10 đại đệ tử của đức phật. 10 tôn giả đệ tử giỏi nhất

Chân dung 10 đại đệ tử của Đức Phật được miêu tả sâu sắc tại Wikichiase. 10 Đại Đệ tử của Đức Phật là 10 tấm gương sáng về các hạnh nguyện, đức tính và năng lực đặc biệt.

Trong suốt 45 năm giáo hóa, từ Thành đạo cho đến Niết Bàn, Phật quy tụ xung quanh hào quang của Ngài một số đệ tử cả xuất gia lẫn tại gia. Đặc biệt nhất có 10 vị mệnh danh là Thập Đại Đệ tử, trong 10 vị này mỗi vị đều có sở trường riêng, sở chứng riêng và đạo hạnh riêng.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 1 – Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputra – Sariputa): Trí tuệ đệ nhất

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 1 - Tôn giả Xá Lợi Phất (10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 1 - Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputra – Sariputa)Sariputra – Sariputa)
10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 1 – Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputra – Sariputa)

Chân dung Tôn giả Xá Lợi Phất

Ngài được xem là trưởng tử của đức Phật, là chấp pháp tướng quân, thường giảng dạy đồ chúng thay cho đức Phật và hướng dẫn cho nhiều vị đắc quả A La Hán. Ngài luôn luôn tỏ ra khiêm tốn, tận tụy, nhiệt tình, được chư Tăng thán phục và được Đức Phật khen là Trí tuệ bậc nhất.

Ngài đắc quả A La Hán 4 tuần sau khi xin gia nhập giáo đoàn. Xá Lợi Phất là con trong một gia đình danh giá Bà La Môn ở vùng Ubatissa. Từ nhỏ rất thông tuệ, học giỏi, được mọi người trọng vọng. Ngài có người bạn thân là Mục Kiền Liên. Cả hai Ngài là môn đệ xuất sắc của một vị thầy nổi tiếng, đã đạt được những thành quả tột đỉnh của môn phái ấy nhưng chưa vừa ý nên khi gặp đệ tử Phật ( Ngài Assaji : A Tháp Bà Trì ) liền nhận ra chánh pháp và quy y Phật.

Trí tuệ đã cao mà từ ái lại bao la, Xá Lợi Phất được giáo đoàn kính nể. Đề Bà Đạt Đa là một con người có nhiều tác oai tác quái, đòi thay Phật lãnh đạo giáo đoàn, nhưng đối với Xá Lợi Phất vẫn kính sợ hơn cả Phật. Sau hết, ngài là con người tha thiết với quê hương với thôn xóm, với mẹ già, với mọi người dân quê.

Một hôm, tôn giả Xá Lợi Phất đi truyền giáo ở phương xa, đến trời tối mới trở về, nhưng các phòng xá đều bị các tỳ kheo chiếm hết. Ngại làm ồn ào, tôn giả lẳng lặng ra ngoài sân ngủ dưới gốc cây. Sáng ngày, biết được sự ngủ nghỉ mất trật tự, Đức Phật hỏi lý do, nhóm tỳ kheo lục quần bạch với Phật: “- Xá Lợi Phất không xuất thân từ hàng quý tộc, dòng dõi, do đó Xá Lợi Phất không có quyền có chỗ ngủ riêng, sàng tòa tốt đẹp… “

Để ngăn chặn sự sai trái của nhóm lục quần, Đức Phật dạy:”- Ngày xưa trong núi tuyết có chim chóc, khỉ, voi đồng chung ở. Tuy là bằng hữu nhưng cả ba loài không nhường nhịn nhau, con nào cũng tự cao tự đại định hại nhau. May có một vị tiên giải thích sự phải trái, cả ba loài mới biết kính nhường loài lớn tuổi. Các Tỳ kheo! Giáo pháp của ta nêu cao phép bình đẳng, nhưng không vì thế mà mất trật tự. Những ai có đạo hạnh cao, pháp lạp nhiều, tuổi lớn phải được cung kính cúng dường, ưu tiên nơi ăn chốn ở được tốt nhất, thực phẩm ngon tươi nhất”.

Nghe Đức Phật nói, mọi người đều y giáo phụng hành, nhưng Xá Lợi Phất không vì thế mà ngã mạn, lại cảm ơn sự ưu ái của Phật và sự trọng nể của giáo đoàn.

Chân dung Tôn giả Xá Lợi Phất
Chân dung Tôn giả Xá Lợi Phất

Khen một cái chết đẹp

Thấm nhuần tư tưởng bình đẳng dù đã chứng Thánh quả, đối với nữ giới, tôn giả vẫn kính trọng. Gần thành Vương Xá trong một khu rừng khi đang ngồi thiền định, bỗng nghe tiếng tỳ kheo ni Ưu Ba Tiên Na kêu cứu ở một khu rừng đối diện, tôn giả Xá Lợi Phất liền xả thiền, vội vàng đi tiếp cứu. Khi tôn giả đến, Ưu Ba Tiên Na lấy lại được sự bình thản và trình bày: “- Thưa Tôn Giả! Vừa rồi trong lúc đang tọa thiền, con nghe một vật gì láng trơn chạm vào cơ thể, con liền nghĩ có thể đó là một con rắn, tức thì con liền bị rắn cắn, nọc đọc của rắn đã ngấm vào người con và con sẽ lìa đời. Xin Tôn Giả thông báo cho chư ni quy tụ về đây để con tỏ lời cáo biệt”.

Bấy giờ sắc diện của Ưu Ba Tiên Na vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Thấy thế, tôn giả Xá Lợi Phất nói với Ưu Ba Tiên Na rằng: “- Chắc không hề gì vì sắc diện của Tỳ kheo không biến đổi”. Ưu Ba Tiên Na thưa rằng: “- Bạch Tôn giả! Với đạo lý của Đức Phật, thân do 4 đại, 5 uẩn, hư vọng hợp thành, không có chủ tể là vô thường, là không, rắn làm sao cắn được cái “Không”. Con thầm hiểu như thế nên con không cảm thấy đau đớn, nhờ đó mà nét mặt con không biến sắc”.

Xá Lợi Phất hết lời khen ngợi Ưu Ba Tiên Na và thông báo cho Tỳ kheo, Tỳ kheo ni ở trong khu rừng tập họp và đưa Ưu Ba Tiên Na ra khỏi hang động. Khi nọc độc của rắn đã ngấm khắp cơ thể, Ưu Ba Tiên Na xả bỏ báo thân, vào cõi tịch diệt Niết Bàn. Trước các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, tôn giả Xá Lợi Phất ca ngợi Ưu Ba Tiên Na, do đạt được giới “thân tuệ mạng” nên có một cái chết thật đẹp, sắp chết mà sắc diện vẫn không bị biến đổi, tâm hồn lại rất bình thản, đáng cho người tu hành phải noi gương.

Viên tịch

Lại một hôm, khi nghe tin người lão hữu Mục Kiền Liên bị ngoại đạo ám hại tại thành Xá Vệ lúc đang đi thuyết giáo, Xá Lợi Phất vô cùng buồn rầu, suốt mấy ngày liền. Thấy vậy, Phật phải khuyên răn rồi tập họp tất cả tăng chúng báo cho tất cả biết tin Mục Kiền Liên đã vào Niết Bàn, nhân đó Phật cũng báo cho chúng tăng hay sau ba tháng nữa là Phật sẽ vào Niết Bàn.

Cùng lúc nhận được hai tin buồn – Mục Kiền Liên đã chết một cách bi thảm và Phật cũng sắp ra đi – lòng Xá Lợi Phất vô cùng chua xót. Ngày hôm đó, Xá Lợi Phất xin được về quê thăm mẹ và nhập Niết Bàn trước Phật, vì theo tôn giả trong quá khứ các đệ tử hàng đầu đều nhập Niết Bàn trước vị giáo chủ đương thời; hơn nữa, tôn giả không muốn chứng kiến cảnh đau buồn khi Phật nhập Niết Bàn.

Sau khi tạ từ Đức Phật và giáo đoàn, Xá Lợi Phất lên đường về quê nhà tại thôn Ca La Tỳ Ma Ca với một sa di tên là Quân Đầu, gặp lại mẹ của ngài nay đã ngoài 100 tuổi. Ngay trong đêm gặp mẹ già, ngoài vấn đề giảng giải đạo lý của Đức Phật, Xá Lợi Phất bày tỏ tâm sự: Trước là về quê thăm mẹ, sau cũng xin phép mẹ được từ giã cõi đời tại quê nhà.

Tuy có đau buồn nhưng bà Xá Lợi cũng thấy vinh dự có được một người con đạo cao đức trọng, biết trước ngày giờ rời bỏ xác thân để sửa soạn giờ biệt ly vô cùng chu đáo. Sau đó, tôn giả cho gọi dân làng đến để bố giáo và tỏ lời từ biệt. Trước dân làng, trước môn đồ tứ chúng và có cả vua A Xà Thế, tôn giả bày tỏ tâm tình thiết tha yêu quê hương xứ sở và đem giáo pháp của Phật khuyên bảo mọi người. Đến nửa đêm, mọi vật hoàn toàn yên lặng, tôn giả lạy chào mẹ già, vua A Xà Thế và tất cả những người hiện diện rồi nhập đại định Niết Bàn.

Sau khi làm lễ trà tỳ, sa di Quân đầu mang hài cốt tôn giả trở về trình với Đức Phật. Để giáo đoàn được chiêm bái và nhân thể tán dương Xá Lợi Phất, Đức Phật tập họp đại chúng tỳ kheo lại và dạy rằng: “- Đây là hài cốt của Xá Lợi Phất, một bậc trí tuệ hàng đầu. Xá Lợi Phất là người đã tiếp thu trọn vẹn giáo pháp cao huyền của ta được truyền bá đầu tiên ở phương Bắc, đó là công lao của Xá Lợi Phất.

Trí tuệ của Xá Lợi Phất thật là trí tuệ cao tuyệt, trừ Đức Phật ra không ai bì kịp. Qua trí tuệ đó, Xá Lợi Phất đã thành tựu đạo nghiệp. Bậc đại trí nầy đã chứng pháp tính, ít muốn biết đủ, siêng năng dũng mãnh, tiến tu thiền định, không cố chấp trước, đối với ngoại đạo luận bàn vô ngại, hoằng truyền chính pháp lợi lạc mọi người, thoát ly sanh tử khổ đau, chứng nhập Niết Bàn”.

Công trình xây dựng của Tôn giả Xá Lợi Phất
Công trình xây dựng của Tôn giả Xá Lợi Phất

Trong hàng Thánh chúng nay trong 10 đại đệ tử của Phật, Xá Lợi Phất đứng hàng đầu. Nhờ có trí tuệ số một biện tài vô ngại, tôn giả đã chinh phục được các luận sư của Bà La Môn ở phương Bắc Ấn Độ khi đến Ma Kiệt Đà để xây dựng Tinh Xá Kỳ Viên. Ngoài trí tuệ, tôn giả còn là nhà kiến trúc đại tài, đã thiết kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng Tinh Xá Kỳ Viên, là trung tâm sinh hoạt văn hóa ngang hàng với trung tâm văn hoá Kiều Tát La, thời Phật còn ở Ấn Độ có hai trung tâm văn hóa lớn nhất là Ma Kiệt Đà và Kiều Tát La.

Khi Đức Phật còn tại thế, Xá Lợi Phất cũng được tín nhiệm và được cử đi bố giáo đầu tiên vì ngoài trí tuệ biện tài, tôn giả còn am tường mọi tập tục, truyền thống của dân tộc Ấn Độ. Mặt khác, Xá Lợi Phất còn là vị có phẩm hạnh cao, khi bị chỉ trích là đã thọ thức ăn bất tịnh, con người khinh mạn, bị lục quần chiếm chỗ ngủ nghỉ … ngài vẫn từ ái khoan dung không tranh chấp thù oán. Trí tuệ đã cao mà từ ái lại bao la, Xá Lợi Phất được giáo đoàn kính nể.

Đề Bà Đạt Đa là một con người có nhiều tác oai tác quái, đòi thay Phật lãnh đạo giáo đoàn, nhưng đối với Xá Lợi Phất vẫn kính sợ hơn cả Phật. Sau hết, ngài là con người tha thiết với quê hương với thôn xóm, với mẹ già, với mọi người dân quê. Khi 80 tuổi, Ngài quay về với quê hương để ban bố giáo pháp cho tất cả mọi người rồi mới vào Niết Bàn.

Nhìn chung, với những người xuất gia theo Phật để được gọi là toàn bích phải được đầy đủ 3 đức: An Đức, Trí Đức và Đoạn Đức. Xá Lợi Phất đã thể hiện trọn vẹn, cho nên xứng đáng là vị đứng đầu trong giáo đoàn của Phật. Tôn giả không vì đạo nghiệp giải thoát mà quên mất mẹ già, quê hương thôn xóm, dù đã 80 tuổi vẫn về quê nhà truyền bá nếp sinh hoạt vị tha vô ngã… Xá lợi Phất xứng đáng là một biểu tượng cho tất cả mọi người noi theo…

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 2 – Tôn giả Mục Kiền Liên (Maudgalyayana – Moggallana): Thần thông đệ nhất

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 2 - Tôn giả Mục Kiền Liên (Maudgalyayana – Moggallana):
10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 2 – Tôn giả Mục Kiền Liên (Maudgalyayana – Moggallana):

Hình tướng Mục Kiền Liên Bồ Tát

Mục Kiền Liên Bồ Tát sinh khoảng năm 568, mất khoảng năm 484 trước Công nguyên ở nước Magadha, nay thuộc miền Bắc Ấn Độ, là một vị tỳ kheo trong thời kỳ đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế.

Mục Kiền Liên Bồ Tát và Tôn giả Xá Lợi Phật là hai vị đệ tử đứng đầu trong hàng chúng đệ tử của Phật Thích Ca. Ngài đã đắc chứng A La Hán, quả vị cuối cùng trong Tứ Thánh Quả cùng với sự giải thoát và giác ngộ viên mãn. Phẩm hiệu của ngài là “Thần thông đệ nhất” trong hàng Thanh Văn đệ tử của đức Phật. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm thứ 6, đức Phật đã thọ ký cho ngài danh hiệu “Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật”.

Ngài là con một gia đình Bà La Môn đanh tiếng. Ngài theo Tôn giả Xá Lợi Phất quy y Phật và sau 7 ngày đắc quả A La Hán, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Phật trong Định, khi Ngài đang sống độc cư trong rừng. Ngài được Đức Phật khen và đại chúng công nhận là Thần thông bậc nhất. Ngài đã nhiều lần thi triển thần thông như phương tiện để giáo hóa cứu độ mọi người.

Ngài cùng với Xá Lợi Phất điều hành và hướng dẫn Tăng chúng, cũng như độ cho nhiều người chứng đắc Thánh quả. về sau, Ngài bị phái Ni Kiền Tử hảm hại bằng cách lăn đá làm Ngài bị tử thương. Đức Phật xác nhận Ngài Mục Kiền Liên đã nhập Niết Bàn ngay tại chỗ thọ nạn, nơi Ngài bỏ thân tứ đại.

Mục Kiền Liên Bồ Tát thường xuất hiện trong hình ảnh mặc y vấn, tay phải cầm tích trượng, tay trái không cầm gì. Nếu có cầm thì ngài thường cầm bình bát ngụ ý để mang cơm dâng cho mẹ đang thọ khổ ở dưới địa ngục. Ngài không ngồi mà luôn ở thế đứng, như để sẵn sàng đi xuống cõi âm dâng “bát cơm đầy vạn ước mong” tỏ lòng hiếu kính mẹ.

Hình tướng Mục Kiền Liên Bồ Tát
Hình tướng Mục Kiền Liên Bồ Tát

Hạnh nguyện

Mẹ của Mục Kiền Liên Bồ Tát là bà Thanh Đề, lúc còn sống bà chẳng những không tin Tam bảo lại còn hủy báng, phá hoại Tam bảo, nói Tam bảo không tốt, không đáng để tin. Cho nên sau khi chết bà liền bị đọa xuống địa ngục.

Mục Kiền Liên Bồ Tát chứng quả vị La Hán, đắc được lục thông, liền quan sát khắp các cõi giới để tìm mẹ. Vì tôn giả đã khai mở được Phật nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, đắc được ngũ căn lục thông nên nhìn thấy được mẹ mình đang đọa lạc nơi địa ngục thống khổ, cơm cũng không có để ăn. Tôn giả liền mang một bát cơm đến cho mẹ.

Vào đến địa ngục, tôn giả dâng bát cơm cho mẹ. Bà Thanh Đề lúc còn sống vì tâm tham quá nặng nề, nên dù bị đọa làm ngã quỷ vẫn không dứt bỏ được tâm tham. Bà một tay đỡ lấy bát, dùng vạt áo của tay kia che lại, rồi vội vàng chạy đến chỗ không có các ngã quỷ, đem bát cơm lén ăn một mình. Nhưng vì nghiệp chướng quá sâu dày nên cơm vừa đưa lên miệng thì hóa thành hòn than đỏ rực.

Mục Kiền Liên Bồ Tát tuy là thần thông đệ nhất nhưng không thể giúp được mẹ, nên đã đến thưa với đức Phật Thích Ca. Đức Phật nói: “Vì mẹ của ông hủy báng Tam bảo, tội nghiệp quá nặng. Bây giờ sức của mình ông không thể nào giải cứu được đâu. Muốn cứu được mẹ ông thì vào ngày rằm tháng bảy, là ngày chư Phật hoan hỷ, cũng là lúc chư tăng Tự tứ, ông hãy thiết lễ Vu Lan Bồn, đây là lễ cúng “giải đảo huyền” (giải cứu cái khổ bị treo ngược).

Trước tiên, ông hãy cúng dường mười phương Tăng; khi mười phương Tăng chưa thọ dụng những thức ăn này thì ông cũng chưa được dùng. Ông trước hết phải cúng Phật, Pháp và Tăng; sau đó mới có thể thọ dụng những phẩm vật dâng cúng. Vào ngày này, ông thiết trai cúng dường Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ được vui!”

Mục Kiền Liên Bồ Tát làm y theo lời Phật dạy, ngày rằm tháng bảy năm đó, thân mẫu của ngài được thoát nạn. Mục Kiền Liên cảm kích ân Phật, khuyến khích người thế gian hàng năm rằm tháng bảy tổ chức lễ Vu Lan, cúng dường tăng chúng mười phương hội về, tụng kinh Vu Lan Bồn báo hiếu cho cha mẹ và cửu huyền thất tổ (Trích từ quyển Thập đại đệ tử).

Sau này, hình ảnh Mục Kiền Liên Bồ Tát cứu mẹ nơi địa ngục đã trở thành hình tượng hiếu đạo trong Phật giáo, nhắc tới đạo hiếu là nói đến ngài Mục Kiền Liên. Nương theo câu chuyện của ngài, đức Phật đã dạy chúng sinh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ hãy làm theo cách của ngài (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.

Mục Kiền Liên Bồ Tát là hiện thân cho hạnh nguyện cứu mẹ thoát khỏi cảnh khổ, là hình ảnh tiêu biểu cho hiếu đạo của con người. Sau khi đắc quả A La Hán, ngài đã dùng lòng từ vô lượng và trí tuệ rạng sáng để hóa độ chúng sinh.

Tôn giả Mục Kiều Liên cứu mẹ
Tôn giả Mục Kiều Liên cứu mẹ

Thời gian và hoàn cảnh

Mục Kiền Liên Bồ Tát là một trong mười đại đệ tử của đức Phật Thích Ca. Ngài là người xuất hiện trên cõi đời này bằng xương, bằng thịt lúc đức Phật còn tại thế. Ngài thường song hành với Tôn giả Xá Lợi Phật, là một người thần thông đệ nhất, vô cùng quảng đại. Sau khi xuất gia được 7 ngày, ngài đã đoạn trừ hết các lậu hoặc, chứng quả A La Hán.

Có thể thấy, Mục Kiền Liên Bồ Tát là một nhân vật lịch sử có thật. Ngài có quá trình xuất gia tu học và đắc quả, được sử liệu ghi chép rõ ràng. Và ngài đã được nhân loại thừa nhận là một nhân vật lịch sử có sức ảnh hưởng lớn trong thời đức Phật còn tại thế. Ngài do công phu tu hành mà có được thần thông đệ nhất. Bằng tuệ nhãn và nhờ năng lực của mình, ngài đã thấy rõ sự đọa lạc thọ khổ của mẹ ngài.

Phương pháp hành sự của Mục Kiền Liên Bồ Tát

Sau khi biết mẹ đang bị thọ khổ ở địa ngục, Mục Kiền Liên Bồ Tát vâng theo lời dạy của đức Phật, thành tâm chí kính thỉnh mười phương chư Phật và chúng tăng, chuẩn bị xếp sắp phẩm vật thiết lễ cúng dường trai tăng để cầu nguyện cho mẹ của ngài. Ngài đã tổ chức một buổi đại lễ trai tăng trang nghiêm vào ngày lễ Tự tứ mãn hạ của chư tăng.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 3 – Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa-Mahakassapa): Đầu Đà đệ nhất

Số 3 - Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa-Mahakassapa)
Số 3 – Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa-Mahakassapa)

Trong số các Thánh chúng, Ma Ha Ca Diếp là người dốc lòng giữ gìn phạm hạnh, nên được Phật và Thánh chúng tôn xưng là bậc “Đầu đà đệ nhất”. Sinh hoạt theo hạnh đầu đà là một lối sinh hoạt cực kỳ đơn giản nhằm mục đích tịnh hoá tâm hồn, rất thích hợp với những ai thích tu phạn hạnh như Ngài Ca Diếp. Sau khi xuất gia tu hạnh Đầu Đà trong 8 ngày liền, Ngài đắc quả A La Hán. Ngài tinh thông con.đường thiền định, nêu gương sáng cho chúng Tăng về các hạnh : “ Ít muốn, biết đủ, tinh tân, viễn ly ”. Ngài thường độc cư trong rừng dù tuổi đã cao.

Đầy đủ phước tướng, tư chất thông minh

Theo lịch sử Phật giáo, ngài Ma Ha Ca Diếp sinh ra trong gia đình phú hào Ni Câu Lự Đà Kiệt Ba thôn Sa La Đà, nước Ma Kiệt Đà, vốn tên là Tất Bát La Da Na vì thân mẫu ngài đi chơi quanh gốc cây Tất Bát La thì hạ sinh ngài nên lấy tên cây đặt cho con.

Đại Ca Diếp phước tướng đầy đủ, tư chất thông minh, 8 tuổi học văn học, toán thuật, thi họa, âm nhạc, thiên văn, tướng số… cùng các phép tế đàn 4 mùa, thánh điển Vệ Đà… đều thấu hiểu rất nhanh. Lớn lên Đại Ca Diếp thường thích xa đám đông, riêng ở một mình.

Khi phải vâng lời cha mẹ lập gia đình, Đại Ca Diếp cũng không chung giường với người vợ mới cưới là Diệu Hiền, một cô gái sắc nước hương trời, từ ngày cưới cho đến hơn chục năm về sau không ai nói với ai một lời nào. Im lặng lâu quá không thể nín thinh mãi được, Đại Ca Diếp hỏi Diệu Hiền lý do tại sao mặt lúc nào cũng buồn, Diệu Hiền trả lời: “Chàng đã phá hoại chí nguyện của tôi, sự giàu sang của chàng đã mê hoặc cha mẹ tôi, từ trước tôi vẫn thích phạm hạnh, ghét ngũ dục, nên hiện làm dâu gia đình nầy tôi rất lấy làm buồn!”.

Nghe ước vọng của Diệu Hiền, Đại Ca Diếp nói: “Thế là hai ta cùng chung một ước nguyện, nhìn về một hướng. Tôi vẫn không thiết tha với việc lập gia đình, nhưng vì là con một tạm để cho cha mẹ khỏi buồn, tôi phải tạm theo ý của gia đình mà thôi. Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục sống theo phạm hạnh và dù là vợ chồng chúng ta cũng giữ sự thanh tịnh”.

Mãi 12 năm sau, khi cha mẹ đều từ giã cõi đời, Đại Ca Diếp rời gia đình đi tìm thầy học đạo, hứa sẽ trở về hướng dẫn Diệu Hiền khi tìm được minh sư.

Tôn giả Ma Ha Ca Diếp cứu khổ chúng sinh
Tôn giả Ma Ha Ca Diếp cứu khổ chúng sinh

Giữ hạnh “Đầu đà”

Năm 30 tuồi, Đại Ca Diếp vào rừng tìm đạo thì cũng là lúc Đức Phật Thích Ca thành đạo dưới cội Bồ Đề. Nghe tiếng Đức Phật, Đại Ca Diếp tìm đến thành Vương xá, ngày ngày theo Thánh chúng đến nghe pháp. Đức Phật nhìn xuống thấy và biết Đại Ca Diếp là người có thể kế thừa đạo nghiệp của Như Lai.

Tại hội Linh Sơn, khi đức Phật đưa lên một cành hoa, Đại Ca Diếp mỉm cười, Phật biết chánh pháp đã có người tâm đắc kế thừa sau này. Một hôm, sau khi mãn buổi thuyết pháp Phật đi đường tắt đón Đại Ca Diếp ở một ngã đường, Đại Ca Diếp chính thức bái yết Phật, theo Phật trở lại Tinh Xá Trúc Lâm, được Đức Phật đem pháp Tứ Đế, Thập nhị nhân duyên mà khai thị cho.

Vốn thích tu hạnh “Đầu đà” sau khi gặp Phật, Đại Ca Diếp tiếp tục thực hành pháp tu phạm hạnh. Hạnh “đầu đà” có năng lực tịnh hóa tâm hồn, nhưng khi tu theo hạnh này cần giữ đủ 10 điều: Chọn ở nơi hoang vắng; sinh hoạt bằng phép trì bình; thường ở tại một nơi; ngày ăn một bữa; khất thực không phân biệt giàu nghèo; tài sản gồm có 3 y (áo), một bình bát; tư duy dưới gốc cây; thường ngồi giữa đồng trống; mặc áo phấn tảo; sống tại các bãi tha ma.

Trong 10 điều kiện trên, Đại Ca Diếp tuân giữ trọn vẹn chỉ có 9 điều, riêng khất thực thì chỉ đến khất thực trước nhà người nghèo. “Người giàu đã thừa phước đức, ta không cần phải mang phước đến cho họ, còn người nghèo vì thiếu phước đức ta cần đem phước điền cho họ gieo trồng”- Đại Ca Diếp lý giải. Hạnh “đầu đà” được Đại Ca Diếp giữ cho đến hơi thở cuối cùng, không ai lay chuyển được, cho nên được tôn xưng là bậc “Đầu đà đệ nhất”.

Tiếp độ thân sơ

Sau khi Đức Phật cho di mẫu của mình xuất gia hiệu là Kiều Đàm Di, trở thành vị nữ đầu tiên trong giáo đoàn của Phật, Đại Ca Diếp nhờ một tỳ kheo ni đi đón nàng về ni viện. Vì sắc đẹp kiều diễm, Diệu Hiền không tránh khỏi sự xì xầm nơi chốn đông người, đành bỏ không ra ngoài khất thực, không tiếp xúc với đại chúng, tránh chỗ đông đảo. Thế là hàng ngày Đại Ca Diếp chia nửa phần cơm, nhờ người mang đến cho Diệu Hiền.

Những người tò mò có tính thị phi lại sinh tâm tật đố, cho là giữa hai người chắc còn tình ý. Để tránh tiếng, Đại Ca Diếp không chia phần cơm cho Diệu Hiền nữa; còn tỳ kheo ni Diệu Hiền ngày đêm không ăn ngủ, tịnh tọa sám hối tấn tu đạo nghiệp, chứng được Túc mạng thông, được Đức Phật khen ngợi.

Một hôm vào thành Vương Xá khất thực, Đại Ca Diếp thấy một bà lão ăn mày đau ốm nằm rên rỉ bên vệ đường, nên ân cần thăm hỏ. Bà lão đáp: “Ngài có gì cho tôi không? Sao tôi thấy Ngài cũng có vẻ nghèo và mang bát đi xin ăn, tôi chẳng có gì cho Ngài cả. Thế Ngài có phép gì giúp tôi hết bệnh và hết nghèo đói chăng?”. “Tôi là một Tỳ kheo đang theo học đạo lý với Phật Thích Ca và đang tu khổ hạnh nên cũng đi xin như bà, nhưng lại đi bán giàu mua nghèo, bà hãy bán nghèo cho tôi để tạo nhiều phước báu giàu sang phú quý”- Đại Ca Diếp trả lời.

“Nghèo thì lấy gì để bán? Đã ba ngày qua tôi không có chút gì để bỏ vào bụng, sáng sớm hôm nay có người đi đổ nước cơm, tôi hứng được một tý đỉnh, nhưng nước đã có mùi chưa dám uống sợ tháo dạ”. “Thế bà đem nước đó bố thí cho tôi chút đỉnh, gọi là gieo trồng phước đức, hy vọng tương lai gặp may mắn, trở nên giàu có”. Nghe giảng giải, tâm bà đầy hỷ lạc quên cả sự ô uế của thân mình, đem mẻ nước cơm dâng cúng cho Ca Diếp. Ngài hoan hỷ tiếp nhận, chúc phúc cho bà rồi lên đường hành hóa.

Thừa kế Đức Phật

Thấy Đại Ca Diếp đạo cao đức trọng, Phật và giáo đoàn đều vị nể. Trọn giữ hạnh đầu đà, lúc nào Đại Ca Diếp cũng ở trong rừng già, kinh hành hoặc tọa thiền dưới gốc cây, quán xương trắng ở bãi tha ma chẳng quản nắng mưa, sương gió… mãi đến lúc tuổi già râu tóc bạc phơ, thân thể gầy guộc vẫn không bao giờ chểnh mảng.

Thực hành phạm hạnh đầu đà là trực tiếp củng cố giáo đoàn, gián tiếp lợi lạc chúng sinh, củng cố tăng đoàn là điều kiện thừa kế Đức Phật. Phật dạy rằng: “Này các Tỳ kheo! Đại Ca Diếp luôn luôn lo ngại cho tiền đồ chính pháp. Thiên ma ngoại đạo hay thế lực cường quyền không thể phá hoại chính pháp, nội tình lộn xộn, Tăng đoàn hủ hóa thiếu phạm hạnh là điều kiện chính làm cho chính pháp tiêu diệt, “Trùng trong sư tử ăn thịt sư tử.” Vì thế nếu Tăng đoàn được củng cố, giới đức trang nghiêm, nội tình ổn định hòa hợp tất yếu chính pháp được trường tồn. Để củng cố Tăng đoàn, sinh hoạt phải nghiêm túc, giới luật phải được tôn trọng giữ gìn, giới luật còn thì đạo ta còn. Người có thể chủ trì thừa kế chính pháp của ta phải là Ma Ha Ca Diếp”.

Kết tập kinh điển

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn 7 ngày, Đại Ca Diếp liền triệu tập hội nghị kết tập kinh điển trong suốt 3 tháng. Đại chúng nhất trí đề cử Đại Ca Diếp làm chủ tọa.

Sau cuộc kết tập kinh điển, khoảng hai hoặc ba mươi năm sau, cảm thấy cơ thể đã già yếu, mệt mỏi vì đã trên trăm tuổi, Đại Ca Diếp quyết định nhập Niết Bàn. Đại Ca Diếp tìm đến nơi A Nan đang du hóa để phú chúc pháp tạng, yêu cầu A Nan tiếp nối sứ mạng thừa kế truyền bá chính pháp, rồi đến 8 tháp thờ Xá Lợi phật để lễ lạy cúng dường. Sau đó Đại Ca Diếp mang theo y bát của Phật đến núi Kê Túc, ngồi nhập định và nhập Niết Bàn.

Mặc dù tôn giả Đại Ca Diếp đã nhập Niết Bàn, nhưng ảnh hưởng nếp sống đạo đức, phạm hạnh của tôn giả vẫn còn tồn tại mãi với thời gian… Suốt cả cuộc đời, tôn giả Đại Ca Diếp trở thành một con người gương mẫu trong giáo đoàn, phẩm hạnh có tầm ảnh hưởng rất rộng. Đức Phật cũng vị nể xem tôn giả như bạn, có lần Phật đã nhường nửa tòa ngồi giảng pháp cho tôn giả. Gương của Đại Ca Diếp chính là, người có tư cách đạo đức bao giờ cũng được kính nể, ngược lại không tư cách đạo đức dù giàu mạnh đến đâu, cuối cùng cũng bị cuộc đời đào thải.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 4 – Tôn giả A Nâu Đà La (Aniruddha – Anurauddha): Thiên nhãn đệ nhất

Số 4 - Tôn giả A Nâu Đà La (Aniruddha – Anurauddha)
Số 4 – Tôn giả A Nâu Đà La (Aniruddha – Anurauddha)

Chân dung Tôn giả A Nâu Đà La

Trong tăng chúng Ngài nổi tiếng là bậc tu hành rất thanh tịnh, không bao giờ bị nữ sắc cám dỗ, vì vậy được mọi người kính ngưỡng. Duy có một tật nhỏ là tật ưa ngủ gục mỗi khi ngồi nghe Phật thuyết pháp, từng bị Phật quở trách đôi ba phen. Từ đó Ngài lập hạnh “ không ngủ ” từ đầu hôm đến suốt sáng, từ tản sáng đến chiều đêm, Ngài ngồi mở to đôi mắt nhìn vào khoảng không, không chớp mắt, cho đến một hôm thì hai mắt xưng vù rồi bị mù loà.

Chính đức Phật cầm tay chỉ dạy giúp Ngài may áo và dạy phương pháp tu định để khiến mắt sáng ra, Ngài thực hành một cách triệt để nên được sáng mắt trở lại và chứng được Thiên nhãn thông, bất quản xa gần, bất luận trong ngoài, mắt Ngài đều thấy suốt. Phật dùng chánh pháp phương tiện dạy cho Ngài thể nhập tánh thây viên dung, không lệ thuộc vào nhãn căn. Ngài chứng đắc pháp này và thấy ba cõi như một quả Amla được cầm trên tay, được Phật ấn chứng là Thiên nhãn đệ nhất.

Một tấm lòng cao đẹp dù trong hoàn cảnh khó khăn

Nơi những mái nhà lá lụp xụp hiện lên thưa thớt trong một ngôi làng nhỏ gần kinh thành Vương Xá (Rajagaha), có một Bà la môn nghèo khổ tên La Đà (Radha). Ngài La Đà đã có tuổi, gia đình di dời đi vì cuộc sống mưu sinh khó nhọc, nên hàng ngày Ngài vất vả kiếm sống trong cô độc. Mỗi sáng, người ta thường thấy Ngài một mình gánh những thùng nước lớn về một túp lều lợp lá đơn sơ, tự mình đem từng bó củi khô gom góp được tới những gia đình để đổi lấy những bộ y phục đã qua sử dụng, hay thường tới lui những nhà phú hộ phụ giúp việc quét tước và xin những thực phẩm mưu sinh.

Trưa hôm ấy, nắng chiếu vàng trên những mái nhà tranh. Trên con đường đất bạc màu quen thuộc, vị Bà la môn nghèo như thường lệ trở về nhà mình thì gặp một vị Tôn giả đang từ xa tiến lại gần. Vị Tôn giả ấy quấn quanh mình tấm y ca sa nâu sậm giản dị, nhưng toàn thân Tôn giả toát lên vầng hào quang êm dịu. Dáng người đĩnh đạc uy nghi, tay ôm bình bát nhẹ nhàng, từng bước chân đi vững chãi nhưng hết sức thong dong. Đó chính là Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputra).

Tôn giả không cười nhưng nét mặt hiển hiện niềm an lạc, lòng từ bi ấm áp theo đôi chân của Tôn giả lan tỏa đến khắp nơi. Ngài La Đà bước chậm lại. Trong đôi mắt già nua sáng lên hình ảnh vị Sa môn cao quý, trái tim khô cằn nứt nẻ của ông như đi dịu vỗ về trước một cơn mưa tươi mát. Ngài La Đà run xúc động, từng bước tiến tới bên cạnh Tôn giả cung kính cúi người, hai tay cẩn thận bưng bát dâng lên Tôn giả Xá Lợi Phất một muỗng cơm khô mà ông vừa kiếm được để nuôi sống chính mình.

Chân duChân dung Tôn giả A Nâu Đà Lang Tôn giả A Nâu Đà La
Chân dung Tôn giả A Nâu Đà La

Chính sự cúng dường với trọn lòng quý kính ấy, đã nhen nhóm lên trong tâm hồn ông một tình cảm chân thành, niềm yêu mến hạnh phúc của đời sống oai nghi thanh tịnh.

Kể từ ngày ấy, Ngài La Đà luôn thấy thôi thúc trong tâm, luôn muốn thăm hỏi và tìm tới tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) để xin phép được công quả. Mỗi ngày Ngài đều chăm chỉ lui tới, nhu thuận vâng theo sự sắp xếp mà phụ giúp chư Tăng dọn dẹp và chăm nom.

Có khi trong không khí mát mẻ của sớm mai, Ngài tới lau quét khoảng sân rộng, dọn dẹp tươm tất khu giảng đường. Có khi qua lớp nắng hồng cam lúc cuối chiều, Ngài gánh nước đầy ắp các chum, sửa sang ngăn nắp giàn bát đũa. Có khi ghé qua tinh xá, Ngài ôm những bó cỏ hương mềm mại, xếp gọn thành sàng tọa trước cửa những căn chòi lá mây…

Dần dần, đời sống thanh cao và êm đềm nơi đây trở thành gắn bó. Đã đi qua nửa đời người, giờ đây Ngài La Đà chỉ muốn quay về nương tựa với giáo pháp của Đức Thế Tôn để tìm cầu niềm hạnh phúc chân thật, nơi trở về cuối cùng cho cuộc đời mình.

Trong suốt khoảng thời gian công quả, Ngài được sống trong không khí thanh tịnh. Tuy tuổi cao nhưng ý chí của Ngài luôn kiên cường vượt lên gian khó và Đức Phật nhìn nhận hết những cố gắng nỗ lực ấy. Khi Đức Phật biết rằng nhân duyên nhiều kiếp đã nảy nở, Đức Phật nói: “Vậy này Xá Lợi Phất, hãy cho Bà la môn La Đà xuất gia thọ giới Tỳ kheo”.

Từng lời nói của Thế Tôn như ánh nắng ấm áp soi rọi tâm hồn Ngài. Không gian giảng đường càng thêm ấm áp, chư vị Tỳ kheo mỉm cười vui mừng cho Tôn giả đã đạt được nguyện ước cao thượng.

Tôn giả La Đà là Thánh đệ tử A La Hán ưu tú của Đức Phật, Ngài là tấm gương sáng cho sự say mê học hỏi cũng như tu hành cho dù tuổi đời đã cao. Với sự siêng năng công quả phụng sự, tinh tấn tu tập cho dù hoàn cảnh khó khăn, một lòng nhu thuận, khiêm hạ với những bậc đáng kính, Ngài đã viên mãn hạnh nguyện trong nhiều kiếp xưa.

Số 5 – Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhuti): Giải Không đệ nhất

Số 5 - Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhuti)
Số 5 – Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhuti)

Khi Phật nói kinh Bát Nhã trong số 1.250 vị đại A La Hán nói chung, 10 đại đệ tử nói riêng, người thấu hiểu không trí hơn hết là Tu Bồ Đề, bậc Giải Không Đệ Nhất.

Theo truyền thuyết của kinh sách Đại thừa, lúc Ngài mới sanh, trong gia đình Ngài toàn hiện ra những triệu chứng “ không ”. Các đồ vật trong nhà, từ kho lẫm, lu vãi… mọi vật biến đâu mất cả, chỉ thuần tịnh một mùi hương chiên đàn và hào quang sáng soi chấn động cả ba cõi, không thấy đâu là tường vách giới hạn. Hỏi về ý nghĩa điềm lạ này thì được thầy tướng bảo rằng đó là điều cực lành. Rồi nhân vì điềm “ không ” ấy, nên cha mẹ Ngài mới đặt tên cho Ngài là Tu Bồ Đề, nghĩa là Không Sanh. Lại cũng có nghĩa là Thiện Cát ( tốt lành ) hay Thiện Hiện ( hiện điềm tốt ).

Trong bản chất trí tuệ này thanh tịnh và vắng lặng, trong suốt như hư không, cho nên gọi là không trí có nghĩa là trí tuệ hiểu về tánh không của các pháp, vì các pháp hiện tượng vốn là duyên sinh cho nên tự thể nó là không, thảy đều giả hữu, hết thảy đều vô ngã, sâu xa. Tánh này không thật sâu xa huyền diệu, ngôn thuyết không diễn tả hết, tâm tư cũng khó hiểu thấu, vì không mà có, có mà không, nói theo lý Bát Nhã là chân không diệu hữu. Khi Phật nói kinh Bát Nhã trong số 1.250 vị đại A La Hán nói chung, 10 đại đệ tử nói riêng, người thấu hiểu không trí hơn hết là Tu Bồ Đề, bậc Giải Không Đệ Nhất.

Danh hiệu Tu Bồ Đề

Trong các sách sử, các đệ tử Phật đều có ghi chép lịch sử hoặc nhiều hoặc ít, riêng Tu Bồ Đề không có ghi chép về gia thế dòng họ. Tuy nhiên trong kinh điển Bắc Tông có chép về truyền thuyết sự tích của Tu Bồ Đề qua một vài chi tiết.

Tôn giả chào đời ngay trong lúc gia đình như thiếu may mắn, tất cả tài sản vơi cạn, kho lẫm trống trơn một cách ngẫu nhiên. Cả nhà đều lo sợ, nhiều người cho là điềm lạ kéo đến quan sát luận bàn và cuối cùng đều quyết đoán đó là một điềm lành, ngày sau đứa bé sẽ trở thành một nhân vật phi thường.

Dựa theo sự quyết đoán của số đông, bà mẹ đặt tên cho đứa bé là Tu Bồ Đề (Subhuti), có nghĩa là không sanh hay Thiện Cát (tốt lành), hay Thiện hiện (hiện điềm tốt). Quả thật về sau gia đình gặp nhiều điều may mắn, trở lại giàu có, tiền của tràn đầy kho lẫm.

Tuy tuổi còn nhỏ Tu Bồ Đề không mấy thiết tha với tài lợi, cha mẹ cho bất cứ một vật gì Tu Bồ Đề đem bố thí hết cho người thiếu thốn. Với trí thông minh xét thấy muôn vật đều hư giả, trống không, tự thể cũng mất khả năng chủ động, bởi thế khi gặp Đức Phật Tu Bồ Đề liền xin xuất gia.

Đạo nghiệp của Tu Bồ Đề

Vì sẵn có từ tâm hay thương người nghèo khó, từ hồi còn nhỏ ở với cha mẹ Tu Bồ Đề thường đem của cải ban bố cho người. Nhiều lần bị cha mẹ rầy la, Ngài vẫn không từ bỏ hạnh bố thí. Bởi thế sau khi theo Phật mỗi sáng đi khất thực, Tôn giả không nỡ dừng bước trước cửa những ngôi nhà lụp xụp xơ xác, có vẻ nghèo nàn, dù xa đến đâu Ngài cũng đến khất thực những gia đình giàu có.

Với phong cách khất thực của Tôn giả, các đệ tử của Phật cho là khác thường và chẳng rõ vì sao? Bởi theo pháp hành hóa của Phật, Tỳ kheo phải tuần tự khất thực trước mỗi nhà dù nghèo hay là giàu đều phải dừng bước để cho người gieo giống phước điền. Đằng này mỗi sáng ra khỏi Tịnh Xá Tôn giả tách đoàn đi riêng và tránh xa nhà nghèo, dù đôi lúc phải mang bát không về, chịu đói. Có người hỏi lý do, Ngài giải thích:

Khất phú hay khuất bần cũng đều vì lợi ích chúng sanh cả, nhưng khất người nghèo là tước đoạt phần ăn của họ, vả lại nếu không có vật thực để cúng dường người nghèo có thể sinh buồn tủi, thế là vô tình đã gieo ưu sầu cho người. Trong chúng đệ tử Phật ngược với Tu Bồ Đề, có Ngài Ma Ha Ca Diếp lại chỉ khất thực nhà nghèo, tránh xa nhà giàu. Vì theo Ca Diếp người giàu đã có thừa phước báu khỏi cần đem phước báu lại cho họ, người nghèo mới cần đem gieo trồng phước báu, để mai sau khỏi bị nghèo túng. Bởi thế người xuất gia cần đem ruộng phước đến cho người gieo giống phước đức.

Thái độ của hai Ngài đã trở thành hai thái cực, nên đã bị Đức Phật quở trách. Theo Phật con người cần giữ tâm quân bình, không được phân biệt, thiên kiến. Người đứng lằn ranh này tất phải đối đầu với lằn ranh kia, cuộc đời vì có đối kháng mà tương tranh, mất bình đẳng gây nên nhiều thảm họa.

Đức Phật đi xuất gia vì muốn san bằng cuộc sống bất công, từ đó giáo pháp của Phật hàm chứa tinh thần hòa đồng, không phân chia ranh giới, kể cả giàu và nghèo. Phép khất thực chân chính là không phân chia giàu nghèo, sang hèn, Tỳ kheo cần giữ oai nghi nghiêm túc, thứ lớp khất thực. Với đức tính trống rỗng sẵn có, Tu Bồ Đề dễ dàng thuận theo lời Phật dạy, khi đi khất thực không còn phân chia giàu nghèo, đem phước điền đến cho tất cả mọi người.

Tôn giả Tu Bồ Đề
Tôn giả Tu Bồ Đề

Tu Bồ Đề đón Phật

Trong hàng Thánh chúng, Tu Bồ Đề dùng trí quán chiếu soi thấy tánh không của các pháp, thể chứng lý không, từ đó Tôn giả thường nói lý không và các oai nghi tế hạnh đều biểu thị lý không. Tương truyền một hôm, tại động Kỳ Xà Quật trên núi Linh Thứu, trong lúc đang vá áo, Tôn giả dùng trí quán chiếu biết Đức Phật du hóa phương xa sắp trở về. Tôn giả ngưng việc vá áo định đi đón Phật nhưng liền nghĩ rằng:

Phật là bậc vô ngã, pháp thân không tịch vắng lặng, ngã và ngã sở đều không, tuyệt dứt đối đãi. Phật đã từng nói không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả, các pháp rỗng lặng pháp tánh biến khắp không gian và thời gian. Pháp thân Phật ở đâu mà chẳng có, vì thế ta đi đón Phật có thể bị Phật quở trách là người hành tà đạo. Trong hội Bát Nhã Đức Phật đã nói:

Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, đó là người tà đạo, không thể thấy Như Lai. Sau khi suy nghĩ, Tôn giả ngồi vá áo một cách bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Lúc bấy giờ trên đường trở về Phật được Tăng đoàn và đông đảo quần chúng chuẩn bị đón tiếp vô cùng trang trọng. Trong số đó có Tỳ kheo ni Liên Hoa Sắc, vị chứng thần thông đệ nhất bên nữ, vận dụng thần thông để đón Phật trước nhất. Khi gặp Phật Liên Hoa Sắc đảnh lễ và bạch Phật:

Bạch Đức Thế Tôn! Nhờ có phép thần thông con hay tin Thế Tôn về và đến đây chờ đảnh lễ Thế Tôn trước hơn ai hết. Trước nét hân hoan của Liên Hoa Sắc, Phật mỉm cười từ tốn nói rằng:

Liên Hoa Sắc! Người nghinh đón ta trước tiên chẳng phải là ngươi. Nhìn bốn phía chẳng thấy ai, tất cả đều còn ở sau xa, với vẻ hoài nghi bàng hoàng, Liên Hoa Sắc quỳ thưa:

Bạch Đức Thế Tôn! Con vận dụng sức thần thông khi đến đây chẳng thấy có ai cả. Thế ai là người đón Đức Thế Tôn trước con? Trong lúc Liên Hoa Sắc vừa chấm dứt câu hỏi, Ca Diếp và Tăng đoàn từ từ tiến đến. Đợi chúng Tăng quy tụ đông đảo, Phật mỉm cười nói với tất cả mà cũng để trả lời cho Liên Hoa Sắc, Phật nói:

Này các Tỳ kheo! Ta cám ơn tất cả, các ông đã không quản xa xôi để đến đây đón ta, nhưng người gặp ta trước tiên chính là Tu Bồ Đề. HIện giờ tại núi Kỳ Xà Quật, Tu Bồ Đề đang chiếu quán tánh không của các pháp. Người thấy thể tánh rỗng lặng như như bất động, chính là người trực tiếp nghinh đón ta trước nhất. Chúng đệ tử kể cả Liên Hoa Sắc, nghe Phật nói mới thấu rõ tướng của các pháp là hư vọng như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảnh tượng, sương mai, điện chớp.

Thể tính các pháp là pháp không tịnh, ly ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả, Tu Bồ Đề đã thấu rõ chân lý đó nên Tôn giả là người đón Đức Thế Tôn trước hơn ai hết. Tôn giả xứng đáng là vị Giải Không Đệ Nhất trong hàng Thánh chúng. Tu Bồ Đề xương minh Lý Không

Một hôm tại hội Bát Nhã, trước 1.250 vị Tỳ kheo, hướng về Tu Bồ Đề, Phật nói:

– Tu Bồ Đề! Ông có biện tài thể hội sâu xa đạo lý chân không, giờ này trước đại chúng ông hãy thuyết về không lý Bát Nhã cho tất cả cùng nghe. Nghe Phật dạy Tu Bồ Đề, đại chúng đều không rõ Tu Bồ Đề sẽ dựa vào biện tài của tự thân hay nhờ oai lực của Phật để nói lý chơn không của Bát Nhã? Rõ biết tâm lý đại chúng Tu Bồ Đề rào đón nói rằng:

– Thưa đại chúng! Muốn tỏ lòng cung kính Phật là phải vâng mệnh lệnh của Phật, tôi vốn biết sức mình có hạn, trí tuệ biện tài còn non, nếu không nương sức oai lực của Phật tôi phải thúc thủ. Chân lý của Phật nói thật là sâu xa huyền diệu, như chúng ta đã biết muôn sự, muôn vật, nói khác hơn là các pháp đều do nhân duyên mà sanh khởi, cho nên các pháp là không thực thể, không tự chủ, thực tướng các pháp là chân không diệu hữu. Trong hội Bát Nhã Đức Phật nói: – Sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, thọ tưởng hành thức cũng giống như vậy.

Cái có của các pháp là giả danh, không có thật, bởi thế các pháp chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng dị, chẳng lai, chẳng xuất. Các pháp vốn không tướng cho nên đâu còn tướng sanh, diệt, sạch, dơ, thêm, bớt. Rồi từ đó lục căn, lục trần, lục thức, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới, không vô minh diệt, cũng không vô minh tận. Đã là giả danh cho nên không những sinh, lão, bệnh, tử, khổ, tập, diệt, đạo đã không mà không luôn cả trí và cái sở đắc, kể luôn cả cái tâm.

Phật nói: Các tâm đều là phi tâm, thế mới gọi là tâm, tâm quá khứ, hiện tại và vị lai đều không nhận được. Các pháp vốn không nên không có chủ thể, gọi là vô ngã, vì ngã cũng là giả danh. Có ly tất cả mới đạt trung đạo, mới thật đạt tướng Niết Bàn tịch diệt vắng lặng.

Trong giáo đoàn của Phật, chỉ có Tôn Giả Tu Bồ Đề nhận thức sâu sắc về không tánh của các pháp, hiểu thấu đáo không lý và thật chứng không trí, bởi thế Ngài được tôn xưng là bậc Giải Không đệ nhất.

Khi còn tại thế lúc nói Kinh Bát Nhã, Đức Phật xương minh lý tính chân không diệu hữu của các pháp duyên sinh, Tôn giả được thừa nhận là bậc đã chứng đắc về không trí và không lý. Mãi đến hơn 600 năm sau, với luận lý Bát Nhã Bồ Tát Long Thọ mới triển khai thành giáo nghĩa Bát Nhã, xây dựng thế giới quan chân không diệu hữu của giáo hệ Bắc Tông qua con đường trung đạo.

Hiện nay trong Đại Tạng chữ Hán có đến 720 quyển kinh thuộc về hệ Bát Nhã. Từ xưa đầu mối của giáo hệ Bắc Tông, kinh Bát Nhã là nguồn mạch, nếu không có kinh Bát Nhã thuyết lý chân không diệu hữu thì các trào lưu tư tưởng thuộc hệ Bắc Tông không thể hình thành và tồn tại đến ngày nay. Bởi thế chúng ta có thể nói: Tôn Giả Tu Bồ Đề là vị Tổ đầu tiên của phái Bắc Tông và cả Bát Nhã Tông. Ngài là bậc đã tu quán bằng không trí Bát Nhã.

Với lý duyên sinh, các pháp trùng trùng duyên khởi liên hệ với nhau chằng chịt. Tương truyền khi Tôn giả mới sinh chính là lúc tài sản gia đình hết sạch, kho lẫm trống trơn, không phải là vấn đề hoang đường, duy lý hay duy tâm. Phật giáo không duy gì hết, Đức Phật chỉ thuyết minh cái thực tại của các pháp để giúp con người hiểu, tu chứng giải thoát.

Thực tại là như vậy, ta không nên rơi vào bất cứ cái duy nào, với lý duyên sinh cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không… cái này tạo thuận duyên cho cái kia sinh cái này tạo nghịch duyên cho cái kia hoại diệt. Đó là Tăng thượng duyên (thuận và nghịch), một trong 4 duyên (nhân duyên, sở nhân duyên, đẳng vô gián duyên và tăng thượng duyên). Con người có nhiều ảnh hưởng chi phối sự vật chung quanh và ngược lại. Bởi thế tài sản trong kho lẫm của gia đình Tu Bồ Đề có thể liên hệ hữu cơ với tính giải không của Tu Bồ Đề.

Trong gia đình hay ngoài xã hội cũng thế, cụ thể dễ nhận hơn như trong một gia đình, phòng ốc nhà cửa vườn tược, tươm tất sạch sẽ xanh tươi biểu thị cho người trong gia đình mang tính sạch sẽ tươm tất, cần cù siêng năng… là một gia đình đang thịnh, ngược lại là biểu thị một gia đình đang suy. Để nói lên sự thịnh suy của một gia đình, phong dao Việt Nam có câu: “Ngày xem tre, đêm nghe chó sủa” có nghĩa là: nếu thấy tre vườn xanh tươi, chó sủa hùng mạnh thì biết là gia đình hiện hữu trong đó đang thịnh, ngược lại là biểu thị cho sự suy tàn. Trong một quốc gia, xã hội, nếu mọi người mang tính thiện: “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, quốc gia đó nhất định đang trên đà giàu mạnh, mọi sự kiện trong đời đều liên hệ hữu cơ với nhau thật chặt chẽ.

Nhìn chung qua cuộc đời và đạo nghiệp của Tôn Giả Tu Bồ Đề, có hai điểm đáng cho chúng ta noi gương: Hạnh bố thí và Trí giải không.

Hai điểm đó lại tương quan với nhau. Nhờ thấu rõ tánh không của các pháp duyên sinh là không, là giả danh, là vô ngã, tôn giả Tu Bồ Đề mới không ích kỷ, tham lam, chấp ngã, luôn đem của cải bố thí cho người nghèo thiếu. Lại nhờ xả ly, bố thí, Ngài mới thực sự biểu thị cho sự tu chứng tánh không của các pháp, để trở thành bậc Giải Không Đệ Nhất trong hàng Thánh chúng.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 6 – Tôn Giả Phú Lâu Na (Purna – Punna): Thuyết pháp đệ nhất

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 6 - Tôn Giả Phú Lâu Na (Purna – Punna)
10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 6 – Tôn Giả Phú Lâu Na (Purna – Punna)

Giới thiệu Tôn Giả Phú Lâu Na

Nói về tôn giả Phú Lâu Na, vị thuyết pháp đệ nhất trong Thập đại đệ tử của đức Phật, chúng ta thường biết đến gương can đảm, tính nhẫn nhục, nhưng có một khía cạnh tuyệt vời khác mà chúng ta ít lưu tâm tới, đó là tinh thần Tôn sư trọng đạo, một đức tính cần phải có của hàng tu sĩ.

Tôn giả Phú Lâu Na vốn được gọi là “Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử”. Phú Lâu Na chỉ là tiếng gọi tắt. Danh hiệu Ngài dài như thế chính là biểu hiện cho Tôn giả khi thuyết pháp cũng trường mãn vô cùng. Danh xưng của Ngài được dịch sang tiếng Trung Hoa là “Mãn Từ Tử”. Đức Phật thường ngợi khen biện tài ngôn luận của Tôn giả trước đại chúng. “Các ông cũng nên xưng tán Phú-lâu-na. Ta thường khen ông ấy là bậc nhất trong hạng người thuyết pháp. Ông ấy thâm nhập biển Phật pháp hay làm lợi ích cho tất cả người đồng tu học đạo, trừ đức Phật ra, không ai có thể biện bác ngôn luận với ông.

Thầy là một tấm gương đại hiếu!

Tôn giả sanh ra trong gia đình Bà la môn giàu sang ở gần thành Ca tỳ la vệ. Khuôn mặt tròn, đôi mắt từ ái. Dù cha mẹ rất mực thương yêu, nhưng lòng mến đạo lại sâu nặng hơn, nên Ngài cắt ái ly gia, quy y với đức Thế Tôn, nguyện suốt đời đem ngọn đèn chánh pháp soi sáng khắp nơi, dù xóm làng xa xôi hay mọi miền núi sông cách trở. Với lòng tin sâu Phật pháp, tài biện luận tuyệt vời và hùng khí ngất trời, sau khi đắc quả A la hán, Ngài bắt đầu lên đường thuyết giáo.

Với ba y, một bát, Ngài đi khắp nơi. Đói khát là một vấn đề rất thường trên bước đường bố giáo, nhưng điều đó không quan trọng vì thức ăn của Ngài là thiền duyệt thực và Pháp hỷ thực. Sau những giờ thuyết pháp hay qua một cuộc hành trình gian khổ, Ngài chỉ cần ngồi lại dưới gốc cây, thiền định xong là lại đủ sức tiếp tục lên đường. Và dù đang bố giáo nơi đâu, mà nghe tin đức Phật mở hội thuyết pháp, Ngài cũng tất tả quay về để thính pháp. Từng lời giảng của đức Phật đã làm tăng thêm sức mạnh và tín tâm nơi Phật pháp của Ngài.

Trên bước đường du hoá, Ngài như một cơn gió thoảng, như một áng mây bay, không trụ lại nơi nào. Sau khi diệu dụng ngôn từ để thuyết giáo, Ngài  hướng dẫn số cư sĩ tín tâm đến quy y với đức Phật, rồi lại tiếp tục lên đường. Nơi nào cần có Tinh xá để tiện việc tu tập cho cư sĩ thì Ngài xây dựng, xây xong Ngài xin đức Phật cử một vị Đại đức đến hướng dẫn Phật pháp, rồi Ngài lại ra đi. Ngài đã thành lập ít nhất là 500 Tịnh xá, và đưa về quy y với đức Phật trên mười ngàn người.

Cuộc đời Ngài như một bản hùng ca bất tận. Bao nắng sớm mưa chiều rơi trên y bát, bao mùa xuân đến để rồi xuân qua, tóc đã bạc màu vì sương tuyết, nhưng Ngài vẫn cứ đi, đi mãi và làm tròn trách nhiệm thuyết giáo không hề mệt mõi để báo đền ơn đức Thế Tôn. Gót chân đã chai sần theo năm tháng, và cũng đã bào mòn bao sỏi cát. Vẫn nụ cười tự tin, vẫn ánh mắt từ ái, và vẫn giọng thuyết giảng hùng hồn, Ngài đã bao phen làm sống dậy một xóm làng, một thành ấp, một đất nước mỗi khi Ngài đến bố giáo.

Có lần trong buổi đàm đạo, chư Tăng hỏi Ngài bí quyết nào mà thành công trong việc thuyết pháp, Ngài từ tốn trả lời:

– Tôi tự biết mình tài đức chưa đủ, nên mỗi lần trước khi thuyết pháp, tôi đều hướng về đức Bổn sư, thành tâm khấu đầu đảnh lễ, cầu nguyện từ quang của Ngài soi sáng tâm tôi, ân đức của Ngài  tăng sức cho tôi, bấy nhiêu đã quá đủ để tôi có thêm hùng tâm, hùng lực mà hoàn thành sứ mệnh thuần hoá nhân gian.

Niềm vui to lớn nhất trong tôi là khi đưa người về quy y với đức Phật. Nhìn họ quy y mà lòng tôi nao nao xúc cảm, vì tôi biết rằng trong họ, mai đây sẽ có người được lìa xa sinh tử, hoặc ít nhất cũng an lạc trong chánh pháp.

Cám ơn đức Thế Tôn, ngàn lần tôi cảm tạ ơn Người đã đem lại ánh sáng giác ngộ cho tôi và cho cả trần gian tăm tối. Tôi nguyện đời này kiếp nọ sẽ tiếp tục xiển dương chánh pháp của Người để đáp ân khai ngộ.

Do lòng tri ân và sự tôn kính tuyệt đối đó, mà dù đang du hoá nơi đâu, nhưng tâm Phú Lâu Na vẫn luôn hướng về đức Phật. Mỗi năm đến ngày Khánh đản, Ngài không quên trở về để hoà cùng Tăng đoàn mừng lễ Đản Sanh của đức Thế Tôn, và để được thấm nhuần ơn mưa pháp.

Dòng thời gian cứ thế trôi qua, cho sự nghiệp giáo hoá của Phú Lâu Na ngày càng toả rộng. Nhưng đối với một con người đã lấy trí tuệ làm sự nghiệp, lấy độ sinh làm lý tưởng, lấy thuyết pháp làm mục đích thì đâu biết bến nào là cùng, bờ nào là tận.

Vì thế một ngày kia, sau mùa An cư, chư Tăng lại tiếp tục lên đường du hoá, Phú Lâu Na xin đức Phật cho Ngài đến bố giáo ở xứ Du Na, một nơi núi sông hiểm trở, sự đi lại khó khăn, người dân sống bằng nghề săn bắn, nhận thức còn kém cỏi và tính tình thô ác.

Đức Phật bảo với Phú Lâu Na:

– Ta chỉ e giáo pháp của ta chưa thích hợp lắm với người xứ Du Na hung dữ kia. Nếu họ không muốn nghe mà còn nặng lời xua đuổi thì ông sẽ làm thế nào?

– Bạch đức Thế Tôn, con sẽ nhẫn nại, vì họ chỉ nói nặng lời xua đuổi thôi, chứ chưa dùng cây đánh đập con.

– Nếu họ đánh đập ông thì sao?

– Bạch đức Thế Tôn, con vẫn chịu đựng được, vì họ chưa làm thân con chảy máu, chưa khiến cho tứ chi con tàn phế.

– Nhưng nếu họ giết ông thì sao?

– Bạch đức Thế Tôn, con không có gì thán oán, khi xác thân huyễn hoá này đã nằm xuống để chánh pháp được truyền lưu, để đáp đền ân đức Thế Tôn đã một đời khai ngộ. Con chỉ thương cho người sát hại con, sẽ sa vào ác đạo mà thôi.

Đức Phật mỉm cười hoan hỷ:

– Hay thay! Này Phú Lâu Na, ông hãy lên đường. Ta tin chắc ông sẽ thành công nơi đó.

Khi đến nơi, Phú Lâu Na không vội vàng thuyết giáo. Thấy người dân thường hay đau yếu, mỗi ngày Tôn giả vào tận rừng sâu hái thuốc làm thầy chữa bệnh. Thấy dân cơm ăn không đủ no, Tôn giả làm nông dân dạy dân chúng cấy cày. Thấy trẻ con dốt nát, Tôn giả làm thầy dạy học.

Thế gian khi đã nhận ơn ai, thì thiện cảm sẽ từ từ phát sinh, người xứ Du Na cũng vậy. Dù họ cực kỳ hung ác, nhưng họ cũng còn có trái tim để biết cảm xúc.

Khi tình thế đã tốt đẹp, Phú Lâu Na mới bắt đầu dạy họ đôi điều giáo lý căn bản dễ tiếp thu. Ngày Phú Lâu Na trở về thăm đức Phật, là ngày Phú Lâu Na đem theo 500 người xứ Du Na đến xin Thế Tôn cho xuất gia. Đồng thời Phú Lâu Na cũng để lại những giọt lệ trên đôi mắt của toàn thể người dân xứ Du Na ở giờ phút chia tay, vì Tôn giả đã trao tặng họ một món quà vô giá về đạo lý, về tình người, về lẽ sống trên thế gian này.

Dòng đời cứ thế trôi đi. Sau khi Thế Tôn nhập diệt, Ngài vẫn tiếp tục ba y, một bát lên đường du hoá, vì hơn ai hết Ngài hiểu giáo pháp chính là Pháp thân của Phật.

Sách không ghi rõ Ngài Niết bàn nơi đâu, vì với Ngài nơi nào cũng chính là gia hương. Cánh chim hồng đã bay vút vào khoảng không gian vô tận, chẳng để lại một dấu vết nào, có chăng chỉ là tấm gương sáng tôn sư trọng đạo mà muôn đời hậu tấn soi chung.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 7 – Tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana – Kaccayana, Kaccana): Luận Nghị đệ nhất

Số 7 - Tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana - Kaccayana, Kaccana)
Số 7 – Tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana – Kaccayana, Kaccana)

Hình tượng Tôn giả Ca Chiên Diên

Được tôn xưng là đệ tử có tài năng hùng biện giỏi nhất trong số các đệ tử của Phật Thích Ca, cho tới tận ngày nay, những tín đồ cửa Phật vẫn truyền tụng cho nhau nghe về những cuộc tranh luận ly kỳ của tôn giả Ca Chiên Diên trong việc hoằng hóa Phật pháp của ông trên khắp mọi miền Ấn Độ.

Ngài có biệt tài dùng lời nói rất đơn giản khiến những ai vấn nạn Ngài đều phải thần phục. Trong suốt cuộc đời hành hoá, nhờ tài nghị luận xảo diệu, Ngài đã cảm hoá được rất nhiều người, khiến họ tỉnh ngộ trở về với Tam bảo, sống một đời sống thanh thản an vui.

Tại thôn Di Hầu, nước A-bàn-đề (Avanti) miền Nam Ấn, có một gia đình giàu có dòng Bà-la-môn, được dân chúng toàn thôn kính nể. Tôn giả Ca-chiên-diên đã xuất sanh từ gia đình ấy. Phụ thân Tôn giả là quốc sư đương thời. Gia đình có nhiều đất đai rộng lớn, kẻ ăn người ở cả trăm, quyền thế, tài phú, là bậc đại nhơn gia đệ nhất của cả nước.

Tôn giả Ca Chiên Diên vốn tên gọi là Na-la-đà, con thứ hai của quốc sư Ca Chiên Diên. Ca Chiên Diên là họ, về sau Tôn giả nổi tiếng nên mọi người dùng họ để thay tên gọi.

Ca ca của Tôn giả cũng là một người thông minh, anh tuấn, hào sảng, ban đầu theo cha xuất gia làm Bà-la-môn, sau đi tham học khắp các nước, trải qua nhiều nơi, bái phỏng nhiều minh sư, cho nên thông đạt rất nhiều thứ học thuật, học rành nhiều tài nghệ.

Đệ tử Ca Chên Diên của Đức Phật
Đệ tử Ca Chên Diên của Đức Phật

Tranh luận về sự bình đẳng với quốc vương Mathura

Kể từ ngày tin theo Đức Phật, Ca Chiên Diên có khi tu học trong tăng đoàn của Phật, có khi 1 mình đi ngao du giáo hóa các nơi.

Phương pháp giáo hóa của Ca Chiên Diên không giống với cách giáo hóa của tôn giả Phú Lâu Na, 1 người cũng rất có tài ăn nói, được tôn xưng là người đệ tử thuyết pháp giỏi nhất của Đức Phật.

Khi Phú Lâu Na thuyết pháp, ông thường là tập hợp hàng ngàn tín đồ đến nghe, còn tôn giả Ca Chiên Diên thì ngược lại. Ông thích thuyết pháp riêng cho từng người.

Chuyện kể rằng, 1 hôm Ca Chiên Diên 1 mình 1 bát băng rừng vượt núi tới đất nước Mathura xa xôi ở tận vùng phía Tây để giáo hóa.

Khi đến Mathura, Ca Chiên Diên không vội vào thành mà đi khắp nơi xem xét dân tình, phong tục địa phương, lề lối sinh hoạt tập quán của nước này xong xuôi mới vào thành bái kiến Quốc vương.

Quốc vương Mathura thấy Ca Chiên Diên bèn hỏi: “Tôn giả! Tôi nghe nói ngài vốn dòng dõi Brahman (Bà la môn), đó là 1 chủng tộc cao quý nhất, còn Phật Đà là dòng Kshastriya (Sát đế lợi), mà nay ngài lại tin theo ông ta, làm đệ tử ông ta, thiệt là chẳng ép uổng lắm sao?”

Ca Chiên Diên nghe thấy Quốc vương nói vậy thì vẫn bình tĩnh và đáp: “Thưa Đại vương! Chuyện đó chẳng những không ép uổng gì hết, mà trái lại, tôi cảm thấy rất hân hạnh được làm đệ tử bậc đại thánh Phật Đà”.

“Lạ thật! Từ bỏ dòng dõi thanh tịnh cao quý để làm đệ tử 1 người dòng Sát đế lợi, thật là chẳng ai hiểu nổi”.

Biết ông vua này thủ cựu, Ca Chiên Diên ôn tồn giải thích: “Thưa Đại vương! Ngày xưa tôi là Bà la môn tôi cũng nghĩ như Đại vương. Nhưng sau khi nghe Phật Đà giáo thị, tôi mới biết đó là nhận thức sai lầm.

Trong xã hội chia ra giai cấp Bà la môn, Sát đế lợi, Vệ xa, Thu đà la, còn trên nghề nghiệp thì chia thành tôn giáo, chính trị, thương nghiệp, nông công.

Điều ấy không sai, nhưng từ đó mà nói rằng có chủng tộc cao quý, có chủng tộc thấp hèn thì thật là chẳng đúng chút nào.

Người trong dòng dõi nào cũng có thiện có ác. Hiện tại trong chủng tộc Bà la môn nhiều người làm những điều ác, nếu như vẫn nói rằng họ cao quý thì chẳng phải là sai lắm sao?”

Trước những lời lẽ thuyết phục của Ca Chiên Diên, quốc vương nước Mathura chợt như tỉnh ngộ. Quốc vương vui vẻ nói với Ca Chiên Diên: “Thì ra là như vậy.

Ở đất nước này, nhà tù chỉ nhốt toàn chủng tộc Thu đà la, còn những người thuộc dòng Bà la môn phạm pháp thì không sao cả. Hèn gì, xã hội hỗn loạn, nhân dân ta kêu thán như vậy”. Nói xong, Quốc vương Mathura yêu cầu Tôn giả cho mình được quy y Phật pháp.

Đồng thời, nhà vua ra lệnh đại xá, thả hết những tù nhân dòng Thu đà la, chỉnh đốn lại chính trị, bỏ luôn luật pháp bất công, không phân biệt giai cấp, giữa người và người đều chịu 1 quốc pháp như nhau.

Từ đó toàn cả nước vui mừng, nhân dân lạc nghiệp. Ai nấy đều cảm kích sự giáo hóa của tôn giả Ca Chiên Diên.

Tranh luận với những bậc trưởng thượng

Ca Chiên Diên theo đức Phật, tuyên bố chủ trương “Bình đẳng giữa bốn chủng tộc”. Điều ấy khiến nhiều Bà-la-môn không chịu được. Hễ gặp cơ hội họ liền tìm Ca Chiên Diên chất vấn, họ nghĩ rằng “Không triệt hạ Ca Chiên Diên thì các Bà-la-môn từ nay không cất đầu lên nổi”.

Tôn giả Ca Chiên Diên rất giỏi biện luận, không kể người đó là Bà-la-môn quyền uy đến đâu, khi gặp mặt, Tôn giả chỉ dùng vài lời ngắn gọn, không nói dài dòng lôi thôi, đều khiến kẻ vấn nạn phải vui vẻ khâm phục.

Một hôm, Tôn giả ở trong nước Ba-la-nại, cùng với các Tỳ-kheo đồng học thọ thực trong trai đường, tinh xá nằm bên ao Ô-nê. Có một Bà-la-môn, niên kỷ thuộc hàng trưởng thượng, biết Tôn giả đang ở đấy liền đến khiêu chiến. Lão Bà-la-môn chống gậy, làm thinh đứng bên cạnh Ca Chiên Diên, ý ông ta tưởng rằng: Ca Chiên Diên thấy mình đến chắc sẽ đứng dậy nhường chỗ ngồi. Nào dè ngoài ý dự đoán của lão, Ca Chiên Diên chẳng thèm nhìn đến ông, Bà-la-môn đợi hồi lâu bèn nổi giận, lớn tiếng trách:

– Các ngươi là giống gì? Đối với người già cả như ta tại sao không đứng dậy nhường ghế ngồi hử?

Các Tỳ-kheo một phen thất kinh, lắm vị đứng lên định nhường chỗ cho Bà-la-môn ngồi. Chỉ có Ca Chiên Diên chẳng nao núng chút nào, nói với Bà-la-môn nọ:

– Ông là người nào mà đến đây lớn tiếng ầm ĩ? Chúng ta có phép cung kính của chúng ta, nhưng mà ở đây không có ai là trưởng thượng và tiền bối.

Lão đạo sĩ Bà-la-môn nổi giận, quơ gậy chỉ vào cái đầu bạc của mình, nộ khí xung thiên la lên:

– Già cả như lão đây không phải là trưởng thượng hả? Không đáng cho người cung kính hả?

– Ông ấy à? Ông không đáng gọi là già lão, cũng không đáng thọ sự cung kính của chúng tôi! Ca Chiên Diên nói một cách khi dễ.

– Tại sao ngươi khi người quá vậy?

Lão Bà-la-môn nổi giận lôi đình, lấy gậy chỉ chỏ Ca Chiên Diên. Đối lại, Ca-chiên-diên rất điềm tĩnh, từ tốn nói:

– Tôi thấy cử chỉ và lời nói của ông thô tháo như thế, tôi mới nói ông không đáng gọi là người lớn, không đáng cho người ta kính trọng. Đừng kể là Bà-la-môn, dầu cho tám, chín chục tuổi, tóc bạc răng rụng mà không chân chánh tu đạo, đắm chìm trong trần sắc, không bỏ được phiền não, tham sân tật đố, người đó chỉ đáng gọi là thiếu niên.

Như các người tuổi trẻ hai mươi quanh đây, da dẻ còn tươi nhuận, đầu tóc đen nhánh, nhưng họ đã thoát khỏi sự trói buộc của ái dục, không còn tham cầu nơi thế gian, không có chút xíu ý niệm bất bình sân hận. Được như vậy, chúng ta mới gọi người đó là bậc trưởng thượng, là bậc lão túc, đáng được tất cả chúng ta cung kính.

Lão Bà-la-môn nghe nói xong, chẳng biết trả lời lại thế nào, làm thinh đi ra.

Thuyết minh lý vô thường

Ca Chiên Diên biện tài vô ngại, nghị luận già dặn không ai sánh kịp, trong Tăng đoàn cũng như ngoài xã hội, danh cao vòi vọi không ai không biết.

Đức Phật rất thích các đệ tử lỗi lạc, chỉ cần có chút khả năng cũng được nêu lên tán dương. Ca Chiên Diên là một thánh đệ tử phi thường, đức Phật mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe nói đến tên tôn giả đều rất hài lòng. Cho nên một hôm Ngài đến giáo hóa nước A-bàn-đề, bèn bảo Tôn giả thay Ngài giảng nói đạo lý vô thường cho tứ chúng.

Ca Chiên Diên đảnh lễ đức Phật trước sau mới nói:

“Các vị đại thiện tri thức! Tất cả mọi sự tụ hội đều có lúc ly tán, có sanh ắt có tử, có thành thì có hoại, các pháp hữu vi trên thế gian dù cho sơn hà đại địa, sum la vạn tượng cũng không thoát khỏi pháp tắc vô thường!

Các vị hãy nhìn xem, mùa xuân trăm hoa đua nở, một trận gió thu thổi tới liền biến thành cảnh tượng lá vàng rơi lả tả, vốn là tuổi trẻ mặt đẹp sắc hồng, trải qua năm tháng liền thành da nhăn tóc bạc, già nua lụm cụm.

Làm người nếu quả như không thoát khỏi sự vô thường thì cái sinh mệnh ngắn ngủi này thiệt là cô độc và bi ai lắm. Như giọt sương đọng trên cành, vừa lúc mặt trời lên chiếu rọi muôn ngàn tia sáng, nó đã tan biến theo bóng đêm.

Quyến thuộc, ân ái mà đến lúc già chết cũng không ai thay thế được. Con cháu hiếu thuận, trong lúc ông bà xuôi tay nhắm mắt cũng chỉ biết vây quanh người mà khóc kể, khóc đến mấy cũng không níu được vô thường, cũng không làm ông bà sống lại.

Kim ngân tài bảo cũng chẳng nương cậy được vững bền. Qua một cơn thiên tai, hỏa hoạn liền mất hết giá trị. Danh vọng quyền thế cũng không thật, trên thế gian có vương hầu nào không từng bị lật đổ?

Không rõ lý vô thường sẽ bị màu sắc rối ren của thế gian lừa đảo. Kìa là thiên nhiên núi xanh sông biếc, kìa là loài người sức khỏe tráng kiện, đây xã hội, đèn hồng rượu lục, mấy thứ ấy mới nhìn qua thật thú vị vô cùng, mà cũng thật là cạm bẫy hại người, vì đã chứa sẵn sự vô thường lo sợ.

Suy nghĩ kỹ mà xem, thế gian chỉ có vô thường là trên hết, nơi nơi đều là hư ngụy, giả dối lừa đảo. Chỉ có chân lý nhân quả và nghiệp lực mỗi người tạo tác là không hư ngụy, không dối gạt thôi. Nhân quả và nghiệp lực như bóng theo hình, dù sống dù chết chúng đều theo dính bên ta.

Vì thế, thưa các vị đại thiện tri thức! Người tu chúng ta cần phải có tinh thần khiêu chiến với con ma vô thường. Theo lời chỉ dạy từ bi của Phật-đà, chúng ta cần phải nỗ lực khẩn thiết tu tập, nhận thức được bộ mặt thật của chính mình, phá tan thế gian vô thường, chứng đắc sinh mệnh vĩnh cửu. Chúng ta không cầu sống, mà cũng chẳng bị chết!”

Lời chỉ dạy thống thiết của Tôn giả, nghĩa lý phân minh làm cảm động tất cả tứ chúng trong hội. Thay Phật thuyết pháp, chỉ có Ca-chiên-diên biện tài nghị luận, mới đầy đủ tư cách ấy, mới được vinh dự ấy.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 8 – Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali): Trì giới đệ nhất

Số 8 - Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali)
Số 8 – Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali)

Ưu Ba Ly vốn thuộc giai cấp nô lệ Thủ Đà La, xuất thân làm nghề thợ cạo tóc, hầu hạ trong vương cung. Ngày Phật về thăm Ca Tỳ La lần đầu tiên và chấp thuận cho các vương tử xuất gia, Ưu Ba Ly tủi hổ cho phận mình sanh ra trong chốn hạ tiện, ở thế gian làm thân nô lệ đã đành, muốn lìa thế gian đi tu cũng không được phép.

Ngài là người nô lệ đầu tiên được Phật cho xuất gia, thu nhận vào tăng đoàn. Xuất gia tu thiền sau một thời gian ngắn Ngài chứng quả A La Hán. Ngài được Đức Phật cho là đệ nhất Trì giới và được giao việc xử lý và tuyên luật.

Tôn giả Ưu Bà Ly là người nô lệ đầu tiên được Phật cho xuất gia, thu nhận vào tăng đoàn. Xuất gia tu thiền sau một thời gian ngắn Ngài chứng quả A La Hán. Ngài được Đức Phật cho là đệ nhất Trì giới và được giao việc xử lý và tuyên luật.

Trong cuộc sống, từ quốc gia xã hội, đến đoàn thể, luật pháp, nội quy, điều lệ là những điều kiện giúp cho tổ chức được kiện toàn, vững mạnh, trường tồn. Ngược lại trong một tổ chức có nhiều người không giữ nội quy, điều luật sẽ trở thành ô hợp dễ tan rã, cụ thể như trong quân đội nếu không có kỷ luật sắt, khi ra trận sẽ bị thất bại. Với tôn giáo cũng thế, tín đồ không tuân giữ điều răn cấm, đạo giáo sẽ bị suy tàn. Khi Đức Phật sắp Niết Bàn, Ngài A Nan hỏi Phật nhiều vấn đề trong đó có câu hỏi: Sau khi Thế Tôn Niết Bàn chúng con nhận ai làm thầy?

Sau khi Phật Niết Bàn trong cuộc kiết tập Kinh, Luật, Luận tại động Kỳ Xà Quật gồm 1.250 vị A La Hán do Đại Ca Diếp làm chủ tọa, Ngài A Nan tuyên trì tạng kinh, Ngài Ca Chiên Diên tuyên trì tạng luận, Ngài Ưu Ba Ly tuyên đọc 80 lần các giới luật do Phật chế. Từ cuộc kiết tập nầy bộ Bát Thập Tụng Luật được hình thành và đó là bộ luật căn bản đầu tiên của văn học Phật giáo.

Theo Nam truyền sử, Tôn giả Ưu Ba Ly không những là vị kiết tập Luật tạng, mà còn là vị kế thừa Đức Phật lãnh đạo giáo đoàn và trở thành Sơ tổ. Đây cũng là điểm mà Phật giáo Bắc tông khác với Phật giáo Nam tông. Theo truyền thống Bắc tông: Đại Ca Diếp là vị Sơ tổ thừa kế Phật lãnh đạo giáo đoàn, nguyên nhân sự khác biệt này xét ra cũng dễ thấy.

Nam tông thiên về tư tưởng giải thoát, muốn giải thoát phải trì luật. Tôn giả Ưu Ba Ly là vị trì luật đệ nhất nên được suy ton là Sơ tổ. Còn Bắc tông thiên về tư tưởng giác ngộ, lấy tâm ấn tâm không cần văn tự, ấn truyền ngoài kinh điển. Tôn giả Đại Ca Diếp là vị đã lãnh hội được ý chí đó nơi Đức Phật trước nhất, qua cành hoa sen của Phật đưa ra tại hội Linh Sơn. Sau khi Đức Phật Niết Bàn Tôn giả là vị chủ tọa, lãnh đạo cuộc kiết tập kinh điển, nên Phật giáo Bắc tông suy tôn Ngài là Sơ tổ.

Số 9 – Tôn giả A Nan (Ananda): Đa Văn đệ nhất

Số 9 - Tôn giả A Nan (Ananda)
Số 9 – Tôn giả A Nan (Ananda)

Trong số 10 Đại đệ tử của Đức Phật, Ananda được đề cập là vị tôn giả có mối quan hệ gần gũi nhất vớiĐức Phật lịch sử.Đặc biệt trong những năm cuối đời của Đức Phật, Ananda vừa là thị giả và vừa là người thân cận, gần gũi thân thiết nhất với Phật.Ananda cũng được nhớ đến như là đệ tử đọc lại tất bài giảng của Đức Phật trong suốt những năm Phật thuyết giảng (gọi là kinh) tại lần kết tập kinh điển lần thứ nhất hay gọi làHội đồng Phật giáođầu tiên, sau khi Đức Phật qua đời.

Ngài là em họ Đức Phật, xuất gia khi Phật về thăm hoàng cung, Ngài là vị tỳ kheo đệ nhất về 5 phương diện : Đa văn, cảnh giác, sức khỏe đi bộ, lòng kiên trì và hầu hạ chu đáo. Được thánh chúng đề nghị làm thị giả Đức Phật khi Đức Phật được 56 tuổi. A Nan hoan hỷ chấp thuận với điều kiện: Thế Tôn từ chối 4 việc và chấp thuận 4 việc: Từ chối : không cho tôn giả y, đồ ăn, phồng ở riêng và mời ăn. Chấp thuận: Thế Tôn cho phép nếu Tôn giả đươc thí chủ mời đi thọ trai. Nếu có người từ xa đến xin ý kiến, Thế Tôn cho phép khi A Nan giới thiệu. Thế Tôn cho A Nan yết kiến khi Ngài gặp điều khó xử. Thế Tôn giảng lại những giáo lý cho ; Ngài, trong những lúc A Nan vắng mặt.

Ananda được cho là một vị hành giả khiêm tốn, ít nói, hoàn toàn phù hợp làm thị giả cho Đức Phật.Tôn giả cũng được cho là có một trí nhớ phi thường;Ngài có thể đọc lại từng bài giảng của từ Phật sau khi nghe bài giảng đó chỉ một lần.Ananda được cho là đã thuyết phục Đức Phật cho phép phụ nữ được xuất gia và gia nhập vào Tăng đoàn, theo một câu chuyện nổi tiếng.

Tuy nhiên, Tôn giả chứng thánh quả Arahant chậm hơn các đệ tử khác và Ngài nhận ra sự giác ngộ hoặc chỉ chứng thánh quả sau khi Đức Phật qua đời, có giả thuyết Ngài thị hiện như vậy là vì muốn dành hết tâm huyết của mình để phụng sự và chăm sóc Đức Thế Tôn cách chu toàn nhất.

Đức Phật

Khi Đức Phật 55 tuổi, Ngài nói với tăng thân Đức Thế Tôn cần một thị giả mới.Vì trong 20 năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng, khi thìNàgasamàla, khi thìNàgita, khi thìUpavàna,Sunakkhatta, Sa-diCunda, Sàgata, Meghiya.Công việc của Thị giả là sự kết hợp của người hầu, thư ký và người bạn tâm tình.Nhiều nhà sư đã lên tiếng và tự đề cử cho công việc.Tuy nhiên, Ananda vẫn im lặng.Đến khi Đức Phật yêu cầu anh em họ chấp nhận công việc, Ananda chỉ chấp nhận với điều kiện.Tôn giả yêu cầu Đức Phật không bao giờ cho ông ta thức ăn hay Y áo hay bất kỳ chỗ ở đặc biệt nào để vị trí thân cận Đức Phật không đi kèm với lợi ích vật chất.

Ananda cũng yêu cầu đặc quyền thảo luận về những nghi ngờ của mình với Đức Phật bất cứ khi nào Ngài gặp phải vấn đề về giáo pháp.Và Tôn giả yêu cầu Đức Phật lặp lại bất kỳ bài giảng nào cho Ngài nếu tôn giả có thể phải bỏ lỡ trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.Đức Phật đã đồng ý với những điều kiện này, và Ananda phục vụ như là thị giả tinh cần nhất trong 25 năm còn lại của cuộc đời Đức Phật.

Ananda chăm sóc các “công việc” như giặt và vá y áo để Đức Phật có thể tập trung vào việc giảng dạy.Ngài chăm sóc đức Thế Tôn hết mực tận tụy, đem nước, đem tăm xỉa răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban ngày, Anandaở một bên đức Phật, nhắc nhở những điều cần làm; ban đêm cầm đèn và gậy, Anandađi xung quanh phòng đức Phật sẵn sàng đáp ứng nếu Thế Tôn có gọi.

Tôn giả cũng truyền lại hoặc thỉnh ý của Phật khi chư tôn giả có việc cần thưa thỉnh và đôi khi đóng vai trò là người gác cổng, để Đức Phật không phải gặp quá nhiều người cùng một lúc hoặc những việc ảnh hưởng đến sức khỏe của Đức Phật.

Sự phổ biến của Pajapati

Câu chuyện về sự thành lập và truyền giới của cácTỳ kheo ni Phật giáođầu tiênlà một trong những phần gây tranh cãi nhất củakinh tạng Pali. Câu chuyện này đã khiến Ananda cầu xin một vị Phật bất đắc dĩ phải xuất gia cho mẹ kế là dì của Ngài, Pajapati, và những người phụ nữ đã đi cùng bà để trở thành đệ tử của Đức Phật.

Đức Phật cuối cùng đã đồng ý rằng phụ nữ có thể trở nên chứng ngộ cũng như nam giới và có thể được xuất gia. Nhưng Phật cũng dự đoán rằng sự có mặt của Ni đoàn sẽ có sự ảnh hưởng nhất định đến tăng thân.

Một số học giả hiện đại đã lập luận rằng nếu Ananda thực sự trẻ hơn Đức Phật hơn ba mươi tuổi, ông vẫn sẽ là một đứa trẻ khi Pajapati tiếp cận Đức Phật để xuất gia.Điều này cho thấy câu chuyện đã được thêm vào, hoặc ít nhất là được viết lại, một thời gian dài sau đó, bởi một người không tán thành Ni giới. Tuy nhiên, Ananda được cho là người ủng hộ quyền của phụ nữ được truyền giới trở thành thành viên của Tăng đoàn.

Khai sáng và Hội đồng Phật giáo đầu tiên – Kết tập kinh điển

Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, 500 tu sĩ giác ngộ đã cùng nhau thảo luận về việc giáo lý của Thầy họ có thể được bảo tồn như thế nào. Không có bài giảng nào của Đức Phật đã được viết ra. Trí nhớ của Ananda về các bài giảng đã được tôn trọng, nhưng Ngài chưa nhận ra sự giác ngộ. Anh ấy có được phép tham dự không?

Sự viên tịch của Đức Phật đã giúp Ananda tin tấn, nổ lực và không còn nhiều nhiệm vụ, và bây giờ ông dành hết tâm trí cho thiền định.Buổi tối trước khi Hội đồng bắt đầu, Ananda đã nhận ra sự giác ngộ. Tôn giả tham dự Hội đồng và được sự ủng hộ, thống nhất, nhất trí cao của Tăng đoàn của các vị Thánh kêu gọi Tôn giả tuyên đọc lại những bài giảng của Đức Phật để kết tập thành tạng kinh.

Trong vài tháng tiếp theo, anh ấy đọc thuộc lòng, và hội đồng đã đồng ý cam kết các bài giảng cũng như ghi nhớ và bảo tồn các giáo lý thông qua việc đọc thuộc lòng.Ananda được gọi là “Người giữ gìn kho báu chánh Pháp”.

Lịch sử ghi chép lại rằng, Tôn giả Ananda sống đến hơn 100 tuổi.Vào thế kỷ thứ 5, một số nhà sư là người hành hương từ Trung Quốc đến Ấn Độ đã báo cáo về việc tìm thấy mộtbảo thápgiữ hài cốt của Ananda, vị thánh giả được ni giới hết mực tôn kính, phụng thờ.Cuộc sống của Tôn giả vẫn là một tấm gương mẫu mực của con đường cống hiến và phục vụ.

10 đại đệ tử của Đức Phật. Số 10 – Tôn giả La Hầu La (Rahula): Mật hạnh đệ nhất

Số 10 - Tôn giả La Hầu La (Rahula)
Số 10 – Tôn giả La Hầu La (Rahula)

Ngài là con của Thái tử Tất Đạt Đa và công chúa Da Du Đà La. Khi về thăm quê lần đầu tiên, Phật phương tiện tìm cách đưa La Hầu La đi xuất gia và giao cho Xá Lợi Phất dạy bảo. Được Phật và Xá Lợi Phất từ mẫn giáo hoá, tập khí cương cường của giồng máu vương giả trong người La Hầu La mỗi ngày mỗi nhạt phai và tánh tình lần lần trở nên ôn hoà nhu thuận.

Ngài nghiêm trì giới luật, tinh tấn đạo tâm, quyết luyện mật hạnh. Sau một thời gian chăm chú luyện mật hạnh và từ câu nói đơn giản của Phật “ Hãy nhìn vào vạn tượng sum la kia, rồi nhìn lui vào tâm niệm và thân thể của mình, để xem có gì đứng yên một chỗ không ? Vô thường ! Vô thường tất cả ! Nên biết như thế và đừng để cho tâm chấp trước dính mắc vào đâu cả ”. Chiêm nghiệm lời Phật dạy, Ngài đã chứng được tận cùng của Mật hạnh và được Phật khen là Mật hạnh đệ nhất.

La Hầu La Thời Niên Thiếu

Là cháu đích tôn của vua Tịnh Phạn và là cháu ngoại của vua Thiện Giác, La Hầu La (Rahula)rất được cưng chiều sống hạnh phúc trong thời thơ ấu. Thái Tử Tất Đạt Đa không những chỉ bỏ lạc thú mà còn khước từ luôn cả ngôi báu, bởi thế trong tương lai người kế vị vua Tịnh Phạn chắc chắn là La Hầu La. Đó cũng là lý do La Hầu La được trìu mến trong hoàng cung. Vả lại La Hầu La là niềm vui duy nhất của Da Du Đà La, nên bà rất mực yêu thương và nuông chiều.

Sau ba năm thành đạo, Đức Phật mới trở về thành Ca Tỳ La Vệ thăm Phụ vương, Di mẫu, Da Du Đà La và La Hầu La. Toàn dân nô nức đón chào ngày trở về của Thái Tử Tất Đạt Đa nay đã trở thành Phật Thích Ca, Vua Tịnh phạn cũng đích thân đi đón. Da Du Đà La và La Hầu La không đi, chỉ lên lầu ngó trông. La Hầu La lúc nào cũng bên mẹ, nên mãi chưa được thấy phụ thân. Khi Đức Phật cùng Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến cung của Da Du Đà La, La Hầu La mới biết phụ thân. Nhưng với trí thông minh sẳn có dù chỉ 10 tuổi, La Hầu La liền nghĩ Phật chẳng còn là phụ thân riêng của La Hầu La mà là một bậc đại từ phụ của tất cả chúng sanh, với tính thơ ngây La Hầu La thường đòi được ở chung với Phật. Mỗi khi gặp Phật, La Hầu La lại đòi Phật cho gia tài. Một hôm sau khi từ rừng Ni Câu Đà vào đến hoàng cung, Đức Phật nói với Xá Lợi Phất:

Chú bé La Hầu La cứ đòi xin ta gia tài, ta không cho thứ tài sản mong manh của cuộc đời, ta không muốn La Hầu La thừa kế ngôi báu, chỉ muốn cậu bé xuất gia cầu đạo giải thoát. Do đó ta muốn Xá Lợi Phất hướng dẫn La Hầu La xuất gia. Với huyết thống Phật chủng sẳn có, vâng lời Tôn giả Xá Lợi Phất, La Hầu La xuất gia làm vị Sa di đầu tiên trong giáo đoàn, tháp tùng các vương tôn theo Phật về Tinh Xá Trúc Lâm, tiến tu đạo nghiệp nối tiếp dòng thánh, trở thành vị Mật Hạnh Đệ Nhất.

Đạo Nghiệp La Hầu La

Sa Di nghịch ngợm

Dù đã thọ giới Sa di nhưng còn trẻ tuổi, La Hầu La chưa ý thức rõ hết tầm quan trọng của con đường mới và cũng chưa đủ kiến thức để lãnh hội chánh pháp. Trong tăng đoàn La Hầu La giống như một cái máy, các bậc trưởng thượng bảo sao nghe vậy, chẳng biết trách nhiệm của một sa di phải làm những gì? Khi Xá Lợi Phất nhận thêm chú bé Quân Đầu vào làm Sa di, La Hầu La bắt đầu có bạn và thường bày các trò chơi nghịch ngợm, dối gạt người khác.

Lúc ở rừng Ôn Tuyền, ngoài thành Vương Xá, có nhiều quan quyền, trưởng giả, cư sĩ đến hỏi nơi Đức Phật đang thuyết giáo để viếng thăm, La Hầu La thường trêu chọc bằng cách chỉ không trúng chỗ.

Nếu Phật ở Tinh Xá Trúc Lâm, La Hầu La bảo ở Kỳ Xà Quật, ngược lại nếu Phật ở Kỳ Xà Quật, La Hầu La chỉ ở Trúc Lâm, hai nơi này cách nhau đến những 5 dặm. Nhiều người không bằng lòng cách trêu chọc của La Hầu La, nhưng La Hầu La vừa là Sa di, vừa là con Phật lại thuộc dòng họ quyền quý, nên không ai dám chỉ trích hoặc trách cứ.

Chuyện nghịch ngợm dối gạt để mua vui lâu ngày cũng đến tai Phật. Phật không vui chút nào, vì đã là một Sa di mà tập khí vương giả, tính ý lại chưa tẩy trừ được, Đức Phật đích thân đến vườn Ôn tuyền khiển trách La Hầu La.

Phật Răn Dạy La Hầu La

Khi nghe tin Phật đến, La Hầu La vội vàng ra nghinh đón. Thấy Đức Phật rất oai nghiêm từ xa mới đến, La Hầu La đem nước đến để Phật rửa chân. Rửa xong, Phật chỉ nước trong chậu hỏi La Hầu La:

Này La Hầu La! Nước này có thể uống được không?

Bạch Thế Tôn! Không thể uống.

Tại sao?

Vì nước đã ô uế.

Này La Hầu La! Ông cũng giống như thứ nước đó. Thời gian xuất gia làm Sa di khá dài, gần 10 năm nhưng với lề thói xấu xa, ông chưa dứt được.Nước ô uế không uống được, thân tâm những người còn ô uế các tập khí có khác gì đâu? Hình thức xuất gia mà thân, khẩu, ý còn trần tục tất không thể thăng hoa.

Người rời bỏ thế tục phải giữ lòng thanh tịnh, hành vi cử chỉ nhẹ nhàng, nói năng ngọt ngào, lựa lời mà nói. Xuất gia mà không trừ bỏ ba độc uế, chẳng khác gì nước dơ, nước không sạch người ta sẽ đem đổ, con người mang nhiều tật xấu ắt sẽ sa đọa tương lai đen tối.

Nói xong, Đức Phật bảo La Hầu La mang chậu đi đổ nước dơ rồi mang chậu về, khi trở lại Phật hỏi:

Này La Hầu La! Chậu này có đựng thức ăn được không?

Thưa không.

Tại sao?

Vì vết dơ bám đầy chậu.

Này La Hầu La! Chậu dơ không đựng thức ăn được, thân dơ cũng thế thôi. Ông chỉ là một hình đồng Sa di mà thân, khẩu, ý không đồng, không tu tập giới, định, huệ, tâm không trong sạch, lời nói bông đùa nghịch ngợm, thân dính đầy cấu uế, mất hết oai nghi, như thế khác gì nước uế, chậu dơ. Chậu dùng không được thì giữ lại làm gì?

Nói vừa dứt lời, Phật lấy chân đá nhẹ vào chậu khiến chậu vỡ đôi, Người lại hỏi tiếp:

Này La Hầu La! Ngươi có tiếc cái chậu không?

Thưa không.

Tại sao?

Vì chậu dơ, có gì phải tiếc!

Này La Hầu La! Vì chậu dơ ngươi không tiếc khi nó vỡ. Giống như mọi người không thương kính ngươi, vì ngươi còn nhiều lầm lỗi, kể cả việc nói để mà chơi. Mang danh xuất gia, ăn nói không được thật thà, oai nghi thiếu chững chạc, phỉnh gạt người khác, ai mà thương mến ngươi được?

Nói xong Phật còn đem chuyện xưa để răn dạy thêm. Xưa kia có một ông vua chuẩn bị đầy đủ cho con voi lâm trận, mình mặc áo giáp, ngà nối tên nhọn,túi giắt kiếm báu… Khi lâm trận voi sử dụng đủ các bộ phận của cơ thể, như hai chân trước, hai chân sau, đầu, tai, ngà, đuôi, nhưng không dùng cái vòi, luôn luôn co lại dấu kín.

Nếu không bảo vệ cái vòi thì bị tên bắn, liền bị toi mạng. Đức Phật khuyên La Hầu La cần cẩn thận lời nói, giống như con voi bảo vệ cái vòi, mở miệng nói dối dù nói chơi huệ mạng của người sẽ mất. Con voi ra trận mà không biết bảo vệ cái vòi thì chẳng còn biết sợ gì hết.

Con người không cẩn thận, cân nhắc lời nói để cứ nói lừa, nói dối sẽ không có tàm quý và không có một việc xấu xa nào mà không làm. Bởi thế con người hãy ráng giữ miệng giữ mồm. Nghe Đức Phật răn dạy, La Hầu La tỉnh ngộ phát nguyện sửa đổi oai nghi, bỏ lời dối gạt, âm thầm vắng vẻ tu luyện mật hạnh.

Tu hạnh nhẫn nhục

Tuy La Hầu La đã phát nguyện giữ gìn giới luật, cẩn thận lời nói tiến tu mật hạnh, Đức Phật vẫn bảo Tôn giả Xá Lợi Phất luôn luôn kềm chế La Hầu La bằng những công tác hằng ngày. Theo lời Phật, Xá Lợi Phất giao việc quét dọn sân vườn cho La Hầu La. Một hôm sau khi thực hiện xong công tác hằng ngày, La Hầu La vào giảng đường nghe Phật thuyết pháp mãi đến tối mới trở về phòng.

La Hầu La thấy một khách tăng đã dọn y bát của La Hầu La ra ngoài để lấy phòng nằm ngủ, theo sự hướng dẫn của vị quản lý. Vì đã nguyện kín tiếng lặng hơi theo pháp mật hạnh, La Hầu La đành ôm y bát ra sân ngồi. Thình lình trời đổ mưa xối xả, La Hầu La lại ôm y bát vào nhà xí.

Cũng vì trời mưa nước ngập hang, một con rắn tìm nơi lánh nạn, bò vào nhà xí. Vì trời tối La Hầu La ngồi bất động không thấy rắn, trong cơn nước ngập rắn bò kiếm chỗ khôn ráo nên cũng không biết có người trong nhà xí.

Ngay tối hôm đó có người báo cho Phật hay La Hầu La bị một khách tăng chiếm phòng và có thể La Hầu La ẩn mưa trong nhà xí, Phật liền đi tìm La Hầu La. Khi rọi đèn vào nhà xí, Phật thấy La Hầu La ngồi bó gối ở một góc, con rắn khoanh tròn ở một góc. Vì có ánh sáng rắn nằm bất động, còn La Hầu La được Phật gọi ra và dẫn vào Tinh Xá. Sáng hôm sau, Phật tập họp tăng đoàn ban hành quy chế, Sa di có thể ở chung phòng với Tỳ kheo.

Từ đó La Hầu La được ở chung phòng với Xá Lợi Phất, hai thầy trò sát cánh nhau. Một hôm hai thầy trò đi khất thực, vì kính Tỳ kheo hơn Sa di, các đàn việt đem vật ngon cúng cho Tỳ kheo, còn Sa di La Hầu La nhận những vật thực ít chất dinh dưỡng như xác mè, rau đậu…

Tuy đã phát nguyện nhẫn nhịn, tịnh hóa thân tâm, các tập khí bị dồn nén lâu ngày, giờ có thời cơ trỗi dậy. Với ý nghĩ tuổi đang lớn, cần được dinh dưỡng khi khất thực về vẻ mặt La Hầu La lộ nét u buồn, Phật hỏi lý do La Hầu La trình lại sự cố. Phật dạy La Hầu La nên kính lão, vả lại đi tu đâu có cần miếng ăn, ăn để sống chứ đâu phải sống để ăn.

Đức Phật khuyên La Hầu La nên chú trọng đến hạnh tu, không nên quá quan tam đến ăn uống, thức ăn chỉ là thuốc trị bệnh đói.Tuy nhiên, Phật cũng bảo Ngài Xá Lợi Phất nên chăm sóc đến sức khỏe của tuổi trẻ bằng cách lưu tâm đến sự ăn uống cho đủ chất dinh dưỡng. Một hôm khác hai thầy trò vào thành Vương Xá khất thực, trên đường đi chẳng may hai thầy trò gặp một chàng du đãng.

Hắn ta chận đường, chửi bới lấy cát bỏ vào bình bát của Xá Lợi Phất, rồi vác gậy đánh La Hầu la túi bụi rồi bỏ đi. Vì sức yếu không chống trả nổi, đầu bị chảy máu. Lại cũng do tập khí bị dồn nén chưa dứt sạch, mặt La Hầu La tức giận bừng bừng và ôm dầu khóc thê thảm. Xá Lợi Phất từ tốn khuyến giáo:

Này La Hầu La! Tuổi đã 18,19 sắp được thọ cụ túc giới, ngươi hãy quyết tâm nhổ sạch tập khí 3 độc, bằng mật hạnh nhẫn nhục, kẻ hành giả không nên oán cừu thù hận, hãy đem đức tính từ bi thương yêu tất cả chúng sanh, ở đời khen, chê, vinh, nhục là điều không đáng cho người tu hành lưu tâm. Điều đáng cho hành giả ghi nhớ là ở thế gian, sức mạnh nhẫn nhục có thể thắng tất cả sức mạnh khác, dù lớn lao đến đâu.

Vừa khuyên giải, Tôn giả vừa băng bó vết thương cho La Hầu La. Khi về đến Tinh Xá, Tôn giả trình lên Đức Phật sự tình vừa mới xảy ra trên đường hai thầy trò đi khất thực. Phật dạy La Hầu La:

Này La Hầu La! Nhẫn nhục là hạnh vô cùng cao quý, muốn thấy Phật, thuận pháp, gần tăng ông hãy tu hạnh nhẫn nhục. Người biết nhẫn nhục tâm hồn sẽ thư thái, an ổn, diệt trừ được các tai họa, trí tuệ phát sinh, trí tuệ là kiếm báu chặt đứt gốc rễ vô minh, tham ái, ngã chấp.

Người có trí tuệ dù có chung đụng với thế lực vẫn không bị ô nhiễm. Nhẫn nhục là điều kiện làm tăng thượng duyên, tuyên dương chánh pháp, là tư lương để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Để khai thị thêm, giúp La Hầu La có đủ điều kiện tiến tu và chứng thánh, Phật lại khuyến hóa tiếp:

Này La Hầu La! Để nối tiếp dòng thánh không phụ các ân ngươi hãy nhìn thẳng vào thực tại của muôn vật, ngươi có thấy vật nào đứng yên không? Tất cả năng động trong sinh diệt, diệt sinh, ngươi cần đem trí tuệ soi suốt tính vô thường, vô ngã của vạn vật kể cả thân tâm của ông, có suốt rõ như thế tâm mới không dính mắc vào bất cứ một thứ gì để tu niệm, giữ 8 vạn oai nghi và ba ngàn tế hạnh, hầu sớm được giải thoát.

Ngươi không thể trì trệ trên con đường triển khai Phật chủng. Nghe Đức Phật cảnh tỉnh, La Hầu La liền tỉnh ngộ, dành mọi thời gian, chuyên tâm tu luyện oai nghi tế hạnh. Cuối cùng La Hầu La trở thành bậc đệ nhất về mật hạnh, được Phật khen ngợi và khuyên trang trải tâm tư đồng thể khắp mọi loài đưa chúng sanh qua bờ giải thoát.

Tiếp nhận Tinh Xá

Tuổi còn trẻ ít tham gia sinh hoạt của tăng đoàn, chỉ vâng lời Phật chuyên tu oai nghi tế hạnh, lúc 20 tuổi La Hầu La chứng Thánh và được nhiều người kính trọng, vì thế La Hầu La được tín chúng cúng dường nhiều nhất. Một hôm Đức Phật ở Ca Tỳ La Vệ thuyết pháp, có một trưởng giả đến xin quy y Phật nhưng lại rất hưũ duyên với La Hầu La. Sau ngày quy y vì cùng một quê hương Ca Tỳ La Vệ, Ông truởng giả cúng dường cho La Hầu La đủ các thứ cần dùng. Sẳn có tài sản trưởng giả xây cất một tinh xá, dâng cúng cho La Hầu La. Tinh Xá khang trang rộng rãi nên La Hầu La dọn về thường trú ở đó.

Trên đường đi thuyết pháp các Tỳ kheo cũng thường ghé lại Tinh xá của La Hầu La. Vì thế Tinh Xá lúc nào cũng đông khách ra vào. Vì nghĩ Tinh xá do mình cúng nên mình có trách nhiệm quản lý, Trưởng giả rất siêng năng lui tới Tinh xá bàn bạc với La Hầu La việc này, việc nọ, đôi lúc ông còn lấn cả quyền hạn của trụ trì La Hầu La. Là một người tu hạnh nhẫn nhục luôn im lặng truớc mọi hành động của vị trưởng giả, và cũng vì chưa nghe Phật chế giới tiếp nhận và quản lý Tinh xá như thế nào nên trong dịp trở về Trúc Lâm, La Hầu La thỉnh Phật ý kiến. Đức Phật dạy rằng:

Trong giáo pháp của ta việc của tăng đoàn, hàng tín chúng không được can dự vào, phòng ốc, tinh xá của tăng đoàn cư sĩ Phật tử không có quyền quản lý. Dù bất cứ vật gì kể cả Tinh xá, sau khi đã dâng cúng quyền sở hữu thuộc về chư tăng.

Nghe Phật giải thích rõ ràng, La Hầu La về trình bày với ông trưởng giả. Đã không thông hiểu Phật pháp lại ỷ đã bỏ tài sản ra xây dựng, đương nhiên ông có quyền quản lý. Do đó trước kính trọng cúng dường cho La Hầu La bao nhiêu, bây giờ trưởng giả lại oán thù La Hầu La bấy nhiêu, xem La Hầu La là người chiếm đoạt tài sản.

Một hôm La Hầu La có việc phải vào thành Xá Vệ, đúng lúc trưởng giả viếng thăm Tinh xá, vì tâm bất bằng có sẵn lại thấy Tinh xá vắng vẻ, trưởng giả vội vàng đem Tinh xá cúng dường cho một vị Tỳ kheo khác. Khi xong việc trở về, thấy tinh xá có người đến ở, với tâm không vụ lợi tranh chấp, xả bỏ tất cả, La Hầu La ôm y bát trở về Tinh xá Kỳ Hoàn. Thấy lạ Đức Phật hỏi lý do, La Hầu La trình bày với Phật, Tinh xá đã bị trưởng giả thu hồi và đem cúng dường cho một vị Tỳ kheo khác. Đức Phật nghĩ, người không hiểu Phật pháp mà đi làm phật sự thật là một điều khó, sau đó Phật triệu tập tăng đoàn và dạy:

Những vật đã đem bố thí cho người, tín thí đem tặng lại cho các ông, các ông không được tiếp nhận. Nói thế không phải ta thiên vị, bênh vực quyền lợi cho La Hầu La, phép tắc trong giáo đoàn phải được quy định rõ để tránh các rắc rối về sau.

La Hầu La Nhập Niết Bàn

Về sự đản sinh và niết bàn của La Hầu La có hai truyền thuyết: Một thuyết cho rằng La Hầu La ra đời năm Thái tử Tất Đạt Đa 19 tuổi, thuyết khác cho rằng La Hầu La chào đời năm Thái Tử Tất Đạt Đa 25 tuổi. Về năm Niết Bàn của La Hầu La cũng có hai truyền thuyết.

Một thuyết nói La Hầu La Niết bàn trước Phật vài năm, thuyết khác ghi khi Phật Niết Bàn La Hầu La còn quỳ bên Phật. Theo truyền ký Da Du Đà La cùng tuổi với Phật, nhưng niết bàn năm 78 tuổi như thế là trước Phật 2 năm. Còn La Hầu La niết bàn không quá 50 tuổi trước cả Phật và Da Du Đà La.

Nhận Thức và Kết Luận

Trong hàng Thánh chúng, La Hầu La là vị tu chứng trẻ nhất, lúc mới 20 tuổi. Đúng là mê nhất kiếp ngộ nhất thời, vừa vâng lời Phật bỏ tính ham chơi của tuổi trẻ, tu chẳng bao lâu La Hầu La liền chứng thánh vị. Lúc còn là chú tiểu và cả lúc đã thọ sa di, La Hầu La biểu thị tính hồn nhiên, thơ ngây, nghịch ngợm của tuổi trẻ ngày xưa.

Nếu đem so với thế hệ tuổi trẻ ngày nay, chúng không còn ngây thơ hồn nhiên như thế hệ tuổi trẻ của cha anh. Chúng ta không nên méo mó, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, trong hiện tại con em chúng ta đang thiếu hướng dẫn, nạn phá phách, xì ke, ma túy nghiện ngập đang lan tràn trong giới trẻ. Gia đình, học đường cần tìm biện pháp chấn chỉnh, đưa tuổi trẻ vào nề nếp. Chúng ta không thể ham lo đời sống kinh tế rồi bỏ quên tuổi trẻ, thế hệ mai sau của tổ quốc. Do đó chúng ta hãy noi gương Đức Phật và Tôn giả Xá Lợi Phất đi sâu sát rèn luyện tuổi trẻ sớm nên người tốt trong xã hội.

Trên đây là nói về mặt chung của xã hội, còn mặt riêng trong giới tăng ni trẻ, chúng ta phải noi gương La Hầu La về mặt giới đức tu trì. Trong tuổi trẻ La Hầu La có đùa nghịch nhưng là đứa trẻ nghịch hồn nhiên, trong trắng, không bê tha ô nhiễm…

Bởi thế sau khi nghe giáo huấn của Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất, La Hầu La đã dễ dàng loại trừ những trò chơi trêu chọc nghịch ngợm và gia công trau dồi oai nghi tế hạnh, để chứng thánh quả. Các tăng ni trẻ nên khép mình trong khuôn khổ nhà chùa, tam thường bất túc, tu trì giới, định, tuệ để trở thành một tăng sĩ thật tài, có đức hữu ích cho giáo hội, cho dân tộc.

Có học có tu, có thực tài, có đức hạnh, vị thể của chúng ta trong giáo đoàn và ngoài xã hội mới vững, mới lâu dài. Người xưa có nói: “Hữu hoạn bất tài, hà hoạn vô vị” (chỉ sợ không tài, lo gì không có địa vị). Đối với cuộc đời, người có tài đức nếu vì một lý do nào đó không thành công thì cũng thành nhân”. Riêng tu sĩ vấn đề tiến tu đạo nghiệp là chính.

Tôn giả La Hầu La nhờ âm thầm bỏ công rèn luyện oai nghi tế hạnh nên đã trở thành vị Mật Hạnh Đệ Nhất ngay lúc tuổi còn trẻ. Trong công tác của giáo đoàn, dù không có những hoạt động sôi nổi như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, Ca Chiên Diên… nhưng đã chứng Thánh quả A La Hán, Mật Hạnh đệ nhất, La Hầu La đã có vị thế lâu dài trong hàng Thánh chúng Thập đại đệ tử của Đức Phật.

Trên đây là chân dung 10 đại đệ tử của Đức Phật. Hành trình hướng Phật và giác ngộ cảnh giới của 10 đại đệ tử này đã để lại cho chúng sinh biết bao bài học suy ngẫm. Số lương thiện, tu dưỡng đạo đức, phẩm hạnh sẽ làm cuộc sống của mỗi người thêm tốt đẹp, bớt khổ sai và tạo nghiệp cho kiếp sau.

Xem thêm:

Có nên tin vào tử vi không? Tử vi có đúng không?

120+ bài thơ phật giáo về cuộc sống. Thơ phật giáo cuộc sống hay và ý nghĩa