật, của con người, của hiện tượng mà nhà thơ nói đến, nhà thơ nhìn thấy, tiếng cười khẽ, thâm trầm, sâu sắc giàu trí tuệ.

      Vì đã trải qua “hơn trăm ngày ác mộng”, bị giải lui giải tới mấy chục nhà lao tỉnh Quảng Tây, Người đã nhìn thấy bao nghịch lí, nghịch cảnh của bức tranh tù ngục, “cái oái oăm của sự đời”:

“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,

Trong tù đánh bạc được công khai,

Vào tù con bạc ăn năn mãi:

Sao trước không vô quách chốn này!?”.

                                                 (Đánh bạc)

      Mỗi bức tranh là một tiếng cười khẽ, châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thuý, bài thơ “đánh bạc” giúp ta cảm và hiểu sâu hơn, thú vị hơn bức chân dung “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc”.

      Câu thơ thứ 2, tác giả hình như nhìn thấy trên đường chuyển lao một cảnh sát trưởng:

“Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền”.

      Nam Trân đã dịch: “Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh”.

      Nguyên tác: Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải.

      Câu 1 đối xứng với câu 2, mỗi bức chân dung biếm họa có một nét riêng. Ban trưởng thì lo ăn chơi cờ bạc. Cảnh trưởng thì trắng trợn “móc túi” ăn tiền phạm nhân. Chuyện bọn cai ngục, cảnh sát trưởng ăn tiền phạm nhân đã thành “lệ” mà nhà thơ đã nhiều phen trở thành “nạn nhân”. “Mới đến nhà giam phải nộp tiền – Lệ thường ít nhất năm mươi nguyên” (“Tiền vào nhà giam”), ” Vào lao phải nộp khoan tiền đèn – Tiền Quảng Tây vừa đúng sáu nguyên” (“Tiền đèn”).

      Bình diện không gian xã hội trong bài thơ “Lai Tân” được mở rộng ở bức chân dung thứ ba:

“Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”.

      “Thiêu đăng” là chong đèn, “biện công sự” nghĩa là làm việc công. Câu thơ dịch đã đảo việc công thành công việc. Những năm 60, nhiều bài viết về “Ngục trung nhật kí” đều cho rằng tên Huyện trưởng này chong đèn đêm đêm hút thuốc phiện, từ đó nhấn mạnh giá trị tố cáo hiện thực xấu xa, thôi nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Sự thật không phải như thế, chính Hồ Chủ tịch đã lấy mực đỏ gạch bỏ ba chữ “hút thuốc phiện” trong bức thư của nhóm dịch giả gửi hỏi ý kiến Người.

      Trong xã hội cũ, bọn quan lại tự cho mình là “phụ mẫu” của dân, là “đèn trời soi xét”. Trong câu thơ chữ Hán có một chữ “đăng” rất đặc biệt:

“Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”.

      Không phải là ngọn đèn công lí tỏa sáng vầng trán Huyện trưởng, một vị quan to mặt lớn quang minh chính đại? Ông ta có vẻ “mẫn cán” lắm, lo công việc quan suốt ngày chưa đủ, đêm đêm còn chong đèn làm việc công? Nhưng đâu phải thế, ông huyện trưởng Lai Tân là một kẻ rất quan liêu! Chuyện đánh bạc của Ban trưởng, chuyện ăn tiền phạm nhân bị giải của cảnh trưởng sờ sờ ra đó, sao ông ta không hay, sao ông ta không biết? Hay ông Huyện trưởng Lai Tân này là “cái ô” để bao che bọn thuộc hạ làm bậy “kiếm ăn quanh”!. Ba bức chân dung biếm họa song hành, cùng nối tiếp xuất hiện, mang một ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc, nó cho thấy một hệ thống quan lại Lai Tân là thế! Bộ máy quan liêu của chính quyền Quảng Tây thuở ấy là thế!

      Trước những “gương mặt” ấy, thái độ nhà thơ như thế nào?

Câu cuối bài thơ, Người viết:

“Lai Tân y cựu thái bình thiên”

(Lai Tân vẫn thái bình như xưa).

      Câu thơ toát lên một nụ cười châm biếm nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhà thơ như hỏi một cách bâng quơ: Lai Tân với hệ thống quan lại và chính quyền như vậy, thế mà !‘vẫn thái bình như xưa”. Cách mỉa mai, châm biếm của tác giả “‘Ngục trung nhật kí” là thế! Tính “hướng nội” của “Nhật kí trong tù” được thể hiện rất rõ về mặt đặc điểm thể loại, nó vừa là nhật kí lại vừa là thơ, chủ yếu là thơ trữ tình, tác giả viết cho mình, để mà suy ngẫm, để mà chiêm nghiệm, “Vừa ngẫm vừa đợi đến ngày tự do”. Vì thế, bài thơ “Lai Tân” tuy có nêu ra ba chân dung về Ban trưởng, Cảnh trưởng, Huyện trưởng tiêu biểu cho cái xấu xa, đồi bại của bọn quan lại chính quyền Tưởng Giới Thạch thuở ấy, nhưng chỉ là để mỉa mai, châm biếm cái nghịch lí, nghịch cảnh mà nhà thơ đã và đang phải đối diện và cam chịu.

      Đọc “Ngục trung nhật kí”, ta bắt gặp một số “quan chức” nhân hậu, đáng yêu. Là Sở trưởng Long An họ Lưu “Ai ai cũng bảo bác công bình”. Là Tiên sinh họ Quách “ân cần đối đãi ta”. Là Trưởng ban họ Mạc “chẳng dùng quyền thế, chỉ dùng ân”. Khoa viên họ Trần thì “nho nhã”, Chủ nhiệm họ Hầu thì “anh minh”… Cách nhìn của nhà thơ rất nhân hậu, trọng thị và công bằng, giữa cái xấu xa vẫn tìm thây cái tốt đẹp, cái tình người mà trân trọng. Chính nhờ những con người này, tấm lòng này, mà ta hiểu thêm cảm hứng chủ đạo bài thơ “Lai Tân”: một nụ cười châm biếm tỏa rộng. Sau 3 chân dung biếm họa là một nhận xét trào lộng thâm trầm, sâu sắc. Nụ cười châm biếm trong bài thơ “Lai Tân” là nụ cười của một nhân cách văn hoá lớn: giàu trí tuệ và đạo đức cao đẹp.

      Trong bài “Một tiếng nói hướng nội: Thế giới nhà tù và con người kiên nghị – trữ tình của tác giả “, Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn Huệ Chi có viết:

      “Có khi điều trái ngược đã vượt ra khỏi khung cảnh một nhà tù, trở thành tính chất tiêu biểu cho cả xã hội Trung Hoa thời ấy (mà thật ra cũng chẳng riêng gì cho Trung Hoa và cho thời ấy): quan trên trì trệ, vô trách nhiệm, cấp dưới chỉ lo xoay xở kiếm ăn, mặc cho mọi tệ nạn cứ tự do hoành hành:

“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,

Giải người Cảnh trưởng kiếm ăn quanh,

Chong đèn, Huvện trưởng bàn công việc,

Trời đất Lai Tân vẫn thái bĩnh”.

                                            (Lai Tân)

      Tất cả những việc kì cục bày ra trước mắt như thế có ý nghĩa gì? Phải chăng đây không là một sự “lưỡng phân” tiếp tục trong nhận thức của nhà thơ: ngay khi đã phải “nhập thân” vào thực tại như một hiện hữu không thể chối bỏ, ông vẫn lần lượt đi tìm ý nghĩa của cái thực và cái giả ở từng khía cạnh khác nhau và trong các hình thức tồn tại khác nhau hiển nhiên của nó, có khi điều rút ra là một nụ cười buồn…”.

Bình giảng bài thơ Lai Tân – Bài mẫu 3

      Trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh chủ yếu hướng nội, như một nhật kí tâm sự, thường dùng bút pháp trữ tình để thể hiện vẻ đẹp và con người của Hồ chủ tịch như bài “chiều tối” nhưng trong đó có nhiều bài thơ hướng ngoại, nó như một thứ nhật kí thế sự để ghi lại hiện thực của chế độ nhà tù và xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, điển hình là bài “Lai Tân”.

      Chúng ta cùng nhau đi phân tích bức tranh hiện thực về chế độ nhà tù và rộng ra đó là xã hội Trung quốc lúc bấy giờ thể hiện thông qua cảm nhận của tác giả, ghi lại sự thật những gì tai nghe mắt thấy ở huyện Lai Tân, đồng thời cùng nhau tìm hiểu về bút pháp nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ đó là bút pháp châm biếm, đả kích thông qua việc người phát hiện ra những mâu thuẫn trào phúng, xây dựng hình tượng nhân vật trào phúng, ngôn ngữ trào phúng.

“Giam phòng Ban trưởng thiên thiên đổ,

Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền;

Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,

Lai Tân y cựu thái bình thiên.”

Dịch nghĩa:

“Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc,

Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải;

Huyện trưởng chong đèn làm việc công,

Lai Tân vẫn thái bình như xưa.”

      Đầu tiên chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu bức tranh hiện thực về tình trạng thối nát của bọn quan lại trong xã hội Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch, qua đó ta thấy được thái độ của tác giả.

      3 câu thơ đầu gợi lên hình ảnh của 3 con người với 3 sự việc:

““Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc,

Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải;

Huyện trưởng chong đèn làm việc công”.

      Ban trưởng thì ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng thì ăn tiền của phạm nhân, ăn tiền đút lót của phạm nhân đánh bạc, còn huyện trưởng thì đốt đèn để làm việc, nhưng đó chỉ là cách nói thôi, nhưng theo ý kiến của nhiều người thì hình ảnh chong đèn làm việc là hình ảnh mà tên huyện trưởng hút thuốc phiện. Qua đó ta thấy được bức tranh chung của xã hội thối nát lúc bấy giờ qua bút pháp tư sự tài tình của người. Ba câu thơ có tính chất liệt kê, kể lại, thuật lại những con người, sự việc mà tác giả tai nghe mắt thấy, đó là những hành động mà bọn quan lại thường làm lúc bấy giờ, đây chính là 3 con người, ba sự việc tiêu biểu nhất trong số rất nhiều sự việc mà tác giả tận mắt chứng kiến, để nói lên sự vô trách nhiệm, thối nát của quan lại lúc bấy giờ mà thậm tế nhất đó là những kẻ vô liêm xỉ, vô nhân đạo. Thời điểm sáng tác của bài thơ vào năm 1942, khi mà Trung Quốc bị phát xít Nhật xâm chiếm, đô hộ thế mà ở nhà tù Lai Tân này vẫn cứ nhởn nhơ, ăn chơi, không nghĩ gì đến hoàn cảnh của đất nước, của người dân, khi đất nước lâm nguy, mình là cơ quan, người có quyền lực trong tay đáng nhẽ ra phải tìm mọi cách để cứu đất nước, cứu nhân dân thì anh lại làm ngược lại, những con người đại diện cho bộ máy, pháp luật của một đất nước lại có thể dửng dưng, bình chân như vại trước thực trạng của đất nước.

      Trong tâm trí của bọn chúng lúc nào cũng chỉ nghĩ được rằng: ai chơi bời thì cứ chơi bời, ai hy sinh cứ hy sinh, ai chiến đấu chống giặc thì cứ việc mà làm mặc cho thực tình của đất nước.

“Lai Tân vẫn thái bình như xưa”

      Tiếp theo là 2 câu thơ cuối là lời nhận xét, kết luận, làm nổi bật lên sức mạnh châm biếm, đả kích. Trong mối tương quan với 3 câu thơ đầu thì cái kết của câu thơ cuối này là hết sức bất ngờ, đột ngột. nếu 3 câu thơ tác giả thuật lại một cách khách quan xã hội lúc bấy giờ, thì ở 2 câu thơ cuối tác giả đã trực tiếp phê phán và châm biếm tình trạng đất nước và quan lại thối nát lúc bấy giờ, bởi vì người hạ xuống 1 câu thơ, lời nhận xét có vẻ rất khách quan, rất dửng dưng.

      Tác dụng châm biếm, đả kích của câu cuối vừa tạo nên sự thống nhất trong ba câu thơ trên đồng thời tạo nên mâu thuẫn mang tính chất trào phúng. “Lai Tân vẫn thái bình như xưa”, sự thối nát của quan lại là bất thường mà lại rất bình thường, không phải do bị xâm chiếm, đô hộ mà bọn quan lại Trung Quốc lại ra nông nỗi như thế, không phải thời loạn mà trật tự, phép nước, kỷ cương bị đảo lộn mà sự việc: bóc lột phạm nhân, đánh bạc, hút thuốc phiện của bọn quan lại là bình thường, từng diễn ra.

      Mâu thuẫn trào phúng đó là tất cả sự thái bình của đất nước chỉ là dối trá còn thực chất đại loạn là bên trong, nghĩa là ở đây có sự mâu thuẫn giữa dối trá bên ngoài và sự thật bên trong.

      Kết thúc bai thơ bằng chữ “thái bình” là thi nhãn, là nhãn tự cho cả bài thơ, tác giả sử dụng cách nói ngược nghĩa và chính cách nói đó đã làm nên sức mạnh của biện pháp châm biếm, đả kích, nó vừa nhẹ nhàng nhưng lại hết sức sâu cay: đó là sự đại loạn và thối nát từ bên trong chính quyền, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đưa ra những nhận đinh, ý kiến rất hay đó là chỉ gồm 2 chứ “thái bình” lại được cân đo đong đếm bằng tổng cân nặng của cả bài thơ, cả bài thơ là 28 chữ, nhà thơ Hoàng Trung Thông nhận xét rằng: “một chữ “thái bình” mà xâu táo lại bao nhiêu việc làm trên vốn là muôn thuở của xã hội Trung Quốc, của giai cấp thống trị, chỉ một từ ấy mà xé toang tất cả mọi sự thái bình, dối trá nhưng thực sư là đại loạn bên trong.

      Tác phẩm “ nhật kí trong tù” có tác dụng về nhiều mặt, là tác phẩm được viết bằng nhiều bút pháp khác nhau. Và bài thơ “Lai Tân” lại được viết theo bút pháp trào phúng và có tự sự và nghệ thuật trào phúng, châm biếm được thể hiện ở câu thơ kết.

Bình giảng bài thơ Lai Tân – Bài mẫu 4

      Lai Tân là bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian bốn tháng đầu Hồ Chí Minh bị giam giữ tại các nhà tù quốc dân Đảng ở Quảng Tây, Trung Quốc. “Lai Tân” được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, là bài thơ số 97 trong số 133 bài thơ của “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh. Bài thơ mang nội dung phê phán chế độ nhà tù và xã hội Trung Quốc với nghệ thuật châm biếm sắc sảo.

      Lai Tân là một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Bối cảnh đầu bài thơ là một nhà tù ở Lai Tân, với kết cấu tự sự trào phúng, ba câu thơ đầu khắc họa hình ảnh và việc làm của 3 nhân vật có quyền hành lớn:

“Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ

Cảnh trưởng thư, thôn giải phạm tiền

Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”…

      Câu thơ thứ nhất Hồ Chí Minh dành để nói về tên Ban trưởng – một tên cai ngục. Xuất hiện trong thơ của Hồ Chí Minh, tên cai ngục này không hung dữ, tàn bạo, hách dịch như những tên chúa ngục cửa quyền, tàn ác thường thấy, mà ngược lại, hắn chỉ ngày ngày đánh bạc. Bản dịch viết:

“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc”

      Công việc của cai ngục là quản lý tù nhân, quản lý nhà tù, nhưng với tên cai ngục trong “Lai Tân” thì không!. Dưới bàn tay của hắn, nhà tù đã biến thành một sòng bạc giữa thanh thiên bạch nhật. Nhà tù không là là nơi cải tạo phạm nhân, không phải là nơi để thực thi luật pháp và công lý nữa, mà nó biến thành một song bạc- theo đúng nghĩa đen. Ở sòng bạc ấy, Ban trưởng và tù nhân đều có vị thế như nhau. Bởi vì tất cả đều là con bạc, đều cùng hội đỏ đen, đang sát phạt lẫn nhau, cùng máu mê như nhau.

      Nghĩa gốc của câu thơ chữ Hán chỉ là “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc” được dịch thành “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc” chính là một điểm nhấn hay. Qua cách dịch mỉa mai này, tiếng cười bật ra ở cái nghịch lí của sự vật, của con người, của hiện tượng mà nhà thơ nói đến. Chúng ta như thấy được cái nhà thơ nhìn thấy, lại cũng bật cười theo tiếng cười khẽ, thâm trầm, sâu sắc giàu trí tuệ của chính nhà thơ.

      Câu thơ thứ hai, bối cảnh chuyển biến từ nhà lao ra bên ngoài. Cách tự sự của Hồ Chí Minh khiến độc giả như hòa mình vào bối cảnh, thấy được ánh mắt của nhà thơ, cảm giác như đang tận mắt thấy hình ảnh vị Cảnh sát trưởng tham ô, nhận tiền từ phạm nhân:

“Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền”.

      Nghĩa là “Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải” được Nam Trân dịch thơ thành “Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh”. Cách dịch thơ này không những sát nội dung câu thơ Hán mà còn tiến thêm một bước trong việc thể hiện sự mỉa mia, khinh bỉ hành động xấu xa, nhơ nhớp của tên cảnh sát trưởng chốn Lai Tân. Về kết cấu, câu một đối xứng với câu hai, mỗi bức chân dung biếm họa có một nét riêng, nhưng lại rất “ăn nhập”, rất hài hòa. Ban trưởng thì lo ăn chơi cờ bạc, Cảnh trưởng thì trắng trợn “móc túi” ăn tiền phạm nhân. Qua cách sử dụng từ “chuyên đánh bạc” và “kiếm ăn quanh” càng làm nổi bật ý thơ rằng chuyện bọn cai ngục, cảnh sát trưởng ăn tiền phạm nhân đã thành “lệ”. Thậm chí, đó giống như việc hiển nhiên, như chân lý rằng đó mới chính là công việc hằng ngày thực sự của bọn chúng vậy!

      Bức tranh biếm họa ngày càng được phác họa rõ nét và đầy đủ qua câu thơ thứ ba:

“Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”.

Dịch thơ:

“ Chong đèn, huvện trưởng bàn công việc”

      Câu thơ mở ra một ý mới, nói tới một nhân vật có quyền cao hơn ở ngoài phạm vi nhà giam, là người đứng đầu của huyện Lai Tân. “Thiêu đăng” ở đây là chong đèn, “biện công sự” nghĩa là làm việc công. Câu thơ dịch đã đảo việc công thành công việc. Câu thơ không khỏi làm người đọc băn khoăn! Phải chăng đây là một vị quan tốt, một vị quan mẫu cán biết lo cho nước cho dân? Không mắc phải những tật xấu, không dính đến những tội lỗi như bản trưởng, cảnh trưởng? Nhưng nếu đặt câu thơ trong mạch thơ xuyên suốt toàn bài, ta phát hiện ý châm biếm mỉa mai hết sức sâu cay. Nếu đây là một vị quan tốt, biết lo cho nước cho dân, làm việc không quản ngày đêm thì tại sao dưới quyền ông lại có những thuộc hạ mắc nhiều nhược điểm xấu xa?! Vậy ông chồng đèn làm công việc gì?

      Vào những năm 1960, nhiều bài viết đều cho rằng tên Huyện trưởng này chong đèn đêm đêm hút thuốc phiện, từ đó nhấn mạnh giá trị tố cáo hiện thực xấu xa, thôi nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Nhưng sự thật không phải như thế, chính Hồ Chủ tịch đã lấy mực đỏ gạch bỏ ba chữ “hút thuốc phiện” trong bức thư của nhóm dịch giả gửi hỏi ý kiến Người.

      Trong xã hội cũ, quan lại tự cho mình là “phụ mẫu” của dân, là “đèn trời soi xét”. Thơ chữ Hán có một chữ “đăng” rất đặc biệt. Nhưng “đăng” ở đây không phải là ngọn đèn công lí tỏa sáng vầng trán Huyện trưởng, một vị quan to mặt lớn , anh minh, đường đường chính chính. Thoạt tiên, câu thơ miêu tả ông ta có vẻ “mẫn cán” lắm, lo công việc quan suốt ngày chưa đủ, đêm đêm còn chong đèn làm việc công, nhưng đâu phải thế, ông huyện trưởng Lai Tân là một kẻ rất quan liêu! Nếu không, chuyện đánh bạc của Ban trưởng, chuyện ăn tiền phạm nhân bị giải của cảnh trưởng sờ sờ ra đó, sao ông ta không hay, sao ông ta không biết? Hay ông Huyện trưởng Lai Tân này là “cái ô” để bao che bọn thuộc hạ làm bậy “kiếm ăn quanh”.

      Qua ba câu thơ đầu, từ ba bức chân dung biếm họa song hành, cùng nối tiếp xuất hiện tạo nên một bức biếm họa lớn, hoàn chỉnh;  mang một ý nghĩa thẩm mỹ đặc sắc, nó cho thấy một hệ thống quan lại Lai Tân nói riêng và bộ máy quan liêu của chính quyền Quảng Tây thời bấy giờ vô cùng mục ruỗng, thối nát, xấu xa đến tệ hại. Nhưng trước cái hiện thực tệ hại ấy, Hồ Chí Minh lại viết:

“Lai Tân y cựu thái bình thiên”

Được Nam Trân dịch thơ rằng:

“Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.

      Nhịp thơ và giọng theo đột ngột thay đổi. Theo logic, người đọc chờ đợi ở câu kết một lời mỉa mai châm biếm, tố cáo mạnh mẽ mẽ, lên án quyết liệt tình trạng thối nát của bọn quan lại ở Lai Tân, nhưng Hồ Chí Minh lại hạ một câu thơ có vẻ hờ hững, dửng dưng vô cảm. Tuy nhiên, thực chất câu kết là đòn đánh rất hiểm mà trong văn chương xưa gọi là “tiền văn không đoán được hậu văn”. Câu thơ tuy nhẹ nhàng nhưng sức đã kích thật quyết liệt, nó cho thấy tình trạng thối nát của bọn quan lại ở Lai Tân diễn ra hết sức bình thường, không có gì là đặc biệt, là bất ngờ, không phải là chuyện của thời loạn. Tình hình của bọn quan lại ở Lai Tân xưa nay vẫn thế, cái guồng máy chính vẫn cứ thế mà vận hành. Ban trưởng cứ ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng cứ ăn tiền của dân lúc dẫn giải, huyện trưởng cứ đêm đêm chong đèn mà chẳng làm việc công. Hiện thực thối nát ấy rất đáng phê phán, đáng lên án quyết liệt, thế nhưng nó lại cứ vẫn diễn ra suốt bao năm như vậy, như thể tiền lệ, khiến người ta nhìn nhiều hóa quen, không còn thấy lạ lùng, cũng không cần căm phẫn nữa!

      Về cách dùng từ ở câu thơ cuối, hữ “thái bình” chính là nhãn tự, là thi nhân. Hai từ “thái bình”  hạ xuống một cách tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng có sức mạnh đã kích lớn, nó cho thấy sự thái bình giả dối ở Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch. Thực chất là đại loạn từ bên trong, đây chỉ có thể là thái bình đối với bọn quan lại, chứ không thể thái bình với người dân. Nếu gắn vào hiện thực, bài thơ được sáng tác năm 1942 – lúc phát xít Nhật đang xâm lược TQ, đặt bài thơ trong hoàn cảnh ấy ta lại càng thấy rõ hơn thái độ vô tâm vô trách nhiệm của bọn quan lại ở Lai Tân. Đất nước bị chiếm đóng, đồng bào bị giết hại vậy mà trời đất Lai Tân “vẫn thái bình”. Đúng là một sự thái bình khiến ta cười ra nước mắt!

      Chỉ vỏn vẹn qua bốn câu thơ, không cần nhiều lời cay nghiệt, không miêu tả cụ thể từng chi tiết mà toàn bộ bộ mặt xấu xa, thối nát xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã hiện lên một cách cụ thể sinh động. Đó chính là cái tài trong cách dụng thơ, cách dùng từ và cách vận dụng nghệ thuật tự sự trào phúng bậc thầy của Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng “Lai Tân” là một tiếng cười đả kích xuất sắc của thơ Hồ Chí Minh trong “Nhật ký trong tù”: không đao to búa lớn, chỉ nhẹ nhàng mà thâm trầm sâu cay, có sức mạnh đã kích mãnh liệt nhắm thẳng vào đối tượng, mãi mãi về sau vẫn còn nguyên giá trị.

—/—

Trên đây là các bài văn mẫu Bình giảng bài thơ Lai Tân do Wikichiase sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *