Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi – Văn mẫu 12 hay nhất

Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ đề đa dạng như phân tích, cảm nhận, nghị luận. Cùng tham khảo bài Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi để hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi | 900 bài Văn mẫu 12 hay nhất

Dàn ý Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi

– Thể loại

Kiểu bài chứng minh (một vấn đề trong tác phẩm văn học) qua phân tích một tác phẩm trữ tình.

– Nội dung

Cảm hứng về đất nước (của nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong bài thơ Đất nước).

GỢI Ý

Cảm hứng về đất nước trong bài thơ Đất nước được triển khai theo hướng từ cụ thể đến khái quát, qua không gian – thời gian mùa thu.

Có thể phân tích và chứng minh theo các đoạn chính sau đây.

A. ĐẤT NƯỚC VÀ NIỀM VUI LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC

1. Cảm nhận về đất nước qua hình ảnh hai mùa thu

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương còn mới

– Cảm nhận về đất nước bắt đầu từ mùa thu. Hương cốm mới làm người đọc xao xuyến trước những gì gần gũi, quen thuộc của quê hương. Người ra đi, dù cương quyết (đầu không ngoảnh lại) nhưng lòng vẫn lưu luyến vấn vương:

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

– Mùa thu chiến khu hôm nay (mùa thu nay) đổi mới, xanh mướt (trời thu thay áo mới, rừng tre phấp phới, trời xanh…). Cảnh sắc thiên nhiên đất nước thật tươi vui. Nếu mùa thu xưa xao xác gió heo may buồn thì mùa thu nay gió thổi rừng tre phấp phới, năm xưa lá rơi đầy thềm nắng những con phố dài Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh biếc tươi vui:

Trời thu thay áo mới

– Niềm vui lan toả khắp đất trời, cây cỏ tràn ngập lòng người. Nhà thơ lắng tâm hồn để cảm nhận niềm vui từ làn gió thu trong mát, sắc trời thu xanh biếc và nhất là từ giọng nói tiếng cười thiết tha của mọi người trong nỗi vui mừng quê hương vừa được giải phóng:

Trong biếc nói cười thiết tha

2. Niềm tự hào làm chủ đất nước

– Niềm vui được giải phóng gắn liền với niềm tự hào làm chủ đất nước. Dưới cái nhìn say đắm của nhà thơ, đất nước trái rộng, nơi nào cũng tươi đẹp, nơi nào cũng màu mờ, phì nhiêu:

Trời xanh đây là của chúng ta

…..

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

– Câu khẳng định với những từ chỉ định (đây), liệt kê (trời xanh, núi rừng…), những tính từ gợi tả (thơm mát, bát ngát,,.) và điệp khúc của chúng ta vang vọng trong không gian như thể hiện niềm vui làm chủ đất nước. Tất cả những gì thân yêu quen thuộc trên đất nước này là của chúng ta. Tư thế của nhân vật trữ tình trong những dòng thơ trên là thế đứng ngẩng cao đầu của con người, sau bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ, mới giành được quyền làm chủ đất nước, trời thu xanh biếc, núi rừng, những cánh đồng thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa trở nên đẹp đẽ, đáng yêu mến lạ thường, vì đã thuộc về ta.

3. Niềm tự hào về truyền thống bất khuất

– Từ không gian rộng lớn của đất nước (trời xanh, núi rừng, những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông), mạch thơ chuyển sang chiều dài của thời gian. Cảm hứng của nhà thơ từ hiện tại trở về quá khứ, thể hiện niềm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc:

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

– Lịch sử đất nước với hàng ngàn năm kiên cường chống xâm lược luôn vang vọng hồn thiêng sông núi – tiếng vọng không bao giờ dứt của nhiều thế hệ cha ông cho đến hôm nay:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

– Như vậy, bề dày của hàng ngàn năm lịch sử dân tộc ta đã được Nguyễn Đình Thi nhận thức và diễn tả sâu sắc qua đoạn thơ trên.

B. ĐẤT NƯỚC ĐAU THƯƠNG VÀ ANH DŨNG

1. Đau thương

Trong quá khứ:

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da

Trong hiện tại:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

2. Anh dũng

Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

……….

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

………..

Ôm đất nước những người con áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng

Cuộc chiến đấu đầy gian khổ (Ngày nắng đốt, đêm mưa dội) và nhiều hi sinh (Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh). Nhưng khối óc (trán) của họ luôn luôn tin tưởng vào lương lai huy hoàng của đất nưức và con tim (lòng ta) của họ sáng ngời niềm lạc quan chiến thắng: phép ẩn dụ ở đây thật điêu luyện qua những hình ảnh tượng trưng sắc sảo:

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh

3. Một biểu tượng về đất nước

Cảm hứng về đất nước được khái quát cao độ qua khổ thơ cuối:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Đây là một khổ thơ có sức nén rất cao (mỗi dòng 6 chữ, hơi thơ chắc nịch) mang ý nghĩa như một biểu tượng về vẻ đẹp và tầm cao của đất nước.

Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 1

    Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài. ở lĩnh vực nào của nghệ thuật văn, thơ, nhạc ,kịch, ông cũng đều có những tác phẩm vang dội. Trong thi ca, bài ” Đất nước” rất được bạn đọc mến mộ, đã từng được đưa vào giảng dạỵ trong nhà trường ngót nữa thế kỉ nay.

    Phần đầu là tâm trạng của thi nhân khi đứng giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống pháp. Từ một buổi “sáng mắt trong”, tác giả thơ ” những ngày thu đã xa” ở thủ đô:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi dầy.

    Hà Nội hiện lên rất đẹp và cũng phảng phất buồn. Một thoảng” hơi may” lan tỏa mà đã thấm vào tận từng mái nhà, góc phố, từng hàng cây bờ hồ và cả trong hồn người. Nhạc điệu trầm lặng, lơ lửng cho thi phần càng thêm gợi cảm

Ở các câu thơ xuất thần:

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Có hai cách ngắt nhịp khác hẳn nhau:

Sau lưng thềm/ nắng lá/ rơi đầy

Sau lưng/ thềm nắng/ lá rơi đầy

    Ngắt thơ theo cách thứ nhất thì tạo nên một vẽ đẹp kì lạ(nắng và lá cùng rơi); ngắt theo cách thư hai thì tạo nên một vẽ đẹp giản dị (chỉ có lá rơi đầy trên thềm nắng).

    Tùy thị hiếu nghệ thuật mà thích cách này hay cách kia. Những áng thơ hay thường gợi ra những cách hiểu khác nhau mà vẫn có lí như thế.

    Cảnh thu ở đây là những ngày trước cách mạng tháng tám. ” Người ra đi” là những chiến sĩ đang rời hà nội yêu giấu để lên chiến khu cách mạng.

Mùa thu này ở việt bắc thì khác hẳn:

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.

    Nhạc điệu thơ thay đổi: những câu thơ ngắn tạo nên một sự rộn ràng. Hình ảnh thơ trong trẻo, tươi sáng lạ thường. Có cảm tưởng như trời xanh hơn, cao hơn âm thanh như cũng vang xa hơn.

    Từ mùa thu mới, nhà thơ mới nghĩ về đất nước:

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

    Điệp ngữ “của chúng ta” nói lên niềm tự hào của con người khi được làm chủ đất nước. Ai đã sống những năm dài dưới thời nô lệ mới hiểu hết nỗi đau xót, nhục nhã của người dân mất nước:

Giặc cướp hết non cao, biển rộng

Cướp cả tên nòi giống, tổ tiên

                              Tố Hữu

    Mở rộng tầm mắt nhìn về tám hướng phương trời, nhà thơ sung sướng reo lên:

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

    Điệp ngữ “những” như muốn khẳng định rằng nói bao nhiêu, kể bao nhiêu cũng không hết cái đẹp, cái giàu của đất nước thân yêu, giang sơn gấm vóc nghìn đời do tổ tiên ông cha để lại.

Nhà thơ còn lắng nghe cả tiếng dội của lịch sử:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

    “Đất” tượng trưng cho sự bền vững. “Rì rầm” là âm thanh không vang dội nhưng kéo dài không dứt. Đó chỉ có thể là tiếng của cha ông từ ngàn xưa nhắc nhở con cháu hãy sống anh hùng, bất khuất.

    Sang đoạn thơ thứ hai, tác giả cảm nhận về đất nước từ trong đau thương đứng lên chiến đấu và chiến thắng.

Mở đầu là những câu thơ gây căm thù:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều.

    Cánh đồng quê là hoán dụ để chỉ Tổ quốc. Cơ thể Tổ quốc đang chảy máu vì bom đạn quân thù. Câu thơ nói về nỗi đau vật chất. Câu tiếp theo nói về nỗi đau tinh thần. Bầu trời chiều êm ả gợi lên một cuộc sống thanh bình. Vậy mà giặc đến, dây thép gai tua tủa nơi đồn bốt chúng đâm nát tất cả. Sự man rợ của kẻ thù đã đến tột đỉnh. Đọc câu thơ tưởng như được xem một đoạn phim quay chậm làm nổi rõ những đường nét màu sắc tương phản, gây ấn tượng nhức nhối trong lòng độc giả.

    Hai câu tiếp theo là tâm trạng người chiến sĩ:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

    Hình ảnh đôi mắt người yêu như ngôi sao sáng trong trời đêm soi tỏ con đường cho anh đi tới. Tình cảm riêng chung đã hòa làm một trong anh. Trước đây, trong bài “Nhớ”, Nguyễn Đình Thi cũng đã gợi lên điều đó:

Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần.

    Những khổ thơ tiếp theo ca ngợi đất nước đã đứng lên kháng chiến. Đoạn thơ có những yếu tố chính luận làm cho ngôn ngữ trở nên rắn chắc:

Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

    Kẻ thù đang thất bại vì bị bao vây trong biển cả chiến tranh nhân dân. Và điều quan trọng nhất là chúng ta có những người anh hùng kiểu mới, “những người áo vải” đang gánh cả cuộc đời kháng chiến trên vai. Họ có ba phẩm chất cao cả: Một là bất khuất (Đã đứng lên thành những anh hùng), hai là có nhiều suy nghĩ sâu sắc (Trán cháy rực nghĩ trời đất mới) và ba là lạc quan cách mạng (Lòng ta bát ngát ánh bình minh).

Mấy câu kết rất xuất sắc:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

    Theo lời tác giả thì đoạn này được viết dựa vào một cảnh thực mà anh đã thấy ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong tiếng đại bác dồn dập vang rền, chiến sĩ ta từ các chiến hào đầy bùn đỏ ào ạt xông lên như thác lũ đánh chiếm những cứ điểm cuối cùng của giặc.

    Nhịp điệu thơ ngắn, dồn dập như bước chân của người anh hùng xung kích. Câu thơ cuối cùng đã phác họa ba tư thế tuyệt đẹp của chiến sĩ và cũng là tượng trưng cho dân tộc Việt Nam:

Rũ bùn: Vất bỏ quá khứ đau thương,

Đứng dậy: Kiên quyết tiêu diệt kẻ thù,

Sáng lòa: Chiến thắng huy hoàng.

    Bài thơ đã tạo tác thành công một tượng đài hùng vĩ về đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thơ Nguyễn Đình Thi mang một phong cách hiện đại: Kết hợp cảm xúc và chính luận, vận dụng cả những thủ pháp của điện ảnh để gây ấn tượng, nhịp thơ phóng khoáng, hình ảnh thơ gợi cảm.

    “Đất nước” là thi phẩm mang dáng dấp của một bản hùng ca có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn bạn đọc. Nó là bài thơ tuyệt tác của thi ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp viết về đề tài đất nước quê hương.

Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 2

Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi | 900 bài Văn mẫu 12 hay nhất (ảnh 2)

    “Đất nước” là một bài thơ góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Thi trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ là lời tự bạch của tác giả về cả cảnh thu xưa và nay có sự thay đổi như thế nào, hay đó cũng là sự thay đổi của đất nước ta trước sự xâm lược của thực dân Pháp nhưng vẫn đứng dậy đấu tranh để bao vệ độc lập. Thông qua đó, nhà thơ bày tỏ tình yêu đất nước, lòng căm thù giặc, niềm tự hào, niềm tin son sắt vào tương lai tươi sáng của dân tộc và đất nước.

    Nguyễn Đình Thi sáng tác bài thơ Đất nước bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Bài thơ gồm hai phần. Phần đầu được hình thành trên cơ sở những đoạn trích từ hai bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949). Phần sau được viết năm 1955. Đất nước được nhìn qua một không gian – thời gian độc đáo: mùa thu với mốc son lịch sử là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tuy được viết trong những thời gian khác nhau nhưng cảm hứng thơ vẫn liền mạch và bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.

    Bài thơ chia làm hai đoạn: đoạn thứ nhất từ đầu đến “…vọng nói về”, đoạn thứ hai là phần còn lại. Mạch cảm xúc và suy tưởng cũng là kết cấu cơ bản của bài thơ. Khởi đầu là cảm xúc về một sớm mùa thu ở chiến khu Việt Bắc gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Hình ảnh mùa thu ấy không thể nào quên được, cảm xúc mùa thu xưa khiến tác giả nhớ về mùa thu hiện tại. Cảm xúc nâng cao, mở rộng về đất nước trong đau thương, căm hờn đã vùng lên chiến đấu bất khuất và chiến thắng vẻ vang: “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

    Bài thơ mở ra bắt đầu bằng một sáng mùa thu hiện tại ở chiến khi Việt Bắc, ấy là một sáng thu tiết mát lành trong trẻo và thoảng thương hương cốm:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa”

    Cách mở đẩu rất tự nhiên, giản dị như một lời kể chuyện, một lời tâm sự, bộc bạch. Tác giả thấy buồi sáng “ mát trong” giống như buổi sáng “năm xưa”. Từ cái cảm xúc thanh bình và thân thuộc đó thì đã cho nhà thơ chất “xúc tác” để nhớ lại kỉ niệm ấy. Chỉ bằng vài nét gợi tả mà tác giả đã thể hiện được không gian, thời gian, màu sắc, hương vị của mùa thu: không khí mát trong, gió thổi phảng phất mùi hương cốm mới, kết tinh của hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu cái đặc trưng riêng của mùa thu Hà Nội đặc biệt là hương cốm mới:

“Ra đi nhớ cốm làng Vòng

Nhớ cau Nam Phổ, nhớ trầu chợ Dinh”

    Cái cảm xúc của mùa thu ấy nó cứ quẩn quanh trong đầu khiến Nguyễn Đình Thi không thể nào quên nổi.Vậy là tính hiệu mùa thu không còn những hình ảnh ước lệ tượng trưng nư ngô đồng rụng, sen tàn, giếng ngọc,…mà là một vị dân gian đã quen thuộc từ ngàn đời.Câu thơ giản dị làm tăng cái ý nghĩa của sự thanh bình bình thường ấy. Và sự bình dị của đoạn đầu sẽ làm tăng sức biểu cảm của những hình ảnh tiếp theo:

“ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may”

    Mùa thu là mùa nhạy cảm với thi nhân, có không ít nhà thơ viết về mùa thu:

“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

               (Nguyễn Khuyến)

    Hay trong “Thơ duyên” của Xuân Diệu cũng có viết:

“ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.”

    Đến với khổ thơ tiếp theo này thì nhịp điệu chậm rãi, tràn đầy nhung nhớ. Nguyễn Đình Thi lại nhắc lại hình ảnh “sáng”. Nhưng ánh thu Hà Nội của hiện tại đẹp mà buồn, gợi bao sự thương nhớ. Cái giá lạnh mỗi khi thu về vào buổi sáng sớm, cái đặc sắc ở đây là “lòng Hà nội”. Đó chính là chỉ không khí của mùa thu đã đi sâu và từng con phố dài của Hà nội và sự kết hợp với đảo gữ “ xao xác heo mây” – âm thnah nhẹ nhàng và từ láy “xao xác” tạo nên nỗi tâm sự đong đầy. Hình ảnh gió xao xác với con phố dài nó cuốn, thu hút con ta vào tận sâu thẳm.Về mặt ngữ nghĩa, những hình ảnh trên không chứa đựng vẻ đẹp của Hà Nội, nhưng khi đọc hai câu thơ ta vẫn cảm nhận được vẻ đẹp đắm sâu của thủ đô, trái tim của cả nước. Phải yêu Hà Nội, hiểu Hà Nội mới có thể cảm nhận được cái xao xác hơi may, cái chớm lạnh giữa thành phố này, yên ắng, trong lành, phảng phất những mơ hồ. Hình ảnh người ra đi lạng lẽ, trĩu nặng tâm tư tình cảm nhưng đầy cương quyết dứt khoát.

    Đoạn thơ là bức tranh thu đượm buồn, nổi lên trên cái nền ấy là hình ảnh người ra đi lặng lẽ, trĩu nặng tâm tư. Nét tâm trạng này cũng đã được ngân lên trong ca khúc rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã viết về Hà Nội:

“Người Hà Nội hôm nay ra đi

Mang theo mình bao nhiêu nỗi nhớ

Những ánh đèn qua ô cửa sổ

Bầu trời đêm cháy bỏng tình yêu.”

           (Hà nội – trái tim hồng)

    Có người nói, hình ảnh của Hà Nội đã thu lại trong câu thơ cuối: “thềm nắng lá rơi đầy”. Câu thơ đẹp và giàu sắc thái thẩm mĩ. Bức tranh thu Hà Nội thấm đầy nắng, gợi nên sắc thái quyến rũ trong tâm trí người ra đi. Mà có khi làm sao mà đi nổi khi một Hà Nội đẹp thế, quyến rũ như thế cứ níu chân chẳng cho đi, làm sao không khỏi mềm lòng.

    Mùa thu đẹp đấy nhưng tại sao khi thu sang con người ta lại thấy buồn?Có lẽ người ta sẽ quay đầu lại luyến tiếc, buồn bã khi phải bỏ lại mãi mãi một vật, một nơi, hay một con người thân thiết đối với mình, nhưng khi con người đó tin rằng sự ra đi đó chỉ là nhất thời và dự cảm được ngày trở về sẽ rất gần thì hoàn toàn không cần thiết phải ngoảnh lại, phải lưu luyến. Đó là tâm lý hết sức tự nhiên của con người. Lớp trí thức trẻ đã có một niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng, hơn nữa ngày đó chắc chắn sẽ đến rất nhanh và họ sẽ có cơ hội trở về quê hương. Sự ra đi đầu không ngoảnh lại không chứa đựng sự cô đơn, tuyệt vọng của sự ra đi trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

“Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…

– Ly khách!Ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn không về bàn tay không”

mà nó chứa chan niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Chỉ trong 1 hình ảnh ấy, Nguyễn Đình Thi đã tạo nên một nềm tin vững mạnh. Và niềm tin đó đã được chứng minh bằng hiện thực CM sống động. Hoà bình trở lại và những người con nay lại trở về. Cảnh sắc thiên nhiên đất nước thật tươi vui, sáng mát, như trẻ lại, như hồi sinh. Nếu mùa thu hồi trước xao xác gió hơi may buồn thì mùa thu nay gió đã chuyển mình thành cơn gió thổi rừng tre phấp phới, một cơn gió thu phóng khoáng và mạnh mẽ tưởng như chưa từng có trong thơ ca Việt Nam trước đây. Nếu năm xưa lá rơi đầy thềm nắng phố Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh biếc tươi vui Nguyễn Đình Thi đã tạo ra 1 niềm tin thật mãnh liệt.

“ Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phơi

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

    Mùa thu nay con người đang lặng lẽ giã từ những con phố dài hiu quạnh của Hfa nội tạm chiếm bya lượn giữa một không gian thoáng rộng của núi đồi, của trời xanh bát ngát. Nếu mùa thu xưa bao chùm lầ nỗi buồn thì mùa thu nay là niềm vui, sự thay đổi ấy được kết bằng hình ảnh “ mùa thu tháy áo mới”. Câu thơ như một tiếng reo vui. Mùa thu với ngọn gió tự do, phóng khoáng đnag ào ạt thổi. Mùa thu với tấm áo mới tươi đẹp,với ngọn gió mát lành mạnh mẽ đnag náo nức say mê trong niềm vui lớn của cả dân tộc, của cả đất nước.

    Mùa thu như được nhân hóa. Và người đọc cảm thấy mùa thu như một thiếu nữ điệu đà, thướt tha đang khoác tấm áo mới rạng rỡ, tươi tắn và dịu dàng. Phải chăng tấm áo ấy là của sự độc lập, tự do của dân tộc.Cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn. Không chỉ mùa thu trong biếc mà chính cái hiện thực ấy, chính cái cuộc sống mới ấy thật đẹp, thật trong suốt. Và con người trong cuộc sống ấy đang tự do nói cười thiết tha trong nỗi vui mừng quê hương vừa được giải phóng, mùa thu năm 1945 cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.

    Từ cảm xúc về mùa thu đất nước dẫn đến tình cảm mến yêu tha thiết và lòng tự hào về đất nước, nhà thơ ngắm nhìn cảnh vật với tâm hồn phơi phới lạc quan, yêu đời. Niềm vui tràn ngập lòng người, tràn ngập đất trời. Đoạn thơ với nhịp điệu rộn ràng, hào hứng và những hình ảnh đẹp đẽ, tươi mát đã thể hiện vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của đất nước thân yêu. Nhà thơ như reo như hát lên niềm hạnh phúc bất tận ấy:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    Nhịp thơ cuồn cuộn mãnh liệt khác hẳn sự tinh tế ở những khổ đầu. Hình ảnh nối tiếp hình ảnh, nhạc điệu rộn ràng, âm hưởng khoáng đạt, lời thơ trải dài như vô tận. Đất nước của chúng ta, đất nước với chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và màu sắc dễ cảm. Điệp khúc “là của chúng ta” cứ ngân nga, vang vọng giữa đất trời, sông núi. Tất cả những gì thân yêu, quen thuộc trên đất nước này đều là của chúng ta. Niềm tự hào làm chủ trời xanh, cánh đồng, núi rừng, dòng sông, làm chủ đất nước. Còn gì sung sướng hơn, tự hào hơn bốn tiếng ấy sau hàng trăm năm nô lệ, dân tộc ta phải đổ bao xương máu mới giành được quyền làm chủ. Cũng nguồn cảm hứng say sưa, dạt dào như thế, nhà thơ Tố Hữu đã thốt lên:

“Của ta trời đất đêm ngày

Núi kia, đồi nọ, sống này của ta!”

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên).

    Từ việc cảm nhận đất nước theo chiều không gian với niềm tự hào được làm chủ đất nước, tác giả chuyển sang cảm nhận đất nước theo chiều thời gian với niềm tự hào truyền thống anh hùng bất khuất.

“ Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    Nhịp thơ bỗng thay đổi, mang xúc cảm trầm lắng, ẩn chứa thái độ thành kính thiêng liêng, hướng người đọc trở về quá khứ lịch sử của quê hương.

    Khi con người ta vui mừng, hân hoan về một chiến thắng thì bao giờ, sau đó cũng sẽ là những giây phút trầm mặc suy nghĩ về cái giá của chiến thắng đó. Suốt chiều dài lịch sử bốn ngàn năm, trải qua bao phen chống ngoại xâm, có thắng có bại nhưng đất nước này, dân tộc này chưa bao giờ khuất phục trước bạo lực của quân thù. Truyền thống bất khuất ấy truyền từ đời này sang đời khác. Nhà thơ lắng nghe tiếng nói quật cường vọng lên từ lòng đất. “Đất”, qua tâm hồn nhà thơ và tâm hồn chúng ta, không chỉ xanh tốt những vạt rừng, thơm mát những cánh đồng, bát ngát những ngả đường, đỏ nặng phù sa của những dòng sông mà còn “rì rầm” tiếng nói đấu tranh bao đời không bao giờ tắt “ vọng nói về”. Câu thơ trở nên trang trọng, trầm lắng khi nói đến tiếng vọng thiêng liêng của ngàn xưa rì rầm trong tiếng đất.

    Cũng với cảm nhận về đất nước theo chiều dài truyền thống lịch sử Chế Lan Viên từng viết:

“Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn

Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…”

                              (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng)

    Từ những vần thơ ấy đã làm sáng bừng lên chân lí trong thơ của Nguyễn Đình Thi

“ Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất”

    Có thể nói ít có hình ảnh nào thể hiện nỗi đau thương tang tóc của dân tộc và đất nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lại cô đọng, hàm súc và gây ám ảnh sâu sắc như những hình ảnh trong hai câu thơ:

“ Ôi cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

    Đạn bom quân thù cày nát mặt đất, triệt hạ sự sống. Ánh hoàng hôn đỏ hắt xuống khiến những cánh đồng quê như chảy máu. Hàng rào dây thép gai quanh đồn bốt giặc tua tủa chĩa lên như muốn đâm nát trời chiều vốn tĩnh lặng, bình yên. Cả hai chiều không gian đều in đậm bóng dáng sự tàn phá, chết chóc của chiến tranh. Từng chữ, từng câu thơ oằn nặng bởi cảm xúc đau thương, căm giận. Đọc thơ, người đọc như thấy trước mắt mình là cả hiện thực khốc liệt của những năm tháng khổ đau một cách tường tận và chi tiết. Ngòi bút của Nguyễn Đình Thi như một máy quay phim tài ba và đặc biệt giúp cho người đọc nhận ra một bức tranh ngập đầy máu của chiến tranh. Trên cái nền hiện thực ấy thì người chiến sĩ:

“Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

    Đó là tâm trạng cháy bỏng yêu thương nhân dân và “nung nấu” căm hờn quân cướp nước. Mối căm thù sôi sục trong tim, thôi thúc những đêm dài hành quân không nghỉ. Mối căm thù dồn lên mũi lê, đầu súng nhằm thẳng quân thù. Nhưng chính lúc ấy cũng thấp thoáng hiện lên trong nỗi nhớ “đôi mắt” của “người yêu” chờ đợi khiến tâm hồn chiến sĩ ta bồn chồn, xao xuyến.

    Hay nhất trong phần sau của bài thơ có lẽ là khổ thơ này. Phải là người từng trải, có vốn sống phong phú và trái tim dạt dào tình cảm nhân ái thì tác giả mới có cách diễn đạt tự nhiên về sự hài hòa giữa tình cảm riêng chung, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước của người chiến sĩ.

    Và ở khổ thơ tiếp, Nguyễn Đình Thi đã lí giải sâu xa về sức sống, tinh thần ý chí chiến đấu của người dân:

“Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã ngời nên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre đôn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn”

    Câu thơ ngắt nhịp khỏe, rắn rỏi, thể hiện sâu sắc niềm tự hào, kiêu hãnh của tác giả về sức sống và vẻ đẹp của cả dân tộc. Từ “ngời” và “bật” được dùng rất hay, sự trỗi dậy, hồi sinh kỳ diệu, sự tỏa sáng, sức sống của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã sáng tạo 1 bài thơ hết sức đặc biệt khi cảm xúc trong bài thơ không chảy theo 1 nhịp thống nhất mà liên tục biến đổi. Ta biết rằng: thơ 7 chữ thì biểu lộ cảm xúc cá nhân, thơ 5 chữ thì cảm xúc mỏng hơn và thiên về nhịp điệu, thơ 6 chữ thì được sử dụng nhẳm khẳng định 1 ý tưởng. Trong bài thơ này, thơ 6 chữ được tác giả sử dụng đạt hiệu quả rất cao.

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây thằng chúa đất

Đứa đè cổ đứa lột da”

    Nỗi đau xót như thấm sâu vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh tiêu biểu tạo nên ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Đặc biệt hình ảnh “Bát cơm chan đầy nước mắt”, “Bay còn giằng khỏi miệng ta” nói lên tột cùng tội ác của quân thù và tột cùng sự tủi cực của nhân dân ta trong vòng nô lệ. Cách xưng hô đối lập giữa một bên là chính nghĩa: ta, cùng với một bên là sự phi nghĩa: bọn thằng, đứa… như bao căm thù và uất hận được dồn lại. Ngôn ngữ giản dị như khẩu ngữ truyền tải nội dung căm hận sâu sắc, cực tả sự áp bức bóc lột dã man đến tận xương tuỷ của bọn giặc xâm lược cùng bọn địa chủ tay sai đang thống trị từng ngày trên nước mắt, mồ hôi của nhân dân. Cắt ngắt nhịp (2 câu đầu là 2/2/2, 2 câu sau là 3/3) thể hiện sự đau uất, căm hờn.

“Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà”

    Nhịp thơ mạnh mẽ, đanh thép làm cho câu thơ trở nên giàu sức biểu tượng. Sự đối lập giữa hai hình ảnh thơ “xiềng xích” và “trời đầy chim, đất đầy hoa” đã thể hiện tinh thần lạc quan của nhân dân, khí phách anh hùng của dân tộc bất chấp sự tàn khốc của chiến tranh và quân thù. Thể hiện sự tin tưởng vào chiến thắng sau này. Nỗi đau đớn xót xa hoà lẫn lòng căm thù ngùn ngụt khiến đoạn thơ có sức truyền tải và tố cáo mãnh liệt, lột tả rõ nét nguyên nhân cho sức mạnh vùng lên của dân tộc.

“Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng”

    Hình ảnh độc đáo, sáng tạo thể hiện không khí sôi động, sùng sục của nhân dân trong kháng chiến. Núi rừng trước kia chỉ có sương núi, nay đã thấy khói nhà máy cuộn không gian, cánh đồng trước kia chỉ có tiếng mõ nay đã nghe văng vẳng những tiếng kèn gọi quân. Hai hình ảnh sóng đôi rất ý nghĩa: một xây dựng đất nước ở miền Bắc, một bảo vệ đất nước ở miền Nam. 2 miền đất nước dẫu bị ngăn cách nhưng dường như vẫn đang cùng 1 nhịp thở. Từ thực tế kháng chiến gian nan và hào hùng, Nguyễn Đình Thi đã viết nên những câu thơ khái quát về sự mất mát, hi sinh của đất nước cùng quyết tâm giành lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc ta. cả dân tộc đoàn kết thành một khối thống nhất, trán đẫm mồ hôi và mắt ngời hi vọng, rắn rỏi mạnh mẽ bước tới tương lai:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh”

    Nơi vùng núi Thượng Lào với ban ngày nắng như thiêu đốt và đêm đến lại những cơn mưa ào ào như thác đổ, thiên nhiên khắc nghiệt dễ sinh bệnh tật đau ốm, nhưng người lính đã vượt qua tất cả những gian khổ đó. “Cháy rực”, “bát ngát”, “trời đất mới”, “bình minh”… là những hình ảnh kỳ diệu mà quê hương họ sẽ đến và phải đến. Nơi ấy có tự do, có niềm vui, có những cánh đồng bát ngát, có những dòng sông đỏ nặng phù sa, nơi ấy là nơi con người tự do yêu thương và sống bên nhau. Nhân dân ta đứng dậy giữ nước không chỉ bằng sức mạnh tình cảm mà còn bằng sức mạnh lí trí, có ánh sáng cách mạng soi dường và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

“Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

    Âm hưởng hào hùng, sảng khoái của đoạn thơ được tạo nên từ thể thơ sáu chữ với tiết tấu nhanh, mạnh, dồn dập cùng với hàng loạt hình ảnh đậm chất anh hùng ca lấy từ thực tế của chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt mà nhà thơ đã trực tiếp tham gia và được tận mắt chứng kiến: “Tổ trông thấy các anh – Nguyễn Đình Thi kể – mình mẩy đầy bùn, nhưng khi nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện lên chói lòa trong ánh nắng”. Tác giả đã tạo nên hình tượng thơ đẹp đẽ, hào hùng từ hình ảnh rất chân thực: trong máu lửa, bùn lầy, giữa tiếng đại bác rền vang rung trời chuyển đất, chiến sĩ ta từ các chiến hào ào ạt xông lên như nước vỡ bờ. Hình ảnh của họ nổi lên trên nền trời như một tượng đài kì vĩ của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng.

    Đến tận cuối bài thơ, tác giả mới gọi tên Việt Nam với sự tự do, tự chủ, sự kiêu hãnh. Ông cảm nhận được hình ảnh đất nước trong lòng.

    Từ máu lửa và bùn đen đã bật dậy và sáng lòa, rực rỡ huy hoàng. Câu thơ giàu giá trị biểu tượng và tính khái quát, cộng với tính nghệ thuật rất cao. Nhịp thơ 2/2/2. Vận động khỏe khoắn, sự vươn lên của dân tộc bởi một sức sống kì vĩ và bất tử.

    Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng, thể hiện niềm tin và khát vọng mạnh mẽ, vinh quang. Đất nước đã ghi lại và vẽ nên một hình ảnh đất nước Việt Nam với bao thăng trầm, khói lửa để đến được ngày độc lập. Đất nước xứng đáng dược coi là cuốn biên niên sử nước ta bằng thơ. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử thi và sáng tạo nghệ thuật tài năng của Nguyễn Đình Thi.

Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 3

    Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trên văn đàn Việt Nam. Ông không chỉ đóng góp to lớn cho nền thơ ca Việt mà còn cho cả nền âm nhạc nước nhà với bài hát Người Hà Nội vô cùng nổi tiếng. Trong sự nghiệp thơ ca của mình, ông để lại tác phẩm nổi tiếng nhất là bài thơ Đất nước. Bài thơ được viết trong tám năm ròng, đó là những cảm nhận về đất nước Việt Nam tươi đẹp, giàu có, trải qua những năm tháng đau thương đã quật cường đứng lên chiến đấu với sức mạnh phi thường. Qua đó, cũng thể hiện hi vọng về một tương lai tươi sáng, rạng rỡ của dân tộc Việt Nam – “những người áo vải”.

    Bài thơ Đất nước được ra đời gắn liền với chiều dài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai của quân và dân ta. Tuy bài thơ chỉ có bốn mươi chín dòng thơ ngắn ngủi nhưng trong đó là kết tinh của cảm xúc, trải nghiệm của tác giả trong tám năm dài. Chính vì thế, bài thơ hòa quyện bởi sư sâu lắng suy tư, nhưng cũng chứa chan niềm hân hoan tự hào về dân tộc ta, đất nước ta.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi viết:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

    Đất nước là tác phẩm được hòa quyện bởi hai tác phẩm khác của Nguyễn Đình Thi là “Sáng mát trong như sáng năm xưa” và tác phẩm “Đêm mít tinh” có lẽ chính vì vậy, mở đầu bài thơ ông đã giới thiệu như thế. Không khí mùa thu phảng phất ngây ngất ngay từ những dòng đầu tiên, đây hẳn là mùa thu của Hà Nội trong tâm trí ông bởi khi đó ông đang công tác trên chiến khu Việt Bắc. Là người con của Hà Nội, vậy nên ông nhớ nhất là những buổi sáng mùa thu trong mát, với gió hiu hắt thổi, không khí se se lạnh. Ở đây, Nguyễn Đình Thi đã đặt một phép so sánh “sáng mát trong như sáng năm xưa”. “Năm xưa” là những năm Hà Nội trước thời chiến, hay là năm xưa của mùa thu lịch sử khi Hồ Chủ tịch đứng trước quảng trường Ba Đình đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập? Dù là năm nào thì đó cũng là một mùa thu trong mát, thật êm dịu, mát lành trong tâm trí của nhà thơ. Và trong làn gió ấy, phảng phất hương cốm thơm, mùi hương đặc trưng nhất của thu Hà Nội. Ai cũng biết, Hà Nội vào thu nổi tiếng nhất là món cốm làng Vòng, xanh mát và thơm nồng. Cái hương cốm mới ấy quyện lại làm nên hương vị đặc trưng rất riêng của mùa thu Hà Nội. Cũng cũng suy nghĩ như thế, nhưng Hữu Thỉnh lại nhớ mùa thu trong hương ổi nồng nàn:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

    Mỗi người thi sĩ đều có cách cảm khác nhau, nhưng Nguyễn Đình Thi thật đặc biệt, bởi ông cảm thấy nó, cảm thấy mùa thu ấy, hương cốm ấy trong tâm trí của mình. Có thể nói rằng chính tình yêu Hà Nội tha thiết đã khiến ông chẳng thể nào quên được những đặc trưng riêng của quê hương mình, rộng hơn là đất nước mình.

    Trong đoạn thơ này, ông cũng rất đặc biệt sử dụng nghệ thuật “đồng hiện”, tái hiện quá khứ và hiện tại trong cũng một đoạn thơ. Bên trên là hiện tại thì ngay ở bên dưới, quá khứ trong suy tưởng của ông đã hiện ra:

“Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những con phố dài xao xác hơi may”

    Cả một bầu trời kỉ niệm cuộn trào trong tâm trí ông, tất thảy đều là hình ảnh của mùa thu Hà Nội. Ông nhớ những ngày đầu thu Hà Nội, trong cái không khí se se lạnh, gió hiu hắt, bước chân trên những con phố dài, lòng người lẫn lộn biết bao cảm xúc suy tư. Mùa thu Hà Nội thật đẹp và phải là người tinh tế mới nhận ra nét đẹp ấy từ những con phố dài cổ kính, dưới những tán lá cao, trong cái khí “chớm lạnh” se của đất trời. “Chớm lạnh” chứ chưa phải lạnh, nó là cái không khí đặc trưng nhất của mùa thu. Nguyễn Đình Thi đã thật tinh tế khi chọn từ này bởi cái lạnh mới chớm kia mới gợi ra cho lòng người biết bao nỗi nhớ, se sắt mà đầy hoài niệm. “Hơi may” là một từ Hán Việt, được Nguyễn Đình Thi khéo léo đặt ở trong câu thơ và nghĩa của nó là gió lạnh. Nghe từ “gió lạnh”, người ta thấy cả mùa đông, nhưng “hơi may” lại khiến người ta nhận ra cái cảm giác bình yên, nhẹ nhàng của mùa thu trong mát. Và cái “hơi may” ấy đang xao xác trên “những con phố dài”. “Xao xác” là từ tượng thanh, thường dùng để chỉ âm thanh của lá rơi. Nhưng ở đây, tác giả đã đặc cách sử dụng nó để tả “hơi may” của mùa thu, khiến cho chúng ta phải ngỡ ngàng. Mùa thu không chỉ hiện ra hình khối, màu sắc, mà còn có cả âm thanh nữa.

    Nhớ mùa thu Hà Nội da diết là thế, nhưng việc ra đi là điều chẳng thể tránh khỏi, vậy nên, kết lại khổ thơ thứ nhất, Nguyễn Đình Thi viết:

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

    Đó là lòng quyết tâm của một người con Hà Nội, yêu quê hương đến cháy lòng. Yêu quê hương, yêu đất nước nên mới quyết tâm ra đi “không ngoảnh lại”. Biết là lưu luyến đấy, nhưng chí lớn của non sông vẫy gọi, sao có thể không ra đi chứ? Đó là nỗi ngập ngừng giữa lý trí và tình cảm trong lòng những lứa trí thức ra đi vì non sông, lòng người ly biệt vẫn đầy những luyến lưu với quê hương, với cả mùa thu nữa. “Đầu không ngoảnh lại” thể hiện một quyết tâm kiên cường, để lại đằng sau lưng là những nỗi nhớ thương da diết, khôn nguôi. Nhịp thơ ở đây thật nhẹ nhàng, nhưng sau đó là biết bao giằng xé của nội tâm, để đến cuối cùng, họ vẫn quyết tâm bỏ lại cái tôi ở lại, ra đi vì đất nước thân yêu của mình.

    Đoạn thơ đầu tiên được viết trong nỗi nhớ Hà Nội, trong tâm tưởng của nhà thơ. Đó là sự hoài niệm về quá khứ với bao yêu thương, say mê. Thế nhưng, không đắm chìm mãi trong hoài tưởng suy tư, Nguyễn Đình Thi trở lại với hiện tại với niềm vui phơi phới, với mùa thu của chiến khu Việt Bắc:

“Mùa thu nay đã khác rồi

Tôi đứng nghe vui giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

    Vừa mới hoài niệm về một mùa thu Hà Nội với bao nỗi niềm thế mà ngay câu thơ thứ hai, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định “mùa thu nay đã khác rồi”. Đó là một lời khẳng định chắc nịch của nhà thơ về mùa thu của đất nước đã đổi thay. Nhịp thơ ở đoạn này nhanh hơn, mạnh mẽ và rộn ràng hơn. Nó như một khúc ca ngợi ca vậy bởi “khác” ở đây không chỉ là mùa thu mà còn là tâm thế, vị thế của con người nữa. Chẳng thế mà ông đã ngân nga, vui sướng giữa đất trời:

“Tôi đứng nghe vui giữa đất trời”

    Ba động từ liên tiếp “đứng nghe vui” được đặt cạnh nhau trong một câu thơ, người ta mới thấy cái rộn ràng vui sướng của tác giả dường như đã lây sang cả người đọc chúng ta. Ba động từ liền sát, thể hiện sự tập trung cao độ vào một hướng duy nhất “đất trời” – hay chính là đất nước quê hương ta. Đất nước hiện lên trong niềm vui rộn rã, thế nên chẳng thể thiếu được hình ảnh của những cây tre quen thuộc – loài cây biểu tượng của non sông ta. Cây tre ấy như Nguyễn Duy đã nói:

“Tre xanh

Xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

    Phải, hình ảnh ấy là vô cùng thân thuộc với mỗi con người Việt Nam. Bởi nó là biểu tượng cho ý chí kiên cường của con người, của dân tộc ta, luôn vươn dậy mạnh mẽ. Từ “phấp phới” được đặt ở đây mang một ý nghĩa thật đặc biệt. Bởi nó thường để tả những vật có kích thước nhỏ, mỏng và dẹp, nhưng Nguyễn Đình Thi lại nói “gió thổi rừng tre phấp phới”. Phải chăng sau rừng tre xanh ấy là lá cờ Tổ quốc đang tung bay trong gió thu se lạnh?

    Và hơn thế nữa, trời thu ở đây chẳng còn xám xịt, mang vẻ buồn rầu lặng lẽ như những ngày còn ở “những con phố dài” Hà Nội nữa. Mùa thu đã “thay áo mới”, khoác trên mình tấm áo”xanh biếc” thiết tha. Bầu trời thu thay đổi hay là vì tâm thế con người thay đổi đã khiến mùa thu có thêm sắc màu rực rỡ? Những âm thanh “nói cười” cũng rộn rã biết bao nhiêu. Không khí thu chẳng còn “hơi may” se lạnh nữa, nó ấm áp hơn, trời thu trong xanh, cao rộng hơn, con người cũng hân hoan hơn. Bởi giờ đây chúng ta đã làm chủ đất nước, đã được tự do rồi.

    Tiếp sau, Nguyễn Đình Thi thể hiện sự tự hào của mình trong niềm vui hân hoan, tự hào về một đất nước giàu đẹp với “trời xanh”, “núi rừng”, “những cánh đồng thơm ngát”, “dòng sông đỏ nặng phù sa”. Tác giả đã liệt kê một loạt những hình ảnh giàu đẹp của quê hương để thể hiện niềm vui được làm chủ đất nước, khẳng định ý thức về quyền làm chủ quê hương. Điệp từ “đây”, “của chúng ta” được lặp lại liên tục như một lời khẳng định chắc chắn, đất nước này là của chúng ta, của dân tộc ta.

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm ngát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    Đọc tới đây, chúng ta hẳn thấy được tính sử thi đậm nét trong đoạn thơ này. Tác giả đã mượn lời của nhân dân để khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc. Và giờ đây, với tâm thế của một kẻ tự do, nhân vật trữ tình đang ngẩng cao đầu tuyên bố sự tự do dân chủ ấy. Hình ảnh ấy chúng ta cũng bắt gặp một vài lần trong thơ ca Việt, đặc biệt trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Ta không thể quên những lời tuyên bố đanh thép của ông:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

    Trong niềm vui tự hào ấy, tác giả đã trầm ngâm suy tư về truyền thống của dân tộc ta từ bao đời nay. Với bốn ngàn năm lịch sử dựng và giữ nước, dân tộc đã đã làm nên nhiều trang sử anh hùng. Nhịp thơ ở đây cứ chậm rãi như suy tư suy tưởng:

“Nước chúng ta

Nước những con người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    Chúng ta, một dân tộc chân lấm tay bùn, cuộc sống vất vả, lam lũ là thế nhưng chúng ta “chưa bao giờ khuất”. Sau lớp bùn nâu là một trái tim yêu nước nhiệt thành, sẵn sàng hi sinh vì đất nước non sông. Lớp này ngã xuống, lớp khác sẽ đứng lên, chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục trước bất kì kẻ thù nào. Truyền thống đánh giặc của dân tộc ta được truyền qua bao thế hệ, từ những thời bà Trưng bà Triệu, đến buổi ba lần dẹp quân Mông – Nguyên, có hy sinh, gian khổ trong quá khứ mới có được ngày hôm nay. Những lời nói của cha ông dạy bảo “đêm đêm” cứ vang vọng lên “vọng nói về” từ trong “tiếng đất”, gợi nhắc chúng ta về truyền thống anh hùng của dân tộc cũng như đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

    Thế nhưng giờ đây, đất nước chúng ta đang bước vào giai đoạn nguy nan, những “cánh đồng thơm ngát” đang bị quân thù giày xéo đến “chảy máu”. Những hình ảnh về chiến tranh thật đau thương biết mấy:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

    Chẳng còn mùa thu yên bình dịu dàng như trước, đất nước đang rơi vào đau khổ. Bức tranh buổi chiều của Nguyễn Đình Thi vẽ lên sao mà ám ảnh thế! “Những cánh đồng quê chảy máu” – ánh mặt trời rọi xuống không gian một màu đỏ ối, nhuộm đỏ cả cánh đồng chiều hôm, Đây là một buổi chiều được vẽ lên trong buổi hành quân. Sự nhân hóa ấy như muốn nói lên sự tang thương, sự đau đớn của mỗi miền quê Việt đang phải oằn mình trong chiến tranh. Biết bao máu xương sẽ phải đổ xuống để giành lại được độc lập đây? Rồi “Dây thép gai đâm nát trời chiều” – quả là một hình ảnh ám ảnh. “Dây thép gai” – thứ mà quân xâm lược dựng lên để chống lại quân và dân ta, đó là biểu tượng của chiến tranh, của đau khổ. Những sợi dây thép tua tủa ấy đâm thẳng vào bầu trời chiều, “đâm nát” cả trời chiều êm ả, nó gợi lên sự đau thương mà chiến tranh gây ra cho quê hương Việt Nam. “Đâm nát” là một động từ mạnh, thể hiện sự tàn bạo, dã man kết hợp với nghệ thuật nhân hóa càng khiến cho hình ảnh đất nước thêm đau thương. Chúng ta cảm nhận thấy ở đây có một sự căm hận đến nghẹn ngào.

    Thế nhưng, trong những buổi hành quân ấy cũng có chút thi vị để át đi cái đau thương đang hiện hữu. Một chút bâng khuâng, nhớ nhung “mắt người yêu” khiến cho lòng người chiến sĩ thêm dư vị ngọt ngào, để khiến anh thêm động lực lên đường chiến đấu. Nhắc tới người yêu, tưởng như là chuyện riêng tư đó, thế nhưng cái tình yêu đôi lứa ấy đã hòa quyện trong tình yêu lớn của đất nước, chuyển hóa thành hành động khiến chàng trai có thêm niềm tin yêu, động lực để chiến đấu vì mục tiêu chung của đất nước.

“Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

    Người ta cũng đã từng bắt gặp nỗi niềm tương tư ấy trong một bài thơ khác cũng của một người con Hà Nội – đó là chàng trai Quang Dũng trong “Tây tiến”:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Đọc đến đây, người đọc chợt nhận thấy cái sức mạnh chiến đấu đang dần mạnh mẽ lên gấp bội bởi sự căm hờn lũ giặc ngoại xâm, tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước đã quyện lại trở thành động lực thúc đẩy người chiến sĩ:

“Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn”.

    Lũ giặc cướp nước đã dày xéo quê hương ta, nhân dân đã đã trải qua bao năm tháng chiến đấu, chống lại kẻ thù. Những nỗi đau xót mà kẻ thù gây nên đã khiến những gì hiền hòa nhất, “hồn hậu” nhất cũng phải “bật lên nỗi căm hờn” khôn xiết. Ở đây, Nguyễn Đình Thi đã liệt kê một loạt những hành động tội ác của kẻ thù:

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da…”

    Những hình ảnh gợi tả ấy thật khiến chúng ta day dứt. Cuộc sống của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của kẻ thù thật khiến người ta phải căm hờn. “Thằng giặc Tây, thằng chúa đất” – những kẻ tàn bạo xâm lăng, lũ bán nước và lũ cướp nước đang dày xéo quê hương ta, làm khổ đau nhân dân ta.

    Vậy nên trong cái gian khổ, cái đau xót ấy, dưới sự tàn bạo, độc ác ấy của kẻ thù đã tôi luyện lên những người anh hùng, tôi luyện lên lòng yêu nước mạnh mẽ:

“Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng”.

    Lời khẳng định chắc nịch của Nguyễn Đình Thi trước sự tàn bạo của kẻ thù. Chúng bay có thể cướp được đất, được ruộng, thóc lúa của chúng ta, nhưng chúng bay sẽ chẳng thể khóa được cánh chim tự do của dân tộc ta, khóa được hoa thơm của dân tộc ta. Chúng ta có thể giết được dân ta nhưng không thể nào giết được “lòng dân ta yêu nước thương nhà”. Chúng bay chỉ khiến dân tộc ta thêm căm hờn, thêm yêu nước, cho chúng ta thêm động lực để vươn dậy thành “những anh hùng”. Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hai bức tranh tương phản giữa tội ác dã man của giặc và sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, từ đó ông khắc họa rõ nét hơn phẩm chất anh hùng của dân tộc, đất nước ta. Qua đó, ông cũng muốn khẳng định chân lý rằng: Sự tàn bạo của kẻ thù không thể tiêu diệt được tình yêu, khát vọng sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam mà chỉ góp phần tôi luyện chúng ta trở thành những người anh hùng.

    Tội ác của kẻ thù gây nên chỉ khiến chúng ta có thêm sức mạnh, động lực để gây dựng lên một tương lai tràn đầy tự do và hạnh phúc. Tương lai ấy, ngày mai ấy được dựng lên từ chính hôm nay, những gian khó sẽ được bù đắp:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh”

Đọc bài thơ mà ta cảm nhận được, những người anh hùng đã làm nên độc lập chính là những người áo vải. Họ là những người vô danh, nhưng vì tình yêu Tổ quốc đã cống hiến cả xương máu của mình cho độc lập tự do của đất nước. Nhà thơ cũng khẳng định: “Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh”, phải hi sinh, phải mất mát thì mới có được tự do, mới trân trọng sự tự do ấy. Tuy là mất mát đấy, đau thương hi sinh đấy, nhưng họ vẫn luôn hướng về một “trời đất mới”, nơi mà “bát ngát ánh bình minh”. Đêm tối đau khổ sẽ lùi dần về phía sau, trước mắt chúng ta sẽ là một chân trời mới rực sáng màu “bình minh”.

Kết lại bài thơ, chúng ta bắt gặp một hình ảnh vô cùng hoành tráng:

“Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

     Đây như lời miêu tả cuộc tổng tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam, nơi súng đạn và những người chiến sĩ đang tiến lên giành lấy tự do, nơi âm vang cuối cùng của cuộc chiến. Để đến cuối cùng kết lại là một hình ảnh tươi sáng, rực rỡ hơn bao giờ hết. Nước Việt Nam ta kết thúc chiến tranh, bước ra “từ máu lửa” đau thương nhưng sẽ “rũ bùn” để “đứng dậy sáng lòa”, trở thành một đất nước độc lập tự do, giàu mạnh. Hai hình ảnh thơ đối lập “máu lửa – sáng lòa”, đó là lời kết đầy khẳng định về hình ảnh con người Việt Nam hiên ngang, bất khuất.

     Bài thơ được viết trong suốt tám năm, suốt chặng đường quân và dân ta đang đứng lên chống thực dân Pháp trở lại, vậy nên nó có một sức khái quát vô cùng lớn. Khái quát hình ảnh con người dân tộc Việt Nam suốt cuộc kháng chiến, có đau thương, có mất mát, nhưng cũng có anh hùng bất khuất, hướng tới tương lai. Ngôn từ trong bài thơ cũng mang tình hàm súc và giản dị. tác giả đã thổi vào mỗi từ ngữ trong bài thơ một nỗi lòng của mình, một tình yêu nước sâu nặng. Cũng phải kể tới sự linh hoạt trong ngôn từ, cách diễn tả, sự biến đổi tinh tế cảm xúc giữa các dòng thơ đã góp phần tạo nên thành công cho bài thơ này.

     Bằng nỗi lòng tràn đầy tình yêu và cảm xúc, với một hồn thơ tinh tế xúc cảm, Nguyễn Đình Thi đã vẽ lên hình tượng đất nước từ những hình ảnh vô cùng quen thuộc. Đó là một đất nước êm đềm, thanh bình, chịu những đau thương của chiến tranh nhưng vẫn quyết tâm, kiên cường, bất khuất giành lại tự do, hướng tới một tương lai tươi sáng. Hình ảnh đất nước đó khiến chúng ta không thể nào quên.

—/—

Trên đây là một số bài văn mẫu Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi mà Wikichiase đã biên soạn. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *