10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài. Ý nghĩa ăn chay của Đạo Cao Đài

10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài; ý nghĩa của việc ăn chay sẽ có tại Wikichiase. Nếu quý vị chưa biết chính xác 10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài là những ngày nào, thì đừng bao giờ bỏ qua bài viết dưới đây.

Đạo Cao Đài là gì? Đạo Cao Đài Tây Ninh và những mới lạ

Đền thờ của Đạo Cao Đài
Đền thờ của Đạo Cao Đài

Nếu bạn là người yêu thích tín ngưỡng chắc chắn đã từng nghe nói đến Đạo Cao Đài hay còn gọi là Đạo Trời. Theo nghĩa đen tên gọi Cao Đài tức là chỉ “một nơi cao”. Còn nếu hiểu theo nghĩa bóng là nơi cao nhất có Thượng đế đang ngự trị. Để hiểu rõ hơn về Đạo Cao Đài là gì, đạo cao đài thờ ai mời bạn theo dõi bài viết dưới đây.

Đạo Cao Đài là gì?

Đạo Cao Đài được biết đến là một tôn giáo độc thần. Nói về nguồn gốc Đạo Cao Đài thì vào thế kỷ thứ XX đạo này được thành lập tại Miền Nam nước ta. Tên gọi đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tá. Đạo Cao Đài thờ ai là một trong những thắc mắc của nhiều người. Những tín đồ, chức sắc Đạo Cao Đài lập ra để thờ tượng Thượng Đế. Bởi họ tin rằng người đã sáng lập ra các tôn giáo và tất cả mọi thứ ở vũ trụ này.

Mọi hoạt động từ giáo lý, biểu tượng và những tổ chức đều được Đức Cao Đài chỉ định. Cao Đài được cho là một tôn giáo mới, nó tập hợp nhiều yếu tố đến từ tất cả các tôn giáo lớn ở Việt Nam, bao gồm cả Phật Giáo. Thậm Chí Đạo này còn thờ phụng những nhà chính trị gia tài ba cùng nhiều thành phần khác. Vì vậy khi có người hỏi Đạo Cao Đài thờ những vị nào thì được hiểu đầu tiên là Thượng Đế, sau đó mới tới các thành phần khác nói chung những người góp công lớn trong cuộc sống xã hội.

Các tín đồ trong đạo thực hiện những điều lệ cơ bản trong đạo như sống lương thiện, không sát sinh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, ông bà. Điều đó được thể hiện thông qua việc ăn chay, niệm phật mỗi ngày. Tất cả đều mong muốn đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho muôn loài. Mục tiêu cuối cùng là đưa vạn vật thoát khỏi vòng luân hồi về nơi thiên giới.

Những giáo lý cơ bản của Đạo Cao Đài

Qua những thông tin trên, chắc hẳn bạn đã biết về Đạo Cao Đài thờ những vị nào rồi phải không. Các tín đồ của đạo này tin rằng Thượng Đế là đấng tối cao, sáng lập ra vũ trụ. Theo thời gian, tùy theo địa phương cụ thể, Ngài sẽ hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời gian và địa điểm. Theo đó, Đạo Cao Đài được phân thành 3 kỳ phổ độ bao gồm 3 nhánh khác nhau.

Cụ thể như sau:

Nhất kỳ Phổ độ: Đây là thời kỳ đầu tiên hình thành nên các tôn giáo lớn là Phật Giáo, Nho Giáo, Kỳ Na giáo, Lão Giáo. Thượng Đế đã phó thác cho những đệ tử đầu tiên của mình truyền đạo cho dân chúng.

Nhị kỳ Phổ độ: Đây là thời kỳ để chấn hưng tất cả các nền tôn giáo có mặt trên thế giới. Sau một thời gian phổ độ, các giáo lý đã không truyền dạy đúng những nguyên lý mà Thượng Đế mong muốn. Do đó, Một lần nữa Thượng Đế lại truyền dạy cho các đệ tử của mình ở khắp nơi trên thế giới. Và hình thành nên Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Tiểu thừa….Nhờ thế mà các tôn giáo trong thời kỳ này được chấn hưng và phát triển rất mạnh mẽ. Nó vượt qua những rào cản của vùng miền, quốc gia.

Tam kỳ Phổ độ: Ở thời kỳ này, mọi tôn giáo có mặt trên thế giới đều được Thượng Đế hợp thành một giáo duy nhất. Và người sẽ trực tiếp điều hành và cai quản. Đây cũng chính là lý do mà nhiều tín đồ trong tôn giáo gọi là “Đạo Thầy”. Ý muốn ám chỉ rằng họ là những người được học đạo trực tiếp từ Thượng Đế.

Những quy định của Đạo Cao Đài
Những quy định của Đạo Cao Đài

Bàn thờ Đạo Cao Đài

Sau khi tìm hiểu về lịch sử Đạo Cao Đài. Nếu muốn nhập môn, các tín đồ phải lập bàn thờ để thờ tự Đức Cao Đài. Bàn Thờ Đạo Cao Đài được gọi với cái tên là Thiên Bàn. Vị trí đặt Thiên Bàn có thể là cùng với bàn thờ gia tiên của tín đồ. Hoặc có thể đặt ở một nơi riêng rẽ, trang nghiêm trong từng gia đình.

Bàn Thờ Đạo Cao Đài người ta thường lập bằng gỗ và đóng thành hai tầng. Trên bàn phải bày biện đầy đủ 9 món và được xếp thành 3 hàng ngang. Cụ thể như sau:

 Sơ đồ bài trí bàn thờ Đạo Cao Đài

Cách sắp xếp ban thờ của Đạo Cao Đài
Cách sắp xếp ban thờ của Đạo Cao Đài
  • Thánh Tượng Thiên Nhản.
  • Ðèn Thái Cực.
  • Trái Cây.
  • Bông.
  • Nước trà (để bên hửu ấy là Âm).
  • Ba ly rượu
  • Nước trắng (để bên tả ấy là Dương).
  • Hai cây đèn.
  • Lư hương.

Biểu tượng của Đạo Cao Đài chính là con mắt trái hay còn gọi là Thiên Nhãn. Tại khu chính điện tòa thánh Tây Ninh, thờ Thiên Nhãn nằm trên quả càn khôn có 3.027 ngôi sao, tượng trưng cho 3.072 quả địa cầu.

10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài là những ngày nào?

10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài
10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài

Để trả lời chính xác cho câu hỏi: 10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài là những ngày nào; thì trước tiên quý vị phải tìm hiểu những quy định chính trong Luật đạo Cao Đài.

Luật đạo về việc ăn chay

Điều thứ 12 Bộ Tân Luật của Đạo Cao Đài ban hành kể từ ngày lập giáo đến giờ qui định như sau:

“Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:

Một bực còn ở thế có vợ có chồng làm ăn như người thường song buộc phải trai kỳ hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ ngũ giới cấm và phải tuân theo thế luật của Đạo Cao Đài truyền bá. Bực này gọi là người giữ Đạo mà thôi, vào phẩm hạ thừa.

Một bực đã giữ trường trai, giới sát gọi là vào phẩm thượng thừa”.

Điều thứ 14 nói rằng:

Chức sắc cai trị trong Đạo từ bậc Giáo Hữu sắp lên phải chọn trong bực người thượng thừa mà thôi.

Ăn chay theo Đạo Cao Đài có nghĩa là nuôi dưỡng cơ thể bằng chế độ thực phẩm gốc thực vật. Người tín đồ không được phép ăn thịt của bất cứ loài động vật nào trong ngày chay lạt từ con thú lớn như thịt bò, thịt heo cho đến tôm cua. Nói một cách khác, thực phẩm mà họ dùng không có một vụ sát sanh động vật nào mà có.

Trong thời hạn 6 tháng tập sự kể từ ngày nhập môn, người tín đồ phải cố gắng ăn chay từ 6 ngày mỗi tháng, tập lần đến 10 ngày mỗi tháng, và có thể dừng lại ở mức này cho đến suốt đời nếu không muốn đi xa hơn nữa.

Những ngày ăn chay được tính theo âm lịch

. Trai kì 6 ngày mỗi tháng là:

Mồng 1, 8, 14, 15, 23 và 30 (tháng thiếu thì ăn chay ngày 29 thế cho 30).

. Trai kì 10 ngày mỗi tháng là:

Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30 (tháng thiếu phải ăn chay ngày 27).

Tưởng cũng cần nói rõ nơi đây vấn đề dùng trứng, sữa, tôm khô, cua hay khô mực. Tôm, cá mực, cua là những loài động vật, ăn thịt những loài này, dù khô hay tươi vẫn phải kể là ăn mặn. Sữa gốc ở cơ thể động vật bài tiết ra, nhưng không phải là sát sanh, nên được phép dùng trong ngày chay.

Vấn đề trứng phức tạp hơn, hiện nay hai loại trứng thường dùng trong thực phẩm là trứng gà và trứng vịt, thực phẩm này cũng lấy từ cơ thể động vật mà ra, dù không sát sanh con thú mẹ nhưng nếu có trống, trứng có thể hườn nguyên hình một con thú mới. Do đó ăn loại trứng có trống này là gián tiếp ăn thịt một con thú sắp tượng hình rồi thì đương nhiên là đang ăn thịt một con “thú con” vậy không thể nào gọi là ăn chay được.

Nếu trứng không có trống thì trứng ấy chẳng khác nào một thứ sữa do thú vật bài tiết ra, dù có ấp cũng không nở ra con được, người ăn chay có thể tạm dùng được ngoài 10 ngày ăn chay và trong lúc bệnh hoạn, kém sức.

Nếu phải xếp loại, chúng ta có thể hiểu như thế này: giữa hai hạng người trường trai hoàn toàn (dùng toàn thực phẩm gốc ở thực vật) và hạng ăn mặn (dùng thịt của thú vật) có một hạng ở giữa cũng ăn chay nhưng còn dùng sữa thú vật và trứng không trống.

Tóm lại, dùng tôm, cua, khô mực, trứng có trống không thể kể là ăn chay được. Nếu cá nhân người nào còn dùng những thức ăn này ấy là vì cơ thể họ chưa quen được với chế độ trường trai đúng nghĩa, họ đang tập lần, chớ luật Đạo Cao Đài không cho phép dùng những thức ăn này trong ngày chay. Có nhiều người đã hiểu lầm về việc này. Hành động của cá nhân là một việc, không thể nào đồng hóa với luật pháp được.

Quy định ăn chay bù của đạo Cao Đài
Quy định ăn chay bù của đạo Cao Đài

Ăn chay bù

Vấn đề thứ hai là có thể ăn chay vào một ngày khác hơn ngày ấn định để bù lại vì đã ăn mặn vào một ngày chay, hay vì những lý do nào đó, thí dụ: tiệc tùng, hay vị nể lời nói của bạn bè hay chính mình không nhớ ngày ăn chay…

Nhập môn cầu Đạo là hành động tự nguyện, hứa tùng theo luật Đạo cũng là một hành động tự nguyện, không ai bắt buộc mình, nhưng một khi đã cam kết tức phải có sự ràng buộc.

Nếu một người đã cam kết điều gì rồi chính mình xem lời hứa của mình như không có, còn ai có thể tin mình được? Nhơn vô tín bất lập, cổ nhân vẫn thường nói, vì vậy mà giáo luật có tính cách bắt buộc người tín đồ phải giữ chay giới trong những ngày đã ấn định.

Để tập cho họ có đức tính tốt là luôn luôn phải nhớ lời hứa, chứng tỏ một nghị lực muốn vượt qua những cám dỗ của thể xác và đời sống thế tục, một ý chí muốn tu hành, ít nữa trong phạm vi nhỏ hẹp là sự ăn uống, giữ đúng trai kỳ là một hành động nói lên phần nào tinh thần của người tín đồ quyết tâm làm chủ thân xác và dục vọng của mình.

Ăn chay bù lại những ngày không giữ được giới luật là hành động dễ dãi nuông chìu dục vọng của mình. Nếu không thể giữ được tốt hơn nên can đảm nhìn nhận khả năng của mình đến mức đó, rồi cố gắng khắc phục dần dần những trở ngại chớ không nên tìm cách đánh tráo để cho tâm trí mình được yên ổn.

Trai kỳ đã được ấn định thành qui luật, tức cần phải được tuân theo, chúng ta không nên sửa cải, thay thế ngày chay nầy bằng một ngày chay khác. Đành rằng Đức Chí Tôn có hứa :

“Giữ trai kỳ từ 10 ngày đổ lên trong tháng thì được thọ truyền bửu pháp”.

Thay thế ngày ấy bằng một ngày khác thì tổng số cũng đủ 10 ngày, song về mặt tâm lý đã tỏ rõ yếu kém, xem lời minh thệ “Gìn luật lệ Cao Đài” nhẹ hơn lời mời của bạn hữu trong bữa tiệc hay một cơn thèm muốn của vị giác.

Tóm lại đối với vấn đề ăn chay bù này không nên dễ duôi với xác thân, mà cần phải buộc, phải tuân theo kỷ luật tối thiểu của người tu để làm căn bản.

Không ăn chay, làm việc thiện

Tới đây một vấn đề được đặt ra là nếu như một người không ăn chay, mà làm việc thiện, có tính tốt với mọi người thì sao?

Người ta vẫn hỏi như vậy và còn có ý so sánh với những kẻ ăn chay, nhưng hành động thường nhật rõ ràng chẳng tốt đẹp gì. Lẽ dĩ nhiên ăn chay chỉ là một việc nhỏ trong đời sống người tín đồ, còn phải làm nhiều việc khác nữa, nhứt là trau giồi tâm linh cho nên hiền, nên thánh.

Còn sự so sánh, chúng ta nên so sánh mình với những bậc mà thiên hạ đều kính yêu để bắt chước điều hay lẽ phải nơi họ chớ đừng nên so sánh với kẻ giả tu làm gì.

Nếu thấy mình hãnh diện khi so sánh với kẻ giả tu hay kẻ có lòng thành, nhưng ở mức độ thấp kém, chúng ta nên hiểu rằng, niềm hãnh diện ấy chính là lòng kiêu ngạo, khoe khoang của chính mình đã biến dạng thành một trạng thái tâm lý như vậy. Nếu thật sự muốn hoàn thiện, chúng ta nên dứt bỏ những ý nghĩ so sánh ấy. Dĩ nhiên sự thành thật là điều đáng quí vô cùng trong đời sống của người tín đồ.

Cố gắng ăn chay không thôi cũng đáng quý, làm việc thiện cũng đáng quý, mà có được cả hai thì càng tốt miễn rằng chúng ta thành tâm muốn sửa đổi con người mình luôn luôn.

Ý nghĩa của việc ăn chay 10 ngày trong đạo Cao Đài
Ý nghĩa của việc ăn chay 10 ngày trong đạo Cao Đài

10 ngày ăn chay của đạo Cai Đài có ý nghĩa gì?

Hành động ăn chay có ý nghĩa gì khiến giáo luật phải buộc nghiêm khắc như vậy?

Chúng ta hiểu rằng chi chi hữu sanh cũng do bởi chơn linh Đức Chí Tôn mà ra, hễ có sống ắt có Ngài trong đó. Ngài là cha của sự sống, lòng háo sanh của Ngài không cùng tận. Ngài đã phân tánh Ngài mà sinh ra vạn vật là vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, nhơn loại gọi chung là chúng sanh.

Nhân loại là bậc tiến hoá cao hơn các loài kia thì vai tuồng chẳng khác người anh cả trong gia đình đối với các em vậy. Kẻ nào làm được hành động phi thường, yêu thương cả chúng sanh như yêu thương chính thân mình vậy, bảo bọc, nâng niu, che chở cho đời sống của muôn loài vạn vật… kẻ ấy được tôn trọng lên hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Ngược lại, nếu kẻ nào cướp đoạt mạng sống của chúng sanh để béo bổ thân mình ắt phải bị đền bồi mới đúng luật công bình tạo hoá. Như thân ta đây lấy từ cát bụi đấp nên hình, chết phải trả về cát bụi. Cỏ cây hút phân mà sống, rồi thú vật ăn cỏ cây nên hình, người ăn thịt thú và cây cỏ, người chết đi thân thối rữa trở thành phân, đất để cỏ cây đòi lại những chất bổ ấy. Người đã cướp mạng sống của cỏ cây giờ đây phải đền mạng, để cỏ cây mọc lại trên thân xác mình vừa biến thể.

Tấn tuồng ấy đã tạo thành vòng luân hồi triền miên từ tạo thiên lập địa đến giờ. Càng sống lâu càng khôn ngoan, luân hồi nhiều kiếp mới đạt đến địa vị con người là anh cả của thú vật, thảo mộc và vật chất, vốn là anh em do một nguồn gốc với nhau từ một ông cha chung là Chí Tôn mà ra.

Nếu muốn thoát cửa luân hồi, ngừng nghỉ cuộc tử sanh máu đổ thịt rơi chỉ có một cách là mở rộng tâm thần nhìn thẳng vào chúng sanh, sẽ thấy mọi người là ruột thịt với nhau. Tình thương thiêng liêng ấy sẽ buộc ta dừng tay chém giết lại, ấy là lòng bác ái, là ý nghĩa của việc ăn chay.

Bất sát sanh là lệnh truyền của Đức Chí Tôn và ăn chay là một trong muôn ngàn cách thực hiện lời dạy ấy. Bởi vậy hành động ăn chay phải đi kèm với ý tưởng muốn mở rộng lòng yêu thương của mình xóa bỏ hận thù với tất cả mọi người, mọi vật.

Thế nhưng ăn chay nào tránh khỏi sát sanh đâu, ăn thảo mộc cũng là sanh vật vậy? Quả nhiên như thế, ai đã đến cõi trần này mang lấy xác thân, ắt có luân hồi vay trả, chưa dễ gì không ăn mà sống, nên thôi đành hiệp nhau lại mà làm một điều luật định cho kẻ nào bớt được việc sát sanh, nhất là đối với những sinh vật thân thích, gần gũi với mình hơn hết, thì đồng công nhận kẻ đó có được lòng thương rộng rãi nên ban cho phẩm vị học đòi theo hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Ấy vậy quyền của Vạn Linh đã định kẻ nào chỉ ăn hoa quả, thảo mộc mà sống cũng vào hạng từ tâm, bác ái, cũng đáng gọi là “Bất sát sanh”, tuy rằng chẳng phải nghĩa cho lắm, nhưng xét ra cũng ít người làm được, thì địa vị kia cũng không có gì là quá đáng.

Vậy thì hành động ăn chay có ý ngĩa là biết thương mình, thương người, thương cả chúng sanh, tình thương ấy biểu lộ một cách tích cực trong hành động chứ không phải trong lời nói suông.

Đạo Cao Đài có tính mở
Đạo Cao Đài có tính mở

Tác dụng của thần quyền trong Đạo Cao Đài

Thánh Giáo của Đức Chí Tôn có dạy rằng:

“Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân. Một phàm gọi là Corporel (thể xác). Còn một thiêng liêng gọi là Spirituel (linh hồn), mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng không thấy đặng.

Cái xác vô hình huyền diệu, thiêng liêng ấy do nơi Tinh Khí Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí…”

Đức Chí Tôn gọi xác thân thứ hai này là Chơn thần. Ngài lại dạy:

“Nó vẫn là chất, tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài càn khôn đặng.”

Một trong những điều kiện dễ làm cho chơn thần nhẹ nhàng tinh tấn, trong sạch là người tu phải ăn chay trường, vì phải có thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. Lẽ dĩ nhiên chỉ ăn chay trường không thôi không đủ để làm cho người ta trở nên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật.

Nhưng điều kiện này rất cần thiết vì khi còn ăn mặn mà luyện đạo, nếu như hườn hình được nhị xác thân thì chơn thần ấy vẫn còn chứa trược khí trong đó, mà trược khí là một chất tiếp điển nên khi chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt rồi. Còn nếu như chơn thần khôn ngoan hơn, ẩn núp tại thế, thì kiếp đọa trần cũng chưa mãn.

Vì vậy mà Đức Chí Tôn buộc người tu vào bậc thượng thừa phải trường trai giới sát. Còn đối với bậc hạ thừa Ngài không buộc trường trai, song nhưng ít nhứt cũng phải giữ đặng 10 ngày chay trở lên mỗi tháng.

Ngài có hứa rằng kẻ nào giữa đặng trai kỳ 10 ngày trở lên được thọ truyền bửu pháp và Hội Thánh thực hiện lời hứa ấy bằng cách làm phép xác cắt bảy dây oan nghiệt cho người nào lúc chết còn giữ được 10 ngày chay mỗi tháng. Về phần chức sắc đã có thọ phép giải thể, chết về đời, sống về Đạo thì đặng phép độ thăng, khỏi cắt bảy dây oan nghiệt.

Đức Bát Nương Diêu Trì Cung lại còn giảng rõ về âm quang như sau:

“… Nơi ấy, là những chốn phạt tù những hồn vô căn, vô kiếp nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế… kỳ thật là nơi để cho các chơn hồn giải thần định trí (một nơi trung gian giữa thiên đường và địa ngục hay là mờ mờ mịt mịt).

Ấy là một cái quan ải, các chơn hồn khi qui thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nửa đôi trăm năm, tùy chơn hồn thanh trược. Chí Tôn buộc phải trường chay cũng vì cái quan ải ấy”. (TNHT, QII, 1970 trg 83)

Lời giải thích đã khá rõ ràng ăn chay có tác dụng làm cho chơn thần được thanh khiết là điều kiện cần thiết để vượt khỏi âm quang về cõi thiêng liêng hằng sống.

Hai tiếng thanh trược nơi đây có một ý nghĩa tương đối, mà thật vậy có gì là tuyệt đối trong cõi đời này đâu. Chơn thần của một người được gọi là thanh, xét về phương diện thần quyền, đâu phải chỉ có ăn chay là đủ, mà còn phải có muôn vàn điều kiện khác nữa.

Đức Chí Tôn có hứa thọ truyền bửu pháp cho kẻ nào giữ trai giới 10 ngày trở lên. Đó là một điều kiện cần thiết trong lãnh vực ăn uống, chớ thật ra bao nhiêu ngày chay đó cũng chưa chắc đủ cho chơn thần siêu thoát được.

Bởi vậy khi hứa cho tín đồ được phép giữ 10 ngày chay, Đức Chí Tôn đã buộc liền, phải tạo nhiều công đức, rồi công đức ấy cộng với sự trai giới định kỳ làm cho chơn thần tương đối thanh, nó mới có thể nương nhờ ân điển thêng liêng thanh khiết hơn nhiều lắm, núp theo đó mà thăng dần đến các cõi cao siêu tịch diệt.

Ấy vậy mới có những giáo pháp không cần đòi hỏi tín đồ phải giữ trai giới mà vẫn tạo ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật được. Không giữ trai giới nhưng tạo được nhiều công nghiệp, tâm linh mở rộng, môn đồ của những giáo pháp không ăn chay ấy vẫn tạo được chơn thần thanh theo nghĩa tương đối nên vẫn về được ngôi vị cũ, vẫn được thần linh độ hồn về cực lạc.

Tích cực là tạo công đức, tiêu cực là trì tâm giới sát, bù qua sớt lại tới mức nào đó, thì chơn thần gọi là thanh, đương nhiên được sống nơi cõi phù hợp với trạng thái của nó.

Đạo vẫn như nhiên, pháp linh của trời đất xưa nay vẫn không thay đổi dù giáo pháp của các vị giáo chủ có đổi thay.

Ấy vậy luật pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cho ăn chay 10 ngày rồi trường chay không có gì ngược với bí pháp của Đạo Thánh Kitô, Thích Ca, hay Vô Vi của Lão Tử… Chúng ta thấy có sự khác biệt ở chỗ có ăn chay hay không, nhưng bí pháp hằng sống của chơn thần chẳng hề khác nếu người ta chịu hiểu cho đến tận cùng giáo lý của các vị giáo chủ ấy, nhứt là nền tảng siêu linh, là phần Hình Nhi Thượng, chớ đừng hiểu ở ngọn, ở chữ nghĩa của kinh điển.

Quan điểm tín ngưỡng của Đạo Cao Đài
Quan điểm tín ngưỡng của Đạo Cao Đài

Quan niệm ăn chay của đồng bào đạo giáo Nam bộ

Quan niệm về ăn chay mỗi đạo khác, không chỉ khác ngày, giờ mà còn khác cả cách ăn, thức ăn. Những điều cần tránh hoặc nên làm khi ăn cũng thế.

Nhưng chung nhất, ăn chay là dịp để thực hành lời khuyên dạy của “đạo trời” về ăn hiền ở lành; tiết chế sự đòi hỏi thái hóa của thân xác.

Số ngày ăn chay trong tháng

Những người theo đạo Phật, hạng xuất gia (nhà sư, ni cô), do phải chấp nhận cuộc sống kham khổ nên trong việc ăn uống, họ tuyệt đối không dùng “đồ mặn”, cũng cự tuyệt các loại rượu. Còn người tu tại gia (phật tử bình thường) thì “tự do”, hoặc tự nguyện ăn chay một số ngày nhất định. Thường thì họ ăn chay:

  • 2 ngày, tức Nhị chay: Mỗi tháng ăn chay các ngày mùng 1 và ngày Rằm.
  • 4 ngày, tức Tứ chay: Mỗi tháng ăn chay các ngày mùng 1, 8, Rằm, và 23.
  • 6 ngày, tức Lục chay: Mỗi tháng ăn chay các ngày mùng 1, 8, 14, Rằm, 23, 29 nếu tháng thiếu, 30 nếu tháng đủ.
  • 10 ngày, tức Thập chay: Mỗi tháng ăn chay các ngày mùng 1, 8, 14, Rằm, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (nếu tháng thiếu ăn chay từ ngày 27, 28 và 29).
  • 1 tháng, tức Nhứt nguyệt chay: mỗi năm ăn chay trọn 1 tháng Giêng hoặc tháng 7, bởi vì trong tháng Giêng có ngày Rằm tức lễ Thượng ngươn (nguyên) đầu năm, tháng 7 có ngày rằm lễ Vu Lan.
  • 3 tháng, tức tam nguyệt chay: Ăn chay trường liên tục 3 tháng Giêng, 7 và 10, bởi vì 3 tháng này có 3 ngày Rằm lớn Thượng ngươn, Trung ngươn và Hạ ngươn.

Trường chay là người thọ chay liên tục, cũng như người xuất gia suốt đời, nhưng mỗi ngày ăn 2 bữa chứ không ăn Ngọ như các sư.

Các món ăn chay của đạo Cao Đài

Vào những ngày ăn chay họ không dùng thịt, cá, trứng, kể cả nước mắm, mà chỉ dùng các loại rau quả (sống hoặc luộc, kho…), đắc dụng nhất là những món được chế biến từ đậu nành (tương, chao, tàu hủ…).

Bữa ăn chay của bà con theo đạo Phật (nhất là những người xuất gia) họ ít khi dùng các vị cay nồng (như ớt, tiêu, hành, tỏi…) vì cho rằng đó là những chất kích thích, có thể do chúng mà không “dằn” được dục tính. Chung nhất là đạm bạc.

Tuy nhiên nếu có khách quý hoặc lễ tiệc, đôi khi họ cũng vẽ viên, cầu kỳ, nào “mắm lóc”, “thịt kho”, nào “gà rôti”, “sườn nướng”…, vừa khéo vừa ngon – nếu không được biết trước, có thể người dùng sẽ hơi bị lầm là món mặn.

Trong khi đó, những người tu theo phái tiểu thừa (tuyệt đại đa số là đồng bào Khơ me Nam Bộ) có phần thoáng hơn. Các vị sư sãi cũng thế. Bà con cúng dường món chi, dầu chay hay mặn đều trân trọng chứ không câu chấp, bởi đó là tấm lòng của thí chủ.

Tất nhiên họ không xúi giục hay gợi ý người khác giết hại sanh vật để làm món ăn cho mình, vì sát sanh là một trong những giới luật của nhà chùa. Các sư độ Ngọ từ 11 – 12 giờ trưa, Cúng dường trong nghi thức cúng Ngọ…

Đặc biệt, bà con Phật tử Nam tông (tu tâm tại gia) khoảng từ 40 tuổi trở lên mỗi tháng nhịn ăn 4 bữa chiều vào các ngày mùng 8, Rằm, 22 và 30. Sáng đi chùa, chiều nhịn – tùy theo cái tâm của mình. Đó là những người lớn tuổi, tâm đạo, chứ không phải mọi người đều như thế.

Đối với Phật giáo Đại thừa, nếu thường ngày các sư chỉ “độ” một bữa ăn (chính) vào lúc giữa trưa, gọi “ăn cơm Ngọ” thì những người xuất gia theo phái Tiểu thừa không dùng bữa ngày hai lần: sáng sớm và trưa – từ 12 giờ trở đi chỉ uống chứ không ăn (tức không đưa vào miệng những món phải “nhai”).

Những người theo đạo Cao Đài thì “mở” hơn. Vào những ngày “trai kỳ” họ vẫn ăn những vật “không có máu” như trứng, tôm, cua, ốc… Các bà nội trợ tỏ ra khá khéo tay, nhất là có biệt tài trong việc chế biến các món “giả mặn”. Theo Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Toà Thánh Tây Ninh) thì:

Nhập môn rồi phải tập trai giới, ban đầu ít nữa phải giữ Lục trai, lần lần tập đến Thập trai, nhưng trường trai được lại càng tốt.

Lục trai: Là ăn chay ngày 1, 8, 14, 15, 23 và 30 (tháng thiếu thì ăn ngày 29 thế cho ngày 30).

Thập trai: Là ăn chay ngày 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (tháng thiếu ăn thêm ngày 27).

Vị nào giữ được Thập trai trở lên thì sau khi qui liễu, được Hội Thánh đến làm phép xác, y như lời tiên tri: “Ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ truyền Bửu pháp”. Đến bữa ăn, họ đọc Kinh vào ăn cơm (giọng Nam Xuân).

Đồng bào Công giáo thì ăn chay ít nhất mỗi năm hai lần vào ngày thứ tư “Lễ Tro” (tháng Hai) và thứ sáu “tuần Thánh” (tháng Ba) – “mùa chay” từ tháng Hai đến tháng Tư dương lịch, nhằm chuẩn bị lễ Phục sinh. Nếu muốn ăn chay nhiều hơn thì ăn mỗi tuần vào ngày thứ sáu để tự hãm mình.

Ngày ăn chay, người theo Công giáo nhịn ăn và nhịn uống (ngoài nước lã) từ sáng sớm đến 11 giờ. Từ 11 giờ trở đi, được ăn no song phải cử thịt mỡ; chỉ được ăn một lần rồi nhịn cho tới 18 giờ, nhưng ăn ít hơn bình thường (lưng lửng), cho tới hai mươi bốn giờ là mãn ngày ăn chay.

Bà con theo Phật Giáo Hòa Hảo (toàn thể đều thuộc hạng tại gia cư sĩ) nên việc ăn uống, luật đạo “không ép ai ăn chay cũng chẳng xúi ai ăn mặn”, tuy nhiên cũng có “phép” định về việc “ăn chay kỳ: “Chay bốn bữa là quy tắc”. Song cũng có người “vượt rào”, ăn sáu bữa (ngày), thậm chí “ăn chay trường” để nhằm tránh sát sanh – thể hiện lòng nhơn của mình.

Theo đó, về ăn chay: “Ăn chay ngày 14, 15, 29, 30 – tháng thiếu 29 và mồng một (…). Hằng năm đến ba ngày xuân nhựt thì ngày 29, 30 và mồng một phải ăn chay, trong mấy ngày ăn chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng hai có chi cúng nấy cũng được, đến ngày mồng ba ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉ dùng bông hoa mà cúng thôi”. Các thức món trong bữa chay cũng giống như người theo đạo Phật.

Trong 10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài nên làm những công việc gì?

Nếu người tín đồ Cao Đài trước và sau khi ăn cơm đều có đọc kinh, thì cũng tương tự như thế bà con đạo Phật Giáo Hòa Hảo trước và sau khi dùng bữa đều không quên thủ tục “cúng nhanh” gọi “xá đũa”: Trước khi ăn, họ chấp hai bàn tay trước ngực, đôi đũa được kẹp giữa hai ngón trỏ và hai ngón cái; hoặc gác đôi đũa ngang trên miệng chén cơm rồi hai tay bưng cả chén và đũa đưa lên trán khấn vái (thầm).

Nội dung lời khấn vái là sự thể hiện lòng biết ơn ông bà, tiền nhân – những người nông dân lớp trước đã bỏ ra biết bao công lao khó nhọc khai phá, gieo trồng và truyền dạy, nhờ đó mà ngày nay mới có được “hạt ngọc” để ăn, áo lành để mặc.

Họ cũng không quên thỉnh mời ông bà, tổ tiên, “đất đai viên trạch” về dùng cơm và cầu xin các vị phù hộ độ trì mọi người trong gia đình được mạnh giỏi, làm ăn mau khá. Xong (đặt chén cơm xuống xá nhẹ rồi ngồi yên, lim dim “tưởng” vào cõi xa xăm chừng vài mươi giây thì xem như đã thực hành xong “nghi lễ”, lúc này mọi người mới thực sự dùng bữa.

Ăn xong, họ cũng “xá đũa” để một lần nữa cảm ân tiền nhân đã làm ra hạt gạo – “dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần!”. Giáo lý không buộc khi ăn phải làm như thế, nhưng một bộ phận tín đồ – đa phần là những người lớn tuổi – đều thực hiện để nhằm thiết thực thể hiện đạo lý “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” – truyền thống tốt đẹp tự ngàn đời của dân tộc.

Bà con theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đều là cư sĩ tại gia, nên cũng ăn chay như tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Đặc biệt, trong bữa ăn hàng ngày mọi người đều cữ kỹ 12 con giáp (“thập nhị chi”) tức không ăn thịt các con: chuột, trâu, cọp, mèo, rồng (!), rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo, vì cho rằng đó là những con vật “cầm tinh”, ăn nó chẳng khác nào ăn thịt người! Chính vì vậy mà việc ăn uống của bà con khá đơn điệu, gần như chỉ toàn tôm cá (thuỷ hải sản). Đặc biệt, trong mâm cơm cúng Ông bà, hầu như không bao giờ thiếu món “xôi xéo” (xôi nếp có nhưn đậu xanh).

Cộng đồng người Chăm Hồi giáo thì ăn chay suốt một tháng. Nếu người Chăm ở miền ngoài hiểu Ramadan là tháng ăn chay với đặc điểm là kiêng ăn thịt các loài vật như trâu, heo, gà, vịt… (nhưng vẫn dùng bữa với các loài tôm, cua, cá…) và sự ăn uống diễn ra bình thường như mọi ngày thì, đồng bào Chăm Hồi giáo ở An Giang lại hiểu Ramadan là tháng bắt buộc “nhịn ăn” (nhịn cả uống, hút và quan hệ tình dục), nhưng chỉ nhịn vào ban ngày, còn đêm thì được ăn hai bữa: sụp tối và sắp sáng.

Tất nhiên không ăn thịt heo, vì theo họ, heo là con vật bẩn thiểu nhất trần gian! Nếu lỡ ăn phải thịt heo họ sẽ cảm thấy bị lợm giọng và có thể bị nôn mửa. Đứng về góc độ tôn giáo, người nào ăn thịt heo sẽ bị xem là thuộc loại “ha-răm”, tức bị coi như không còn là tín đồ Hồi giáo nữa.

Ngay đến gia súc như dê, cừu, gà, vịt… khi cần giết thịt, bà con đặt con vật quay đầu về hướng Tây (Thánh địa La Mecque) và đọc từ 3 đến 7 lần câu kinh Tak – bir :“Bismil – lahil Allahu Akbar” để xác định rằng Thượng đế cho phép cắt cổ súc vật dùng làm thực phẩm cho loài người.

Nếu được mời dự tiệc hay ăn cơm tiệm, họ chỉ ăn khi biết chắc rằng những con vật ấy đã được giết đúng “thủ tục” như vừa nói. Trái lại, họ chỉ dùng những món được chế biến từ thuỷ sản.

Ngày cuối tháng Ramadan, cộng đồng người Chăm Hồi giáo hân hoan bước vào ngày hội “Rona Pittak” (mãn chay – mọi người mở tiệc, cùng nhau ăn uống thoải mái).

Thế là sau suốt một tháng khép mình theo luật đạo, tự tiết chế để “di dưỡng tinh thần”, bà con được phép trở lại trạng thái sinh hoạt bình thường ngay khi trời vừa sụp tối của ngày ấy.

Về “nhâm nhi”, nếu người theo Thiên Chúa giáo tỏ ra, rất bình thường đối với các loại rượu thì những vị chức sắc đạo Phật (xuất gia) cử triệt để, nhưng với phật tử (tại gia) thì tuỳ.

Còn bà con tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, theo giáo lý “phải cử tuyệt; nhưng khi có tiệc lễ với người ngoài và không phải nhằm ngày chay lạt, có thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẽ với kẻ ngoại Đạo. Nếu say sưa sẽ phải tội lỗi”.

Bà con theo Hồi giáo (người Chăm) tuyệt đối không ngó tới rượu và các thứ có chất men gây say. Tuy nhiên có người cho rằng nếu vì đau yếu bắt buộc phải dùng rượu thuốc để chữa trị, và nhờ nó mà thực sự khỏi bệnh thì không có tội. Trái lại, khi đã dùng mà bệnh vẫn không thuyên giảm, tất nhiên là … có tội (!). Thành thử khi muốn dùng phải cân nhắc thận trọng. Để “thủ”, bà con không bao giờ nghĩ tới cái “món của quỉ” này.

Trở lên, chỉ ghi nhận đại nét về việc ăn chay, và cũng chỉ kể tả đôi nét về sự kiêng cữ, hoặc nên làm trong ăn uống đối với đồng bào có đạo ở Nam Bộ. Đặc điểm cơ bản là vậy, song thực tế dường như nó chỉ được thi hành một cách nghiêm chính đối với những người ngoan đạo mà thôi.

Trên đây là 10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài. Số lượng người tin tưởng đạo Cao Đài ở Việt Nam rất lớn. Theo đó, họ nghiêm túc thực hiện những quy định của đạo Cao Đài trên tất cả phương diện: ăn chay, thờ cúng, đọc kinh, quan hệ, hành vi ứng xử với người khác. Nếu bạn chưa biết 10 ngày ăn chay của đạo Cao Đài là những ngày nào, thì hãy đọc bài viết tại wikichiase.

Xem thêm:

10 đại đệ tử của đức phật. 10 tôn giả đệ tử giỏi nhất