Bài thơ sóng của Xuân Quỳnh – Văn mẫu 12 hay nhất

Câu hỏi: bài thơ sóng của Xuân Quỳnh

Trả lời:

1. Tác giả bài thơ Sóng

     Nhà thơ Xuân Quỳnh (1942 – 1988) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Quê quán xã La Khê, thị xã Hà Đông, Tỉnh Hà Đông, nay thuộc Quận Hà Đông, Tp Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên đi công tác xa gia đình. Xuân Quỳnh lớn lên trong vòng tay của bà nội.

     Xuân Quỳnh được xem là một trong nữ thi sĩ nổi tiếng với nhiều những bài thơ đã đi vào lòng của biết bao nhiêu thế hệ như: Thuyền và Biển, Sóng, Tiếng gà trưa, Thơ tình cuối mùa thu,…

     Nhà thơ Xuân Quỳnh đã được nhà nước phong tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh về những thành tựu bà đã làm cho nền văn học của nước nhà.

2. Nội dung thơ ca của nhà Thơ Xuân Quỳnh

     Chủ đề chính trong những bài thơ của Xuân Quỳnh thường hướng nhiều về nội tâm như: Kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình,… Thơ ca của bà có tính hướng nội, thiên nhiều về tâm trạng cá nhân nhưng không quá rời xa với đời sống.

     Thơ của bà là đời sống thực, đời sống của bà trong những năm đất nước còn đang bị chiến tranh, nghèo đói, thơ của Xuân Quỳnh là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ. Những nét riêng trong thơ của Xuân Quỳnh so với các thế hệ nhà thơ hiện đại khác cùng thời đó chính là cái gọi là khía cạnh nội tâm.

     Thời ấy đa phần thơ thiên về phản ánh sự kiện xã hội, tâm trạng của tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn của tác giả hòa chung với vui buồn của người dân trong xã hội. Tâm trạng thơ trong Xuân Quỳnh thì lại khác, những lời thơ của tác giả nảy sinh ra từ chính những cuộc sống đời thường của tác giả.

     Những câu thơ của Xuân Quỳnh giàu tình cảm và sự tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau những tình cảm ấy là là những tư tưởng có tính khái quát, triết lý. Đấy là một trong những triết lý được nảy sinh từ đời sống.

     Đề tài thơ của Xuân Quỳnh không phải là điều quan trọng. Điều mà nhà thơ quan tâm nhất ở đây là chủ đề. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, dùng tứ để bộc lộ chủ đề. Đây được coi là một trong những đóng góp đáng quý vì giai đoạn ấy thơ của chúng ta rất lỏng về tứ.

     Một số tác phẩm chính của nhà thơ Xuân Quỳnh

  • Tơ tằm – Chồi biếc (tuyển tập 18 bài thơ) thơ được in chung phần Chồi Biếc, NXB văn học, 1963.
  • Hoa dọc chiến hào, 28 bài – 1968;
  • Gió Lào, cát trắng – 1974;
  • Tập thơ Lời ru trên mặt đất, 34 bài – 1978;
  • Cây trong phố – Chờ trăng, in chung phần Chờ trăng, 1981;
  • Sân ga chiều em đi – 1984;
  • Tự hát – 1984;
  • Hoa cỏ may, 18 bài thơ – năm 1989;
  • Thơ Xuân Quỳnh – 1992, 1994;
  • Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ 1994;
  • Không bao giờ là cuối, 21 bài thơ – 2001.

     Ngoài ra, còn một số tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà thơ Xuân Quỳnh được xuất bản như:

  • Mùa xuân trên cánh đồng – Truyện thiếu nhi, 1981;
  • Bầu trời trong quả trứng – Thơ văn thiếu nhi 1982, 32 thơ + 16 văn;
  • Truyện Lưu Nguyễn – Truyện thơ, 1985;
  • Bến tàu trong thành phố – Truyện thiếu nhi, 1984;
  • Vẫn có ông trăng khác – Truyện thiếu nhi, 1986;
  • Tuyển tập truyện thiếu nhi – 1995

3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Sóng

Sóng được sáng tác vào năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu. Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ được in trong tập Hoa dọc chiến hào.

Bài thơ sóng của Xuân Quỳnh

4. Những nội dung trọng tâm bài thơ Sóng

– Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng

     Tác giả đưa ra những trạng thái cảm xúc trong hình tượng sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái cảm xúc đối cực phức tạp của người phụ nữu khi yêu. Thể hiện quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhân thức, là vươn tới cái rộng lớn, cao xa. Qua đó là lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ.

     Sử dụng thủ pháp đối lập: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ=> Thể hiện Các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lí của người phụ nữu khi yêu

     Hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: khát vọng bay xa. Muốn sống trong những điều lớn lao thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường để được tình yêu vỗ về.

=> Quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhân thức, bỏ đi những gì nhỏ nhen, ích kỉ, yêu là vươn tới cái rộng lớn.

     Sử dụng phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa … Bồi hồi trong ngực trẻ”=> Như là lời khẳng định khát vọng tình yêu cháy bỏng luôn thường trực trong trái tim tuổi trẻ, sống hết lòng vì tình yêu.

– Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu

     Sử dụng dày đặc các câu hơi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”: thể hiện mong muốn muốn tìm về được cội nguồn của tình yêu, lí giải được tình yêu, khát khao hiểu được tình yêu, hiểu được bản thân mình và hiểu được người mình yêu.

     Thế nhưng tình yêu là bí ẩn, những trạng thái trong tình yêu luôn là những điều khó lí giải.

     Câu trả lời “Em cũng không biết nữa”: Lời tự thú chân thành của người phụ nữ, đầy hồn nhiên, nữ tính. 

–  Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái khi yêu

     Trong tình yêu nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo. Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian là nỗi nhớ da diết sâu đâm, khôn nguôi. Nhân vật trữ tình “em” hóa thân vào sóng để tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình. Qua đó thể hiện lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu. Lòng thủy chung là sức mạnh để tình yêu vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tới với bến bờ hạnh phúc. Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn tin tưởng vào tình yêu.

     Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu… trên mặt nước…”, “ngày đêm không ngủ được”

     Nỗi nhớ da diết, sâu đậm tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”

=> Tác giả sử dụng cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của nhân vật trữ tình “em”. Tác giả tự mình  hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình

     Người con gái trong tình yêu mang trong mình tấm lòng thuỷ chung, son sắc.

“Em”: phương Bắc phương Nam – “Hướng về anh một phương”

=> Lời thề về lòng thuỷ chung của người con gái trong tình yêu.

     “sóng” : ngoài đại dương → “Con nào chẳng tới bờ” => Thể hiện quy luật vốn có, tất yếu của tự nhiên.

     Lòng thủy chung chính là sức mạnh để tình yêu vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Chỉ cần có niềm tin về tình yêu thì sẽ đến được bến bờ hạnh phúc. Đó cũng là lời khẳng định cho cái tôi của tác giả của một con người luôn tin tưởng vào tình yêu, khát vọng yêu, và được yêu trong cuộc sống.

– Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt

     Sự nhạy cảm và lo âu của tác giả về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian “Cuộc đời tuy dài thế … Mây vẫn bay về xa”.

     “Làm sao” thể hiện sự băn khoăn, khắc khoải của nhân vật trữ tình muốn được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ. Đó khát khao của người phụ nữ được hòa mình vào cuộc đời, được sống hết lòng với biển tình yêu.

– Giá trị nội dung:

     Bài thơ là tiếng lòng của người phụ nữ trong tình yêu luôn thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp mà con người cần có và luôn hướng tới.

– Giá trị nghệ thuật:

     Hình ảnh sóng đôi sóng và em. Xây dựng hình ảnh ẩn dụ – với hình tượng sóng, vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ.

     Thể thơ năm chữ tạo âm điệu sâu lắng, dạt dào, như những con sóng biển và cũng là sóng lòng của chính người phụ nữ trong tình yêu.

     Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng và cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức liên tưởng

Giọng thơ vừa thiết tha, đằm thắm, ngôn ngữ dung dị, gần gũi.

– Ý nghĩa:

     Bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã cho chúng ta thấy rõ những cung bậc cảm xúc thầm kín trong tình yêu. Đó là tiếng lòng, là nhịp chảy của những trái tim đang khao khát, rạo rực niềm yêu thương. Qua đó cũng thể hiện nét đẹp của người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình yêu.

5. Cảm nhận bài thơ Sóng 

     Trong số các nhà thơ thuộc “thế hệ chống Mỹ”, Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ viết nhiều và rất hay về tình yêu. Thơ tình của chị đậm nét tự truyện. Vẫn là những chuyện muôn thuở của tình yêu nhưng bao giờ chúng cũng có vẻ như là chuyện riêng của Xuân Quỳnh, không quá thật thà nhưng xa lạ với những xốn xang, những sự “réo rắt” quá độ. Sóng là một bài thơ hay của chị, in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). Ở đây, khát vọng tình yêu, dù hình tượng mà Xuân Quỳnh mượn làm ẩn dụ vốn chẳng xa lạ gì với các nhà thơ viết về tình yêu kim cổ.

     Trước Xuân Quỳnh đã có biết bao nhà thơ thiên tài viết về tình yêu. Xuân Quỳnh như không có ý đua tranh với họ. Chị “khiêm tốn” chỉ đem chuyện riêng kể không giảng giải cho ai, không xây dựng lí thuyết, không nói điều vượt quá nhận thức và trải nghiệm của chính mình. Khi chị nói:

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

     Thì trước hết ta nên hiểu là chị đang nói về mình, đang thú nhận nỗi “bồi hồi” của mình cùng với sự tự biết rằng mình còn rất trẻ. Nếu mấy câu ấy ứng hợp với nhiều người thì lại là chuyện khác. Cái nhìn của Xuân Quỳnh xuất phát từ bên trong. Nó không giống sự suy đoán tuy già dặn, đúng đắn nhưng lại đi từ ngoài vào của các nhà nghiên cứu tâm lí tình yêu. Cũng thế, khi nói về nơi bắt đầu của tình yêu, Xuân Quỳnh thực sự đứng giữa cái phân vân của chính mình:

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

     Người ta thường hay đối chiếu hai câu thơ “Em cũng không biết nữa, Khi nào ta yêu nhau” của Xuân Quỳnh với câu “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” trong bài Vì sao của Xuân Diệu. Đúng là giữa chúng có sự tương đồng nhưng cái khác vẫn rõ. Mặc dù tỏ ra ngẩn ngơ nhưng Xuân Diệu vẫn cắt nghĩa và sự cắt nghĩa của ông khá rạch ròi. Xuân Quỳnh không hẳn giống thế, chị không ham lí giải, phân tích, dù trong lòng có bao mối bức xúc đòi “tìm ra tận bể” để “hiểu”, để “nghĩ”. Chị vẫn giữ nguyên vẹn tâm lí phụ nữ của mình với cái “lắc đầu” thật dễ “động lòng”: “Em cũng không biết nữa”. Nhu cầu tìm hiểu ở đây là nhu cầu tình cảm hơn là nhu cầu của trí tuệ. Nó cũng như con sóng, được đẩy tới rồi thoái lui và tan trong mỗi ngọt ngào được che chở, vỗ về. Biết ta đang yêu nhau thế là đã đủ. Thắc mắc một tí chỉ là để yên tâm hơn với hạnh phúc hiện có. Tuy nhiên, như chị đã viết trong một bài thơ khác (Thuyền và biển): “… tình yêu muôn thuở, có bao giờ đứng yên dù không có gì thật gay cấn thì tình yêu vẫn sống động, vẫn muốn vỗ suốt cả hai chiều không gian và thời gian:

Con sóng dưới lòng sâu…

Con sóng trên mặt nước,

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được.

     Là con người của thời hiện đại dám sống với toàn bộ những gì mình có, Xuân Quỳnh không ngại nói thẳng ra nỗi đau đáu của mình. Trong tâm thức con người ấy chỉ có “anh” là đáng kể mà thôi. Chị rất kiên định trên “lập trường tình yêu” và đề cao tuyệt đối lòng chung thuỷ:

Dẫu xuôi về phương Bắc,

Dẫu ngược về phương Nam,

Nơi nào em cũng nghĩ,

Hướng về anh – một phương.

     Những lời khẳng định ấy thật da diết, riết róng và cũng chứa đựng thật nhiều thách thức, thách thức với hoàn cảnh và thách thức với cả tình “anh” nữa! Những ai hay do dự và có thói quen “vọng ngoại” trong tình yêu hẳn sẽ có cảm giác “chợn” trước sự tỏ bày dứt khoát ấy. Bình thường người ta vẫn nói ngược về phương Bắc, xuôi về phương Nam nhưng Xuân Quỳnh thì đã nói ngược lại. Đối với chị, dù có xáo trộn một tí thì điều đó cũng không có gì là quan trọng. Quan trọng nhất chỉ là “phương anh”, dù ở đâu em cũng “hướng về”. Nếu nói đến sự quyết liệt của tình yêu Xuân Quỳnh thì khổ thơ này là dẫn chứng thuộc loại tiêu biểu nhất.

     Như nhan đề bài thơ đã nói rõ, hình tượng trung tâm ở đây là hình tượng sóng. Mới nhìn qua, cách biểu đạt khát vọng tình yêu bằng ẩn dụ kia chưa phải đã thật độc đáo. Dù vậy, Xuân Quỳnh đã hoàn toàn đúng khi chọn đối tượng để hoá thân. Sóng – Xuân Quỳnh – nhân vật trữ tình tuy là ba nhưng cũng gần như một. Ở Xuân Quỳnh cũng có nhiều nét đối cực như sóng, cũng không bao giờ chịu yên bề như sóng và cũng như sóng, luôn muốn “tìm ra” với biển lớn của tình yêu, của cuộc đời:

Dữ dội và dịu êm,

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình,

Sóng tìm ra tận bể.

     Căn cứ vào âm điệu dồi dào, nhiều biến đổi và thường là cuộn trào sôi nổi của bài thơ, có thể thấy sóng là một hình tượng sống thực chứ không hề là hình ảnh minh hoạ (hình ảnh minh họa chỉ là vỏ ngoài của ý tưởng, nó sẽ chết khi ý tưởng đã được người đọc lĩnh hội hết). Xuân Quỳnh đã phả vào hình tượng “sóng” vốn khá quen thuộc hơi thở yêu đương nồng nàn của mình, và do vây tái tạo nó, khiến nó như mới được sinh ra lần đầu với tình yêu của chị. Đôi khi sự hoá thân của chị vào “sóng” sâu sắc đến mức “sóng” cũng thành ra có dáng… vất vả, lo toan, tất bật ngược xuôi. Khổ thơ có mấy câu “Dẫu xuôi…” “Dẫu ngược” (đã trích) cùng khổ tiếp theo cho ta thấy điều đó rất rõ:

Ở ngoài kia đại dương,

Trăm ngàn con sóng đó,

Con nào chẳng tới bờ,

Dù muôn vời cách trở.

     Khi ẩn mình trong “sóng”, khi đứng hẳn ra xưng “em”, một mà hai, hai mà một, cái “tôi” Xuân Quỳnh luôn thao thức, trăn trở. Vừa bộc lộ gián tiếp lại vừa bày tỏ trực tiếp, khi ẩn, khi hiện, đấy mới là “nhịp sóng” ngầm của bài thơ, quy định những xao động bề mặt, biểu hiện qua câu chữ và âm điệu, nhịp điệu tương đối dễ thấy. Ẩn dụ “sóng” tuy có lúc bị phá vỡ, nhưng đấy chỉ là sự phá vỡ bề ngoài. Điều đó tạo điều kiện cho ta hiểu sâu hơn tầng “ẩn dụ” của cả bài hiểu sâu hơn những âu lo khắc khoải, những hi vọng, khát vọng, những gắng sức kiếm tìm và hành động tất yếu phải có ở một tình yêu chân chính một tình yêu như tình yêu của Xuân Quỳnh khi đối diện với cuộc đời rộng lớn, với thời gian trôi chảy không ngừng:

Cuộc đời tuy dài thế,

Năm tháng vẫn đi qua,

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa.

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu,

Để ngàn năm còn vỗ.

     Như trên đã phân tích, bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh có một cách thể hiện riêng về khát vọng tình yêu. Bao trùm lên là sự chân thực trong tình cảm, dường như chỉ nói những điều mà nhà thơ đã thể nghiệm sâu sắc. Cách nói ở đây táo bạo, nhiều khi quyết liệt chứ không dè dặt, sẽ sàng. Hình tượng “sóng” được xây dựng sinh động, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú, tuy nhiên nó thường bị giải thích bằng những lời thổ lộ tình cảm trực tiếp của nhân vật trữ tình. Với một vẻ đẹp khá độc đáo, khá riêng đó, bài thơ đã dành được cảm tình tốt đẹp của rất nhiều người đọc trong những năm qua. Như mong ước của Xuân Quỳnh, “giữa biển lớn tình yêu”, con sóng thơ được chị hoá thân vẫn còn dào dạt vỗ.

Đăng bởi: Wikichiase.com

Chuyên mục Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *